Trái cây trong Kinh Thánh

2/10/2020 11:32:19 AM
Hạt và trái cây vẫn luôn là những khám phá thú vị đối với các nhà khảo cổ. Chúng không chỉ cung cấp những manh mối về nền nông nghiệp và chế độ ăn uống cổ xưa mà còn tiết lộ những dữ liệu cácbon phóng xạ (radiocarbon) giúp xác định niên đại của địa tầng được đào bới.

joshua-and-caleb-carrying-grapes.jpg
Giosua và Caleb mang nho từ Đất hứa về
(Tranh thế kỷ XVIII)

Trái cây cũng đóng một vai trò quan trọng trong Kinh Thánh. Trong Sáng Thế Ký chương 3,  nếu bà Eva không ăn trái cấm thì câu chuyện vườn Eđen đã khác đi nhiều. Chúng ta biết gì về những cách sáng tạo mà người Do Thái sử dụng trái cây trong những bản văn và văn hóa của họ?

 

Cựu Ước đề cập đến 6 loại trái cây mà nhiều loại xuất hiện đến hơn cả chục lần:

 

 1. Nho (גפן)

2. Vả (תאנה)

3. Ôliu (זית)

4. Lựu (רמון)

5. Chà là (תמר)

6. Táo (תפוח)

 

Sáu loại trái cây này được dùng tám cách khác nhau trong Kinh Thánh. Trước hết, nhiều người được gọi tên theo trái cây, chẳng hạn tên bà Tama trong Stk 38, 6 có nghĩa là “Chà là”, Táppuác trong I Sử Biên Niên 2,43 có nghĩa là “Táo”,  Rimmôn trong  2 Samuen 4,2 có nghĩa là “Lựu”.

 

Thứ hai, trái cây cũng là tên gọi của nhiều tỉnh thành, chẳng hạn Anáp trong Giosuê 1121 có nghĩa là “Nho”, Rimmôn (Lựu) trong Giosuê 15,32 và Táppuác (Táo) trong Giosuê 12,17.

 

 Thứ ba, hình ảnh trái cây được dùng để trang trí, chẳng hạn chỉ đỏ tía, chỉ điều, chỉ đỏ thắm xen kẻ với những quả lựu trong phẩm phục tư tế của Aharon (Xh 28,33-34) và những cây chà là được khắc trên tường Đền thờ vua Salômôn xây dựng  (1 V 6,29).

 

 Thứ tư, trái cây là đối tượng của Lề luật, chẳng hạn theo sách Dân số 6,3 thì một “nadia” sẽ không ăn hay uống các sản phẩm của nho, hay Đệ Nhị Luật 24,20 nói rằng chỉ hái trái cây ôliu một lần (để những trái ôliu còn lại cho người nghèo).

 

 Thứ năm, trái cây được sử dụng trong một số ẩn dụ và so sánh chẳng hạn như “hơi thở em thoang thoảng mùi táo thơm” trong Diễm ca 7,9 hay “Ta đã gặp được Ítraen, khác nào chùm nho trong sa mạc” trong Hôsê 9,10.

 

 Thứ sáu, trái cây xuất hiện trong những lời nguyền hay chúc phúc chẳng hạn như “sẽ có những cây ôliu trên toàn lãnh thổ anh (em), nhưng không có dầu mà xức, vì trái ôliu của anh (em) sẽ rụng” trong Đệ Nhị Luật 28,40 and “Irael là miền đất được chúc phúc có lúa mì, lúa mạch, cây nho, cây vả, cây lựu, miền đất có cây ôliu để ép dầu và có mật ong” trong Đệ Nhị Luật 8,8.

 

 Thứ bảy, trái cây được sử dụng có tính giáo dục trong các ngạn ngữ như “Giữ cây vả thì được ăn trái vả, bảo vệ thầy ắt sẽ được kính yêu” trong Châm Ngôn 27,18 và “Đời cha ăn nho xanh, đời con phải ê răng” trong Êdêkien 18,2.

 

 Thứ tám, và có lẽ là hiển nhiên nhất, trái cây xuất hiện như là đối tượng trong các trình thuật như sách Dân Số 13,23 khi những trinh sát của ông Môisê do thám những loại cây trái như nho, lựu và trái vả của miền đất hứa hay trong Sáng Thế Ký chương 3 bà Eva đã ăn trái cấm và bị đuổi khỏi vườn Eđen.

 

 Trong khi tám thể loại sử dụng này không cứng nhắc cũng không loại trừ nhau, chúng minh họa cho cách xử lý đa dạng về các loại trái cây trong Cựu Ước. Trái cây còn hơn là một loại lương thực đối với người Israel cổ. Nó là biểu tượng xuất hiện nổi bật trong các tên gọi, luật lệ, châm ngôn và truyền thống của nền văn hóa.

 

 Khi các nhà khảo cổ khám phá các hạt giống trái cây, họ tìm thấy nhiều hơn là những dữ liệu cácbon phóng xạ. Các trình thuật Kinh Thánh cung cấp ý nghĩa xã hội và biểu tượng của những thực phẩm quan trọng này, nhắc nhở các nhà khảo cổ rằng có nhiều điều hơn là một hạt cây trái đơn thuần xuất hiện dưới mắt họ.

 

David Z. Moster PhD,

Brooklyn College

 

Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ

 (gpquinhon.org 31.01.2020)

Lên đầu trang