Vui mừng

5/5/2013 7:50:34 PM
Tuần 6 Phục Sinh - Ga 16, 20-23; Cv 18, 9-18

Một lần nữa, Thánh Gioan lại cho thấy hai thái cực đối nghịch nhau: “Thế gian này sẽ vui mừng.... còn chúng con sẽ lo buồn.... Nhưng sự lo buồn của chúng con sẽ trở nên vui mừng, và niềm vui của chúng con không ai có thể cướp đi được”. Một điều lạ là sự vui mừng của thế gian có thể biến thành sự đau khổ, nhưng thế gian lại không thể biến đau khổ thành vui mừng, trong khi những người tin theo Chúa có thể biến đau khổ thành vui mừng và niềm vui này tồn tại mãi. Tại sao các Tông Đồ phải lo buồn và vì sao lại vui mừng? Đó là ý tưởng chúng ta suy ngắm ngày hôm nay.

Sự lo buồn nơi các Tông Đồ thật dễ hiểu vì đây là tâm trạng tự nhiên của con người khi phải xa cách người mình yêu mến. Được ở với Chúa Giêsu trong ba năm liền, được chứng kiến quyền năng của Chúa trong lời rao giảng và các phép lạ, và nhất là được thấy tận mắt sự nhân từ của Chúa, các Tông Đồ cảm thấy kính trọng và yêu mến Chúa một cách sâu xa. Vì thế, khi biết rằng sắp phải lìa xa Chúa, người mình kính yêu, các Tông Đồ hết sức lo buồn và cảm thấy thật cô đơn. Chúa Giêsu hiểu rõ tâm trạng của các môn đệ. Vì thế, Ngài nói về Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi sẽ được ban cho các ông. Chính Chúa Thánh Thần sẽ đến dạy dỗ, nâng đỡ và sẽ biến niềm lo buồn, cô đơn của các ông thành niềm vui trọn vẹn, vì lúc đó các ông sẽ ý thức được Chúa hiện diện với các ông mọi ngày cho đến tận thế như lời Chúa hứa.  

Thánh Tôma tiến sĩ giải thích lo buồn như sau: “Người ta lo buồn, cô đơn vì họ kiêu ngạo”. Thật vậy, người kiêu ngạo, dù là kiêu ngạo về vật chất hay tinh thần, không bao giờ có được niềm vui, vì họ luôn lo sợ người khác hơn mình. Nếu đó là một người kiêu ngạo “dởm”, không có thực chất, thì lại càng lo lắng hơn vì sợ sẽ bị người khác phanh phui sự thật về mình ra. Điều này đưa đến một hệ luận khác là người kiêu ngạo luôn cảm thấy cô đơn, vì họ không thể hòa hợp với anh em, với người chung quanh. Người kiêu ngạo lên lớp, chỉ trích tất cả mọi người. Và ngược lại, cũng chẳng có ai thích sống gần gũi với người kiêu ngạo. Kẻ cô đơn vì kiêu ngạo được ví như cái chai đã đậy nút rồi quẳng xuống sông. Nó sẽ nổi lềnh bềnh một mình trên mặt nước. Vậy làm thế nào để tránh sự cô đơn? Thánh Tôma đưa ra ba nguyên tắc căn bản sau đây:


Trước hết, hãy nhận biết mình là kẻ yếu đuối. Thứ hai, phải nhận thấy nếu mình hơn được anh em điều gì là nhờ có ơn Chúa giúp, và nếu người anh em được ơn Chúa như mình, thì sẽ thánh thiện hơn mình. Thứ ba, phải nhận ra nếu mình chỉ có ơn Chúa bằng người anh em, thì mình sẽ tội lỗi hơn họ. Nhận biết mình yếu đuối và ý thức tất cả những gì mình có được là do Chúa thương ban, sẽ giúp chúng ta biết sống khiêm nhường thật sự và kính trọng những người chung quanh. Như thế, chúng ta sẽ sống hòa hợp với mọi người và không cảm thấy cô đơn. Với những suy nghĩ trên đây, chúng ta có thể rút ra được ba công thức:

- Nếu chỉ có tôi không thôi thì sẽ có thêm tội lỗi.

- Nếu tôi với người anh em thì sẽ có kiêu ngạo và cô đơn.

- Nếu tôi với người anh em cộng với hình ảnh của Chúa thì sẽ có sự vui mừng.


Một khi sống yêu mến anh em, nhờ nhận ra hình ảnh Chúa trong họ, chúng ta sẽ sống trong niềm vui và sự vui mừng này không ai có thể lấy đi được, vì có Chúa ở với chúng ta, như lời Chúa quả quyết trong bài Phúc Âm hôm nay: “Khi gặp lại Thầy, chúng con sẽ vui mừng và sự vui mừng này không ai có thể cất đi được”.


Có Chúa, chúng ta sẽ được niềm vui trọn vẹn. Chắc chắn cuộc sống, nhất là đời sống cộng đoàn, luôn có những khó khăn, thách đố. Muốn cho cuộc sống của cộng đoàn ở chủng viện luôn được thoải mái, vui vẻ, mỗi người chúng con cần phải sống khiêm nhường và nhận ra hình ảnh Chúa nơi người anh em. Ngày Lễ Chúa Thánh Thần gần đến, chúng ta cầu xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta biết học và sống nhân đức khiêm nhường, như Chúa là Đấng hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, để chủng viện chúng ta thật sự trở thành nhà của Chúa. Amen.

 

ĐHY F.X Nguyễn Văn Thuận

Thứ sáu 10-05-1991

 

Tinh thần phụng vụ thánh lễ

Bài huấn đức tối 10-05-1991

 

Chiều nay, Cha muốn dùng buổi nói chuyện để giúp chúng con hiểu và sống tinh thần của phụng vụ thánh lễ. Mỗi ngày, chúng ta đều tham dự thánh lễ. Nếu chúng ta ý thức và hiểu được ý nghĩa cách sắp xếp cũng như những nghi thức trong thánh lễ, chúng ta sẽ tham dự một cách sốt sắng và được nhiều ơn ích hơn.


Một cách tổng quát, thánh lễ gồm hai phần: phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể. Hai phần này liên kết chặt chẽ với nhau. Ngoài ra còn có những nghi thức mở đầu và kết thúc thánh lễ. 


Trong phần mở đầu thánh lễ, có nghi thức sám hối, mà chúng ta thường gọi là phần cáo mình. Phần này có thể được thay thế bằng kinh “Lạy Chúa, xin thương xót...” nhằm mời gọi chúng ta dọn mình, thú tội để được dâng thánh lễ một cách sốt sắng. Cũng có thể phân công mấy người nói lên lòng xám hối của mình trước khi đọc kinh cáo mình. Sau đó có Kinh Vinh Danh, để tôn vinh Ba Ngôi Thiên Chúa. Kinh này được dùng trong các Chúa Nhật ngoài Mùa Vọng và Mùa Chay, trong các lễ trọng và lễ kính, cũng như trong những dịp lễ đặc biệt. Và kết thúc bằng lời nguyện nhập lễ. Thông thường, linh mục mời giáo dân cầu nguyện và tất cả cùng thinh lặng trong giây lát, để ý thức mình đang ở trước mặt Chúa.


Phần Phụng vụ Lời Chúa: Gồm Bài Đọc Một lấy từ Cựu Ước hoặc Tân Ước, tiếp đến là bài Thánh Vịnh Đáp Ca, dựa theo ý của Bài Đọc Một, rồi Bài Đọc Hai chỉ có trong thánh lễ ngày Chúa Nhật hay lễ trọng, được lấy từ Tân Ước; bài Alleluia và câu tung hô trước bài Tin Mừng. Và cuối cùng là bài Tin Mừng được lấy từ bốn cuốn Phúc Âm. Sau bài Phúc Âm là phần diễn giải. Nói cách vắn gọn là phần giảng. Phần này được khuyến khích vì cần thiết để nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của giáo dân. Riêng ngày Chúa Nhật và lễ buộc, trừ khi có lý do quan trọng, phần giảng này phải được thi hành. Thường chính linh mục chủ tế phải giảng dựa theo bài Phúc Âm và bài đọc của ngày lễ, hoặc chọn một đề tài nào đó theo ý lễ ngày hôm đó. Ví dụ: lễ cầu hồn, lễ hôn phối, bổn mạng giáo xứ... Thời Cha ở Nha trang, có Cố Chính địa phận rất lo lắng về việc giảng lễ vì Ngài không thạo tiếng Việt. Vì thế, một Cố khác giỏi tiếng Việt soạn sẵn toàn bộ bài giảng trong năm cho Cố Chính và các Cố Tây khác. Chuyện xảy ra là các Cố sợ giảng sót bài, nên cứ theo thứ tự giảng hết các bài đã dọn sẵn trong năm. Nên có khi đến Noel rồi mà có Cố vẫn còn giảng về hôn phối, vì tập bài giảng soạn sẵn cho một năm mới đến chỗ đó. Giáo dân nơi khác đến nghe Cố giảng trật lất như vậy không thể nín cười được.


Trong những nhóm nhỏ, để giúp hiểu và sống Lời Chúa một cách sâu sắc hơn, sau bài Phúc Âm, linh mục chủ tế dành thì giờ để mọi người chia sẻ Phúc Âm thay vì giảng. Có thể bài Phúc Âm này đã được gợi ý trước cho nhóm, để mọi người có thì giờ suy nghĩ và sống Lời Chúa thật sự. Chia sẻ không phải là giảng cho người khác, nhưng thuật lại với anh em chính kinh nghiệm sống Lời Chúa của mình một cách khiêm tốn và yêu thương. Chia sẻ Phúc Âm rất có lợi vì mọi người đều cảm thấy Lời Chúa thật sự đánh động và sinh ích cho mình. Khi nào có dịp Cha sẽ nói rõ hơn về vấn đề này.


Trong thánh lễ ngày Chúa Nhật và lễ trọng, sau bài giảng, tất cả mọi người đọc Kinh Tin Kính để nhắc nhở niềm tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi và Giáo Hội trước khi cử hành phụng vụ Thánh Thể. Có một Đức Cha hay giảng dài, và khi đã giảng thì không thể dừng lại được. Vào những dịp lễ lớn của địa phận, các cha về dự lễ rất ngại vì nghe Đức Cha giảng lâu quá. Cũng không ai dám nói thẳng với Đức Cha. Cuối cùng, các cha mới nghĩ ra một cách là đợi gần cuối bài giảng, khi Đức Cha dừng lại để lấy hơi giảng tiếp, tất cả các cha cùng đứng dậy bắt đọc Kinh Tin Kính luôn.


Và phần phụng vụ Lời Chúa được kết thúc bằng lời nguyện giáo dân. Lời nguyện này không phải là lời nguyện trực tiếp dâng lên Chúa, nhưng chỉ là những gợi ý được nêu lên để mời gọi tất cả mọi người cùng cầu theo ý nguyện đó. Lời nguyện được soạn tùy theo ý của ngày lễ, nhưng luôn có những gợi ý cầu nguyện cho Đức Thánh Cha, cho Giáo Hội, cho thế giới và chính cộng đoàn tham dự. Vì là lời cầu gợi ý, nên cuối mỗi lời cầu, thường có câu xướng: “Chúng ta hãy cầu nguyện” hoặc “Chúng ta hãy cầu xin Chúa”. Và mọi người đáp lại: “Xin Chúa nhận lời chúng con”.


Chúng con thấy một vài nơi áp dụng “Cầu nguyện tự phát” thay cho phần “Lời nguyện giáo dân”. Đây là một điều hay vì như vậy lời cầu sẽ cụ thể và thiết tha hơn. Nhưng cũng dễ xảy ra những lạm dụng và làm cho thánh lễ kéo dài quá. Thực tế cho thấy, lời cầu tự phát chỉ nến áp dụng trong thánh lễ của những nhóm nhỏ đã được chuẩn bị. Còn trong thánh lễ có giáo dân, nên dùng những lời nguyện đã được dọn sẵn trong sách phụng vụ, hoặc do những người có trách nhiệm và trình độ chuẩn bị trước vì nếu để tự do lời cầu nguyện tự phát cũng có thể rất nguy hiểm. Ví dụ: một ông trùm tự phát cầu nguyện như sau: “Lạy Chúa, xin cho cha xứ của chúng con biết sống hòa thuận, vì ngài chửi mắng và đánh đập giáo dân luôn”. Như vậy thì cả giáo xứ sẽ khốn khổ với cha xứ đó. Hay câu chuyện Bề Trên Cả đi kinh lý sau đây. Một vị Bề Trên Cả đến kinh lý một nhà dòng nọ. Ngài muốn biết tất cả sự thật trong nhà dòng. Nhưng Bề Trên nhà dòng đó đã cấm tất cả mọi người trong nhà không được thưa bẩm điều gì với Bề Trên Cả. Một tuần lễ trôi qua, Bề Trên Cả cũng cảm thấy lạ vì không thấy ai nêu vấn đề gì. Không lý cộng đoàn này đã sống như trên Thiên Đàng rồi. Hôm lễ cuối cùng, một linh mục trong nhà dòng làm chủ tế. Đến phần Kinh Tiền Tụng, thay vì đọc như trong sách lễ: “Lạy Chúa, là Cha Chí thánh...” thì ngài hát cho thêm phần long trọng với những lời sau đây: “Bề Trên Cả đã đến với chúng con hơn một tuần nay, nhưng Bề Trên chúng con cấm không được nói gì cùng Bề Trên Cả. Nên chúng con không dám thưa bẩm điều gì. Xin Bề Trên Cả thông cảm cho chúng con... Nhờ Đức Giêsu Kitô... Vì thế, hiệp cùng với các thiên thần...”. Nghe lời Kinh Tiền Tụng tự phát đó, Bề Trên Cả hiểu được lý do thinh lặng của mọi người trong cả tuần nay và sau đó khám phá ra sự thật trong nhà dòng.


Chuyện tự phát có lợi thật nhưng đôi khi cũng dở khóc dở cười. Người ta kể lại một chuyện của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II thời còn làm Hồng Y như sau. Hôm dự lễ an táng Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô I, đến phần lời nguyện, Ngài nhắc vị Giám Mục đứng bên cạnh: “Đức Cha nhớ cầu xin cho Hội Thánh và cho Hội Nghị bầu Giáo Hoàng...” Đến khi đọc, vị Giám Mục ấy đọc như sau: “Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa cho Đức Hồng Y Karol Joseph Woityla làm Giáo Hoàng”. Đức Hồng Y lúc đó vội bảo: “Đừng nói thế!”. Nhưng lần nữa vị ấy lại đọc: “Lạy Chúa, chúng con tha thiết cầu xin cho Đức Hồng Y Karol J. Woityla...” Lúc đó Đức Hồng Y bảo: “Thật là nói dại”. Nhưng chậm mất rồi! Cũng vậy, nếu cha xứ để cho giáo dân cầu nguyện tự phát, thì nhiều lúc bịt miệng họ không kịp và sẽ làm mất lòng nhiều người, hỏng nhiều việc chung.


Phần phụng vụ Thánh Thể bắt đầu bằng việc chuẩn bị lễ vật: bánh, rượu, nước. Cũng được nhận tiền bạc hay các phẩm vật khác trong phần chuẩn bị này, để giúp người nghèo hay nhà thờ. Trong những dịp lễ trọng, có nghi thức xông hương để nói lên lễ vật và lời cầu của Hội Thánh như hương trầm bay lên trước nhan Chúa. Rồi đến nghi thức rửa tay như là một biểu lộ lòng ước ao được thanh tẩy trong tâm hồn. Sau đó là Kinh Tạ Ơn, còn gọi là Kinh Tiền Tụng, được kết thúc bằng lời tung hô: “Thánh, Thánh, Thánh”, nói lên tâm tình cảm tạ của toàn dân Chúa về công trình cứu chuộc hoặc những lý do đặc biệt tùy ý lễ và mùa phụng vụ. Tiếp đến là phần tường thuật việc lập Bí Tích Thánh Thể và quan trọng hơn cả là lời truyền phép, biến bánh và rượu trở thành Mình và Máu Chúa Kitô. Sau lời truyền phép, linh mục chủ tế nhân danh cộng đoàn Dân Chúa, nhắc lại việc tưởng niệm biến cố khổ hình sinh ơn cứu độ cũng như sự sống lại vinh hiển và lên trời của Chúa Giêsu. Vị chủ tế cũng dâng lên Thiên Chúa tất cả mọi người hiện diện và cuối cùng xin Chúa đoái thương nhìn đến tất cả nhu cầu của Hội Thánh, cũng như của mọi chi thể còn sống cũng như đã qua đời.


Nghi thức Hiệp Lễ được bắt đầu bằng Kinh Lạy Cha như muốn bày tỏ lòng phó thác vào tình thương quan phòng của Chúa. Xin được cơm bánh hằng ngày, vật chất cũng như thiêng liêng là Thánh Thể, và xin cho được khỏi mọi sự dữ, để luôn sống trong tình nghĩa với Chúa và với anh em, đặc biệt qua nghi thức “Chúc bình an” sau đó. Nghi thức này tùy Hội Đồng Giám Mục mỗi nơi ấn định, phù hợp với văn hóa và phong tục của dân tộc.


Kinh “Lạy Chiên Thiên Chúa” được mọi người tham dự cùng đọc hoặc hát, nói lên tâm tình tin yêu và cầu xin được mọi sự lành. Tiếp đến linh mục đưa cao Thánh Thể và mời gọi giáo dân hãy đến dự tiệc của Đức Kitô. Mọi người được khuyến khích rước cả Mình và Máu của Chúa. Và sau đó có thời gian thinh lặng để mọi người cầu nguyện riêng với Chúa đang ở trong tâm hồn.


Cuối cùng là nghi thức kết thúc với lời chào và ban phép lành của linh mục. Và cộng đoàn giải tán, trở về với sinh hoạt thường ngày trong tâm tình ngợi khen và chúc tụng Thiên Chúa.


Cha chỉ trình bày một cách vắn tắt những điểm chính của phụng vụ thánh lễ, để giúp chúng con nắm vững ý nghĩa của những phần chính, nhờ đó có thể tham dự thánh lễ một cách ý thức hơn, vì thánh lễ là trung tâm điểm của đời sống Kitô Hữu. Khi học môn phụng vụ, chúng con sẽ có dịp đào sâu hơn những ý nghĩa của các phần và những nghi thức này. Điều Cha muốn nói là khi tham dự thánh lễ, chúng con cố gắng chú tâm theo dõi và đóng góp phần mình một cách ý thức, chứ đừng làm vì thói quen. Hành động bái gối hay cúi đầu, làm dấu Thánh Giá, chúc bình an, hoặc xướng đáp hay ca hát... nếu chúng con làm một cách ý thức, sẽ giúp chúng con sống trong tình hiệp thông với Chúa và Giáo Hội và cảm nghiệm được sự cao quý của thánh lễ. Người ta đưa ra câu hỏi: “Trong giáo xứ, ai là người bái gối kém nhất?” Câu trả lời là: “Trước nhất là ông từ, đến chú giúp lễ, rồi tới cha xứ”. Vì những người này không còn bái gối một cách ý thức nữa. Thật nguy hiểm!


Cha mong ước tất cả chúng con luôn tham dự thánh lễ một cách ý thức, để ơn của thánh lễ chúng con nhận được mỗi ngày, sẽ làm cho cuộc sống chúng con tràn đầy niềm vui và hy vọng.

Lên đầu trang