Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes - tới Kinh Tin Kính thời Philiphê Bỉnh - vài nhận xét thêm (phần 26C)

2/18/2022 10:46:53 PM
Phần này tiếp theo loạt bài “Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes” về các Kinh Lạy Cha và Kinh A Ve (đánh số 5 và 26). Bài này chú trọng đến các dạng chữ Nôm trong bản Kinh Tin Kính (KTK) của LM Philiphê Bỉnh, đặc biệt là từ tài liệu của các LM de Rhodes và Maiorica, và cũng so sánh với các dạng chữ quốc ngữ trong tài liệu chép tay của cụ Bỉnh.

Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang books.google.frCác chữ viết tắt khác là Nguyễn Cung Thông (NCT), Hán Việt (HV), Việt Nam (VN), KTK (Kinh Tin Kính), LM (Linh Mục), CG (Công Giáo), PG (Phật Giáo), P (tiếng Pháp), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông (TCTGKM), TCTM (Thiên Chúa Thánh Mẫu), Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ (TGYLQN). Một điểm quan trọng nên ghi lại đây là VBL và PGTN tuy không có viết toàn văn KTK nhưng lại có nhiều phần hay chữ dùng trong kinh này như tôi tin kính deos cha (VBL trang 798), thửa (VBL trang 781), chưng thì quan (VBL trang 122), thông công, đồng thân, đồng trinh (VBL), Ecclesia Catholica Apostolica (PGTN trang 312), phán xét kẻ sống và kẻ chết (VBL, PGTN) …v.v…

1. Kinh Tin Kính bằng chữ Nôm (Philiphê Bỉnh)

tieng-Viet-01.jpg
 PGTN trang 133

Thời LM de Rhodes thì gọi là Kinh mười hai đầy tớ cả (PGTN trang 133 - xem hình chụp bên trên), đây là một cách dịch trực tiếp từ tiếng La Tinh Symbolum Apostolicum: symbolum là biểu tượng, hình thức đặc biệt thể hiện lòng tin của Ki Tô hữu, Apostolicum là từ 12 tông đồ của chúa Giê Su - còn gọi là đầy tớ cả (VBL trang 818, mục tớ). Trang sau chụp lại bản Kinh Tin Kính bằng chữ Nôm trong tài liệu chép tay của LM Philiphê Bỉnh - mã số Borg.tonch.18 trong thư viện Tòa Thánh La Mã. Nội dung bản kinh này dịch ra chữ quốc ngữ/NCT: Tôi tin kính Deo cha hay trọn vậy o dựng nên trời đất o tôi tin kính một con Deo cha o Giê Su Khi Ri Xi Tô o Chúa chúng tôi o tôi tin có phép Phi Ri Rô San Tô o thánh Ma Ri A chịu thai o mà sinh đẻ đồng trinh o tôi tin thửa chịu nạn o chưng thì quan o Phong Xi Ô Phi La Tô o đóng đinh gác câu rút o chết mà bèn lấp o tôi tin thửa xuống địa ngục o ngày thứ ba o bởi trong kẻ chết lại sống o tôi tin thửa lên trời o ngự bên hữu Deo cha hay trọn vậy o tôi tin thửa ngày sau o bởi trời lại xuống o phán xét kẻ sống và kẻ chết o tôi tin Phi Ri Tô San Tô o tôi tin có San Tô o Y Ghê Ri Gia o Ca Tô Li Ca o các thánh cùng thông công o tôi tin chưng tha tội o tôi tin chưng loài người lại sống o tôi tin hằng sống vậy o A Men o

tieng-Viet-02.jpg
KTK (Philiphê Bỉnh)

Các chữ Nôm đọc từ cột thứ nhất từ bên phải của bản kinh Nôm

 kinh (cũng là âm HV)

 tin (âm HV là tín)

 kính (cũng là âm HV).  tieng-Viet-03.jpg Kinh Tin Kính - Halario de Jesu/Sách Các Phép

o

 tôi - âm HV là toái, có lúc dùng bộ nhân thay vì bộ thạch: td. Truyện Chúa Thao, Ca Trù

 tin (âm HV là tín)

 kính (cũng là âm HV). Tin kính là động từ kép thường gặp vào thời LM de Rhodes, td. "hai chị em Magdalena và Martha, mà thấy phép đức Chúa Jesu làm, thì tin kính đức Chúa Jesu" PGTN trang 204.

 dêu (diêu là âm HV) - đây là một dạng kí âm của tiếng La Tinh hay Bồ Đào Nha deus hàm ý chúa trời (thượng đế). Maiorica cũng dùng dạng này, Béhaine (1772/1773) dùng bộ thủ hợp với chữ đao/dao 扌刀 và diêu HV , nhưng Taberd (1838) chỉ dùng chữ diêu HV . Khuynh hướng biến âm đ - d cho ta liên hệ diêu - dêu – đêu.  Cách dùng chúa Dêu cho thấy KKM của LM Philiphê Bỉnh ở Đàng Ngoài còn bảo lưu những cách dùng cổ hơn (kí âm trực tiếp) so với các bản KKM ở Đàng Trong (dùng Chúa Trời). LM Philiphê Bỉnh ghi là Deo (viết hoa chữ d) cũng như LM Halario de Jesu trong Sách Các Phép ở Đàng Ngoài. Câu đầu tiên của Kinh Tin Kính được VBL ghi trong mục tin - xem hình chụp bên dưới - và PGTN giải thích thêm trong các trang 307 và 308 "... một đức Chúa trời thật có phép vô cùng, hóa nên trời đất". Để ý là một số cách dùng trong bảng chữ Nôm KTK cũng được VBL và PGTN ghi nhận, đây cũng là một cách kiểm tra cách đọc chữ Nôm thêm phần chính xác.

tieng-Viet-04.jpg
VBL trang 798

Một chi tiết đặc biệt là khi dùng danh từ chỉ Đức Chúa Trời (~ thượng đế), LM de Rhodes có thể dùng các dạng khác nhau như Deus (La Tinh), Dio/Deh (Ý), Deu/Dieu (Pháp) nhưng lại dùng dạng Bồ Đào Nha là Deos và viết hoa. Điều này phản ánh ảnh hưởng sâu đậm của tiếng Bồ Đào Nha[1] trong quá trình soạn và dùng chữ quốc ngữ trong các tài liệu như VBL và PGTN. PGTN trang 58 lại dùng dạng Deus và giải thích thêm "Mà tính thiêng liêng vô cùng này gọi là Chúa Deus, thật là đức Chúa trời (blời) - cæli Dominus/L". Deos là tiếng Bồ trung cổ so với Deus, có gốc La Tinh và có thể ảnh hưởng đến cách viết Deo của các LM Philiphê Bỉnh và Halario de Jesu (so với dạng Dêu ở Đàng Trong theo LM Béhaine/Taberd).

 cha - âm HV là tra (陟加切 trắc gia thiết TV) hay trá (陟嫁切 trắc giá thiết TVGT/ĐV). Chữ này khá thông dụng trong các bản Nôm cổ như Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh, Cư Trần Lạc Đạo phú, Quốc Âm Thi Tập ... Câu đầu "Tôi tin kính Deo Cha" là dịch từ KTK La Tinh “Credo in Deum Patrem” (xem trang 798 VBL chụp bên trên).

 hay - hai là âm HV: 呼來切 hô lai thiết (TVGT, ĐV/QV, TV, VH, CV) cũng là âm HV và thai 湯來切 thang lai thiết (TVi). Có thể đọc  là hai (số 2) qua tương quan th - h như tham - ham, thúi - hôi, thai – hai …v.v…

 trọn - âm HV là luận, có thể đọc blọn (VBL, PGTN, Philiphê Bỉnh) hay là lọn (Đàng Ngoài). PGTN thường đề cập đến ĐCT như rất trọn, trọn vô cùng (td. trang 315). Hay trọn có thể là một cách dịch từ tiếng La Tinh omnipotēns hàm ý có khả năng (hay) hơn tất cả (trọn); omnipotēns = omnis (bao trùm, hơn tất cả) + potēns (giỏi, hay). Hán văn dịch là toàn năng 全能. TCTGKM để một trang giải thích tính từ hay trọn ("là phép vô cùng", trang 29-30) và bản KTK (Nordemann, 1898 - xem Phụ Trương 1) dùng hay lọn. Các bản Nôm thường dịch là có phép vô cùng hay phép tắc vô cùng, cũng như trong PGTN trang 37 "Thật có ai làm nên mọi sự ấy, mà có phép tắc vô cùng, thì mới lấy được không mà hóa ra thế giới này".

 vậy (âm HV là phi).

tieng-Viet-05.jpg

Bản chép tay/LM Josepho Morrone mục trọn (blọn), cùng lặp lại câu "Đức Chúa Blời (~ Deo cha) hay trọn vậy" trong mục hay.

o

 dựng - cũng là âm HV nhưng nghĩa khác hơn (nghĩa HV là có thai).

𢧚 nên: gồm chữ niên HV  (biểu âm) hợp với chữ thành HV  (biểu ý). Các bản Nôm KTK Đàng Trong dùng niên HV .

𡗶 trời viết nhanh (theo thảo thư TQ?) - Philiphê Bỉnh ghi là blời. Đàng Trong viết là trời.

 đất - âm HV là thản (*đản - đất[2]) - liên hệ của phụ âm cuối -n  -t rất đáng chú ý nhưng không phải trọng tâm của bài viết này.

o

 tôi - âm HV là toái.

 tin (âm HV là tín)

 kính (cũng là âm HV)

 một cũng là âm HV nhưng nghĩa khác (~ chìm đắm).

 con (côn là âm HV có phạm trù nghĩa liên hệ). Tương quan nguyên âm ô - o như độc - đọc, lô – lò … "Một con" là con một trong tiếng Việt hiện đại, dịch từ KTK La Tinh "Filium Eius unicum". Để ý thứ tự chữ ngược trong bản KTK này như "một con" (~ con một), "lại sống" (~ sống lại, xuất hiện 2 lần).

 deo/dêu (diêu là âm HV) - đây là một dạng kí âm của tiếng La Tinh hay Bồ Đào Nha deus hàm ý chúa trời (thượng đế).

 cha - âm HV là tra.

o

 giê/chi là âm HV, nhưng nên đọc là giê hay gi/je gần với dạng được kí âm hơn (Jesu) - để ý tương quan  chi - gì,  chỉ - giấy, chi - gi ... Đàng Trong (Béhaine/Taberd) dùng chữ Nôm với bộ trúc  hợp với chữ chi , có lẽ nhấn mạnh cách đọc chỉ giống (gần) âm chi mà thôi - xem chữ su bên dưới. Thời LM Maiorica dùng các dạng HV   .

 su/thu là âm HV, nhưng nên đọc là su vì gần với dạng được kí âm (Jesu), và vì phụ âm s/x- chưa hoàn toàn chuyển thành phụ âm tắc đầu lưỡi th- vào TK 17/18 - xem thêm trường hợp sở ruộng, sở đất (ĐNQATV) so với thửa ruộng, thửa đất trong mục thửa bên dưới. Đàng Trong (Béhaine/Taberd) dùng chữ Nôm[3]  với bộ trúc  hợp với chữ chu . Sách Các Phép (LM Halario de Jesu, TK 18 Đàng Ngoài) ghi rõ cách đọc là Jesu (cột tiếng Việt/chữ quốc ngữ):

tieng-Viet-06.jpg
Ba cột trong hình từ trái sang phải: chữ quốc ngữ, Nôm và La Tinh

Nên nhắc lại ở đây là vào thời VBL phụ âm xát chưa hoàn toàn đổi qua âm tắc như cách đọc vi sang/vi thang, lơ xơ/lơ thơ, Thuận (Thŏận) Hóa/Sinua (~ kẻ Hóa), xuy (thổi - xuy ), nguyệt sa (sa - sai  sau này đọc là thoa), cũng giống như cách đọc su thay vì thu.

tieng-Viet-07.jpg

 ki hay chi (cơ là âm HV). Đàng Trong (Béhaine, Taberd) dùng chữ khi HV . Các bản Nôm Maiorica dùng chữ cơ HC ghép với chữ đa HV  - xem thêm mục tô bên dưới

tieng-Viet-08.jpg

Kiểu viết chữ ki trong bản Nôm của Philiphê Bỉnh so với vài dạng viết nhanh của (A水島修三 Thủy Đảo Tu Tam (B李建中 Lí Kiến Trung (C敬世江 Kính Thế Giang …

 ri (âm HV là di, di ~ ri là phương ngữ miền duyên hải Bắc Bộ theo BBC - Đàng Ngoài). Đàng Trong (xem hình chụp bên dưới) không có vấn đề đọc phụ âm r và l.

tieng-Viet-09.jpg
Béhaine (1772/1773) - Taberd (1838) trong cách ghi Ma Ri A

 xi - âm HV là xuy

 tô (cũng là âm HV) - kí âm của tiếng Bồ Cristo (so với tiếng La Tinh Christus) chỉ chúa Giê Su - người thay mặt cho Đức Chúa Trời (Messiah, Chúa cứu thế). So sánh cách đọc Cristo từ Sách Các Phép (LM Halario de Jesu) với các dạng khi và chi của chữ cơ HV. "Giê Su Ki Ri Xi Tô" là dịch từ KTK La Tinh "Iesum Christum" nhưng lại chịu ảnh hưởng tiếng Bồ Jesus Cristo.

tieng-Viet-10.jpg tieng-Viet-11.jpg

o

 chúa (chủ/chú là âm HV)

 chúng (cũng là âm HV)

 tôi - âm HV là toái

o

 tôi - âm HV là toái

 tin (âm HV là tín)

 có - cố là âm HV qua tương quan ô - o như độc - đọc, thố - thỏ, lô - lò, bộ - pho ... Bản KTK của Edmont Nordemann trong Quảng Tập Viêm Văn (1898) dùng chữ nhân thay vì chữ có: đây cũng là cách dùng trong TCTGKM (Maiorica):"nhân phép Phi Ri Tô San Tô thánh Ma Ri A chịu thai" (trang 36, sđd), nhân viết là . Đàng Trong (Béhaine, Taberd) dùng chữ bởi hay bãi HV  - xem thêm chú thích về chữ nhân trong bản KTK của Nordemann ở Phụ Trương 1.

 phép - âm HV là pháp, tương quan a - e như hạ - hè, trà - chè, ma - mè (vừng) ...

 phi (cũng là âm HV)

 ri (âm HV là di)

 tô (cũng là âm HV) - các bản Nôm Béhaine B/Taberd dùng dạng tô 

 san - Đàng Trong đã có dạng sơn so với san[4] của Đàng Ngoài - có lẽ đây là một nguyên nhân các bản KKM chữ Nôm Đàng Trong không thấy dùng dạng san .

 tô (cũng là âm HV) - các bản Nôm Béhaine/Taberd dùng dạng tô 

o

 thánh (cũng là âm HV).

 ma - âm HV là mã - Tập Vận ghi 母下切,音馬 mẫu hạ thiết, âm mã. Tại sao không dùng các dạng ma như   ...? Có thể là do trọng âm (stress) ở vần đầu của Ma Ri A nên dùng thượng thanh thay vì bình thanh.

tieng-Viet-12.jpg

 ri (âm HV là di, di ~ ri là phương ngữ miền duyên hải Bắc Bộ theo BBC - Đàng Ngoài). Đàng Trong (xem hình chụp bên dưới) không có vấn đề đọc phụ âm r và l.

tieng-Viet-13.jpg

 a (âm HV là á)

 chịu (âm HV là triệu hay thiệu).

 thai (cũng là âm và nghĩa HV).

o

 mà (âm HV là ma).

 sinh (âm HV cũng là sinh).

⺼底 đẻ (âm HV là để) - chữ đẻ viết bằng bộ nhục hợp với chữ để hài thanh.

 đồng (cũng là âm HV). Các bản Nôm của LM Maiorica cũng dùng đồng trinh như "mà kẻ đồng trinh thì chẳng có con, kẻ có con chẳng có đồng trinh. Có một đức Bà hợp lại hai sự ấy làm một và làm mẹ và còn đồng trinh với" TCTGKM trang 113, " thì ĐCT mở lòng Người yêu ở đồng trinh cho đến trọn đời ... song le bởi hai vợ chồng đã khấn ở đồng trinh cho đến trọn đời" TCTM quyển thượng trang 37-3, 43 ...v.v...

 trinh (cũng là âm HV) - câu này y như trong TCTGKM. PGTN dùng đồng thân so với đồng trinh[5], phản ánh cách dùng cổ hơn cũng như bản KTK Văn Ngôn (văn viết chữ Hán cổ điển cho đến đầu TK 20), các bản kinh sau này (td. Bạch Thoại) đều dùng đồng trinh. VBL phân biệt đồng thân 童身 (virgo/L) là còn trinh tiết (chưa có vợ chồng), gái còn trinh và đồng trinh 童貞 (castus/L) là còn trinh trắng, trong sạch hay chưa phạm lỗi gì tương đương với sạch sẽ. PGTN hoàn toàn dùng đồng thân:"Mẹ ĐCT, và đồng thân, đặt tên là Maria ... vì cũng bắt chước rất thánh đồng thân mà đã toan giữ blọn (trọn) đời đồng thân … Mẹ với thật là đồng thân, vì chưng như khi chưa có đẻ Con (PGTN viết hoa), là đồng thân, khi đang đẻ Con, cũng là đồng thân, và khi đẻ Con đoạn thì hãy còn đồng thân blọn (trọn) vậy" trang 145, 147, 161. LM Maiorica đã cho ta thấy đồng thân dùng trong tài liệu chữ Hán nhưng khi dịch ra Nôm thì lại dùng đồng trinh - trong Thiên Chúa Thánh Mẫu quyển thượng trang 38: "I Ghê Rê Gia khen rất thánh Đức Bà, gọi là chư đồng thân chi hậu 諸童身之后, nghĩa là vua hết người đồng trinh".

o

 tôi - âm HV là toái

 tin (âm HV là tín)

 thửa (sở là âm HV) - nghĩa mở rộng và dùng làm đại danh từ[6] (VBL ghi thửa là ille/L để chỉ người ấy từng đã được nhắc trong văn cảnh, trong trường hợp này là Giê Su), sau đó được các học giả Béhaine, Taberd, Aubaret, Theurel ghi lại. Tương quan s/x - th dễ nhận ra như xanh - thanh, xâm - thâm ...  sơ - thưa,  sở - thửa ... Cụ Huỳnh Tịnh Của trong ĐNQATV/1895 ghi cách dùng sở ruộng, sở đất (Đàng Trong? so với thửa ruộng, thửa đất/Đàng Ngoài - NCT) trong mục sở  nhưng lại ghi thửa bằng chữ sử 使. Cách dùng thửa (tuy rất hiếm) trong KTK từng hiện diện trong bản kinh bằng chữ quốc ngữ ở Đàng Ngoài cuốn "Chrestomathie annamite” (Quảng Tập Viêm Văn) của Edmond Nordemann (in năm 1898) - xem thêm Phụ Trương 1. So sánh chữ thửa trong KTK (Philiphê Bỉnh) và các kiểu viết nhanh của Vương Đạc và Mễ Phí:

tieng-Viet-14.jpg
[7] 

Để ý ở đây là cụ Thiều Chửu trong Hán Việt Tự Điển (1942) cũng ghi sở và kì  là thửa.

 chịu (âm HV là triệu hay thiệu).

 nạn (cũng là âm HV)

o

 chưng (cũng là âm HV) - xuất hiện 3 lần trong bản KTK này. Chưng có thể dùng làm một chỉ số (indicator) cho thấy thời gian xuất hiện của văn bản, td. bản KLC năm 1632 có 4 chữ chưng so với bản KLC vào cuối TK 18, đầu TK 19 dùng 2 chữ chưng (Đàng Ngoài) so với cùng thời kì thì Đàng Trong không dùng chưng cho đến ngày nay thì hoàn toàn không dùng chưng nữa (năm 2022

 thì (cũng là âm HV)

 quan (cũng là âm HV) - VBL giải thích "chưng thì quan" là vào thời cai trị của quan, dưới thời quan ... Chưng là một trợ từ với nghĩa ở, vào, trong ... Sách Các Phép (Halario de Jesu) chỉ ghi chưng thì mà không khi quan. Cách dùng chưng thì quan (~ vào thời quan, vào thời cai trị của quan) được VBL ghi thành một mục riêng:

tieng-Viet-15.jpg
VBL trang 122

o

 phong (cũng là âm HV).

 xi hay thi (thi là âm HV) - vào đầu TK 19, khả năng phụ âm đầu/xác vẫn còn hiên diên cùng với phụ âm tắc/đầu lưỡi như xoa - thoa, xi - thi ... Đàng Trong kí âm xi là xuy HV .

 ô (cũng là âm HV)

 phi (cũng là âm HV)

 tieng-Viet-16.jpg ß la viết tắt (cũng là âm HV) - trích tự điển Béhaine, Taberd không ghi dạng này.

 tô (cũng là âm HV). Không thấy bản KTK La Tinh ghi quan (hiểu ngầm) mà chỉ ghi tên Pontio Pilato - đây là quan coi tỉnh Giu Đà thuộc đế quốc La Mã từ 26/27 đến 36/37 SCN.

o

 đóng - thành phần HT là đông 

 đinh (cũng là âm HV)

 gác (âm HV là các) - bản Nôm Béhaine A dùng dạng , bản B không dùng chữ này

 câu - các bản Nôm cổ dùng câu rút hay một dạng kí âm của tiếng La Tinh crux hay tiếng Bồ-Đào-Nha cruz (> k - rút > câu rút), nghĩa là cây thánh giá (thập tự hay thập tự giá HV 十字架) hay dấu chữ thập. LM de Rhodes hoàn toàn dùng dạng La Tinh crux[8] trong VBL/PGTN so với LM Maiorica lại dùng chữ Nôm câu-rút 拘椊:"nó đã định đóng gác Crux ĐCGS trên núi ấy ... ĐCGS vác cây Crux nặng chẳng nổi" PGTN 221, "ĐCGS vác cây câu-rút lên núi chịu tội ... ĐCGS ở trên câu-rút buồn lắm" ĐCGS quyển chi thập trang 157 (Maiorica cũng dùng dạng ). Cây thánh giá có những biểu tượng đặc biệt như từ một hình thức xử tội nặng (thời đế quốc cổ La Mã, hàm ý tiêu cực) cho đến sự tiêu biểu của lòng thương xót và cứu vớt con người (tích cực) trong các giáo phái CG.

 rút (âm HV là tốt). Câu rút là kí âm của tiếng La Tinh crux hay tiếng Bồ-Đào-Nha cruz, nghĩa là cây thánh giá. Các tài liệu chép tay của LM Philiphê Bỉnh đều ghi dạng cruz, LM de Rhodes hoàn toàn dùng dạng La Tinh crux trong VBL/PGTN so với LM Maiorica lại dùng chữ Nôm câu-rút 拘椊. Câu "đóng đanh (~ đinh/Đàng Trong/NCT) gác câu rút (~ cu rút) xuất hiện trong bản tự vị chép tay của LM Morrone và bản chữ quốc ngữ của Nordemannn.

tieng-Viet-17.jpg
Bản chép tay/Josepho Maria Morrone

o

 chết (âm HV là chiết).

 mà (âm HV là ma).

 bèn (âm HV là biện).

 lấp (âm HV là lạp). "Chết mà bèn lấp" hiện diện trong TCTGKM trang 43, các bản KTK Nôm (Béhaine). Lớp hay lấp nghĩa là dùng đất hay đá để che mộ người chết, tương đương với chôn (VBL trang 424) - đoạn này dịch từ KTK La Tinh "mortuus et sepultus".

tieng-Viet-18.jpg

o

 tôi - âm HV là toái

 tin (âm HV là tín)

 thửa (sở là âm HV) - hàm ý đức Chúa Giê Su (thửa ~ người ấy, kẻ ấy)

竜下 xuống (chữ long hợp với chữ hạ biểu ý): long đọc là xuống qua tương quan l - x/s như lạp - sáp, lực - sức .. Do đó lâu  hay  đọc là sau, lao  đọc là sao, lão  đọc là sáu, long  đọc là xuống, lộng  đọc là sống …v.v…

 địa (cũng là âm HV)

 ngục (cũng là âm HV), "xuống địa ngục" tương ứng với KTK La Tinh "descendit ad inferos". PGTN và TCTGKM đều giảng thêm về bốn hang trong địa ngục và Giê Su xuống hang thứ tư gọi là Limbo (Lâm Bô) Lâm Bô là một khái niệm thần học quan trọng trong CG vào thời trung cổ, bây giờ không còn thông dụng nữa. Một số học giả và sử gia CG dịch đoạn KTK La Tinh này là "xuống (ở) nơi người chết" thay vì địa ngục.

o

𣈜 ngày - bản Nôm/Philiphê Bỉnh viết là tieng-Viet-19.jpg giống như tự điển Béhaine (xem hình chụp - , y như trong bản Nôm Béhaine KTK A) với một nét xuống thay vì bộ nhật , Taberd ghi là 𣈜 cũng như bản Nôm Béhaine KTK B.

 thứ (cũng là âm HV)

𠀧 ba - gồm chữ ba HT  hợp với chữ tam  biểu ý. VBL ghi các số một, hai, ba ... Nhưng chỉ trong mục ba thì lại ghi cách dùng ngày thứ ba (như không thấy ghi ngày thứ hai ...), một cách giải thích là ý nghĩa đặc biệt của ngày thứ ba trong KTK nói về ĐCGS sống lại.

o

 bởi (âm HV là bãi) - giản thể của chữ 

 trong (âm HV là trung) - các bản Nôm Đàng Trong dùng dạng  (trùng/xung HV).

 kẻ (âm HV là kỷ)

 chết (âm HV là chiết).

 lại (cũng là âm HV)

𤯩 sống - gồm chữ lộng HT  hợp với chữ sinh  biểu ý - lộng đọc là sống qua tương quan l – s (xem thêm chữ xuống bên trên). So sánh với câu "ngày thứ ba bởi trong kẻ chết lại sống" PGTN trang 247, dịch từ KTK La Tinh "tertia die resurrexit a mortuis" (tạm dịch theo thứ tự chữ La Tinh/NCT: ngày thứ ba sống lại từ những kẻ chết).

o

 tôi - âm HV là toái

 tin (âm HV là tín)

 thửa (sở là âm HV) - hàm ý đức Chúa Giê Su (thửa ~ người ấy, kẻ ấy)

 lên (âm HV là liên - sen), các bản Nôm Đàng Trong dùng dạng liên hợp với chữ thăng 

𡗶 trời viết nhanh (theo thảo thư TQ?) - Philiphê Bỉnh ghi là blời. Đàng Trong viết là trời.

o

 ngự (cũng là âm HV)

 bên - âm HV là biên cùng một nghĩa, viết tắt của chữ 

 hữu (cũng là âm HV).

 deo/dêu (diêu là âm HV) - đây là một dạng kí âm của tiếng La Tinh hay Bồ Đào Nha deus hàm ý chúa trời (~ thượng đế).

 cha - âm HV là tra.

 hay - hai là âm HV

 trọn - "Ngự bên hữu Deo Cha hay trọn" là từ KTK La Tinh "sedet ad dexteram Dei Patris omnipotentis".

 vậy (âm HV là phi).

o

 tôi - âm HV là toái

 tin (âm HV là tín)

 thửa (sở là âm HV) - hàm ý đức Chúa Giê Su (thửa ~ người ấy, kẻ ấy)

𣈜 ngày

 sau - âm HV là lâu qua tương quan l - s (xem thêm chữ xuống)

o

 bởi (âm HV là bãi) - giản thể của chữ 

𡗶 trời viết nhanh (theo thảo thư TQ?) - Philiphê Bỉnh ghi là blời. Đàng Trong viết là trời.

 lại (cũng là âm HV)

竜下 xuống (chữ long hợp với chữ hạ biểu ý)

o

 phán (cũng là âm HV)

 xét - âm HV là sát qua tương quan nguyên âm a - e như hạ - hè, trà - chè ...v.v…

 kẻ (âm HV là kỷ). . Các bản Nôm cũ như Phật Thuyết Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh, Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa, Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập đều dùng dạng này.

𤯩 sống - gồm chữ lộng HT  (tương quan l - s) hợp với chữ sinh  biểu ý. Các bản Nôm cũ như Phật Thuyết Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh, Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa dùng sinh , lộng  hay cổ + lộng (*klong) 𠸙.

 và - gồm bộ khẩu và chữ vi HV . Các bản Nôm Đàng Trong dùng dạng  (bộ khẩu hợp với chữ ba HT).

 kẻ (âm HV là kỷ)

 chết (âm HV là chiết). "phán xét kẻ sống và kẻ chết" dịch trực tiếp từ KTK La Tinh "iudicare vivos et mortuos", hiện diện trong TCTGKM trang 63, 63, VBL trang 594 ...v.v...

o

 tôi - âm HV là toái

 tin (âm HV là tín)

 phi (cũng là âm HV)

 ri (âm HV là di)

 tô (cũng là âm HV) - các bản Nôm Béhaine/Taberd dùng dạng tô . Câu "Tôi tin Phi Ri Tô San Tô" là dịch từ KTK gốc La Tinh "Credo in Spiritum Sanctum" nhưng lại dùng âm Bồ (tiếng Bồ Đào Nha bây giờ đọc câu này là Creio no Espírito Santo).

 san

 tô (cũng là âm HV) - các bản Nôm Béhaine/Taberd dùng dạng tô .

o

 tôi - âm HV là toái

 tin (âm HV là tín)

 có - cố là âm HV qua tương quan ô - o

 san

 ta (cũng là âm HV)

o

 y (cũng là âm HV).

 kê (cũng là âm HV). Còn có thể đọc là ghe/ghê

 ri (âm HV là di)

 gia (cũng là âm HV). Trước TK 18 phụ âm đầu gi- không phát âm kêu  (hữu thanh/voiced) như za (giọng Bắc bây giờ), do đó các bản Nôm Đàng Trong kí âm chữ này là xa .

tieng-Viet-20.jpg
Sách Các Phép (Halario de Jesu)

o

 ca (cũng là âm HV)

 tô (cũng là âm HV) - các bản Nôm Béhaine A và B dùng dạng tô .

 li (cũng là âm HV)

 ca (cũng là âm HV). PGTN dùng trực tiếp dạng La Tinh "Sau hết thì phải tin mọi lời truyền ra bởi thánh Ecclesia Catholica Apostolica, là các bổn đạo đức Chúa trời, ở khắp thiên hạ, hộp lại làm một dưới ông thánh Papa ở nước Roma" trang 312. LM Maiorica cũng dùng tương tự như trong TCTGKM "Tôi xin giảng sự tin San Ta I Ghê Ra Gia Ca Tô Li Ca" trang 74 (sđd). Bản Nôm[9] KTK (Béhaine khởi thảo năm 1774) vào năm 1837 dùng khắp thế này là dịch nghĩa của catholicus/L (phổ quát, khắp nơi) - xem chi tiết trong Phụ Trương 3, 4. Đoạn "San Ta Y Kê Ri Gia Ca Tô Li Ca" là dịch từ KTK La Tinh "sanctam Ecclesiam catholicam", nhưng chịu ảnh hưởng tiếng Bồ (theo tiếng Bồ là Santa Igreja Católica).

o

 các (cũng là âm HV và cùng nghĩa).

 thánh (cũng là âm HV và cùng nghĩa).

 cùng (âm HV là cung/cộng).

 thông (cũng là âm HV)

 công (công bộ phộc cũng là âm HV) - các bản Nôm Đàng Trong dùng công  bộ bát. Thông công là một cách dịch tiếng La Tinh communio vào thời kì đầu khi các giáo sĩ (và/hay cộng sự viên) soạn tài liệu giáo lí bằng chữ quốc ngữ. Tương tự như các từ HV khác như sinh thì (~ qua đời, chết), thiên chúa, thiên đàng [10], phục sinh (~ sống lại), Thông công mang nghĩa đặc biệt trong CG: từ sự hiệp thông giữa các người cùng đạo hay với chúa, sự rước lễ, hiệp lễ. so sánh TCTGKM trang 77 ghi "San Tô cùng thông công". Đoạn "Các thánh cùng thông công" dịch từ KTK La Tinh "sanctorum communionem" - thông công cũng hàm nghĩa cùng các thánh (xem VBL).

tieng-Viet-21.jpg
VBL trang 777 

o

 tôi - âm HV là toái

 tin (âm HV là tín)

 chưng (cũng là âm HV) - xuất hiện 2 lần trong bản KLC này. Chưng có thể dùng làm một chỉ số (indicator) cho thấy thời gian xuất hiện của văn bản, td. bản KLC năm 1632 có 4 chữ chưng so với bản KLC vào cuối TK 18, đầu TK 19 dùng 2 chữ chưng (Đàng Ngoài) so với cùng thời kì thì Đàng Trong không dùng chưng cho đến ngày nay thì hoàn toàn không dùng chưng nữa. Theo cụ Huỳnh Tịnh Của (ĐNQATV) thì chưng là trợ ngữ[11] liên hệ đến động từ trưng HV  như chưng cổ 徵古 nghĩa là "bày sự tích xưa, nói trại là chưng cộ".

 tha (xá là âm HV) - phụ âm đầu th- của tha thể hiện khuynh hướng biến âm s/x – th

 tội (cũng là âm HV và cùng nghĩa) - "tha tội" ~ KTK La Tinh "remissionem peccatorum"

o

 tôi - âm HV là toái

 tin (âm HV là tín)

 chưng (cũng là âm HV)

 loài - âm HV là loại và cùng nghĩa qua tương quan thanh điệu nặng - huyền như cận - gần, vận - vần, loại - loài ...

 người. Thời VBL/PGTN và các bản Nôm Maiorica vẫn dùng cụm danh từ "loài người ta" (bây giờ tiếng Việt thường dùng “loài người”) như TCTGKM trang 57 "Song le Đức Mẹ, dù mà trọng hơn các người ta xa lắm, thì cũng là loài người ta"... Vào đầu TK 19 thì loài người ta đã trở thành loài người (xem Bảng Tự Vị Việt La Tinh của LM Morrone mục loài - hình bên dưới chụp bên dưới để so sánh với VBL “genus humanum”, tuy nhiên các tài liệu chép tay của LM Philiphê Bỉnh vẫn còn dùng "loài người ta" đã có từ thời LM de Rhodes.

tieng-Viet-22.jpg
VBL trang 419

tieng-Viet-23.jpg
Bản chép tay/LM Josepho Morrone

tieng-Viet-24.jpg
Bản chép tay/LM Josepho Morrone

tieng-Viet-25.jpg
Sách Các Phép (Halario de Jesu)

tieng-Viet-26.jpg

Trích từ “Truyện nước An Nam Đàng Ngoài chí Đàng Trong” (P. Bỉnh)

 lại (cũng là âm HV)

𤯩 sống - gồm chữ lộng HT  hợp với chữ sinh  biểu ý - lộng đọc là sống qua tương quan l – s (xem thêm chữ xuống bên trên).

o

 tôi - âm HV là toái

 tin (âm HV là tín)

 hằng (cũng là âm HV và cùng nghĩa). Khái niệm sống đời đời rất quan trọng trong giáo điều CG, PGTN và VBL đều ghi cách dùng tương đương là “hằng sống” (semper vivit/VBL trang 313) - hàm ý là sống mãi trên thiên đàng. LM Maiorica còn đi xa hơn nữa và ghi cách dùng "hằng chết" (TCTGKM trang 91, sđd) hàm ý là chết trong địa ngục so với cách dùng "chết vô cùng" (PGTN trang 50).

𤯩 sống - gồm chữ lộng HT  hợp với chữ sinh  biểu ý - lộng đọc là sống qua tương quan l – s (xem thêm chi tiết trong mục chữ xuống bên trên).

 vậy (âm HV là phi).

o

 a (âm HV là á) - kí âm lời nguyện kết thúc amen (xem chữ miên bên dưới) để tuyên xưng đức tin, mong cho được như vậy... Các bản Nôm của LM Maiorica dùng a/á , cũng như các bản KLC Đàng Trong cùng thời với LM Philiphê Bỉnh.

綿 men (âm HV là miên) - amen có gốc là tiếng Do Thái 'āmēn nghĩa là sự thật (truth/A) hay sự chắc chắn (certainty/A). Có thời gian tiếng Việt từng dùng chớ gì (chữ Nôm là 渚之 chử chi HV) để dịch chữ amen, nhưng cách dịch này không thấy thông dụng nữa so với cách dùng trực tiếp amen[12]. Các ngôn ngữ khác như Anh, Pháp đều dùng amen trực tiếp như vậy trong tài liệu CG hay Thánh Kinh - tiếng Anh còn dùng amen trong thành ngữ "Amen to that" hàm ý "Chính xác rồi, thật đúng rồi" cho thấy mức độ thông dụng của thuật ngữ CG này trong ngôn ngữ hàng ngày của Tây phương.

tieng-Viet-27.jpg
Trích từ Sách Các Phép (LM Halario de Jesu)

2. Số chữ trong Kinh Tin Kính

Số chữ KTK/Philiphê Bỉnh - chữ Nôm = 157 (không kể 3 chữ đầu/đề mục là Kinh Tin Kính và 2 chữ cuối A Men). Cũng như Kinh Kính Mừng, số chữ KTK không thay đổi nhiều như Kinh Lạy Cha[13] (cực tiểu vào giữa thập niên 1850).

Số chữ KTK/Béhaine - chữ Nôm B (tái bản 1837) = 155

Số chữ KTK/Béhaine - chữ Nôm A (thư viện Tòa Thánh La Mã) = 160

Số chữ KTK/tiếng Việt hiện đại = 155

Số chữ KTK/Bộ Lễ Mới Do HĐGM Việt Nam Soạn = 278

Số chữ KTK/Văn Ngôn = 156

Số chữ KTK/Bạch Thoại = 153

Số chữ KTK/tiếng Anh = 103 – 110

Số chữ KTK/tiếng Anh dịch từ Old Roman Creed = 85

Số chữ KTK/tiếng Pháp = 130

Số chữ KTK/tiếng La Tinh[14] = 75 (so với 73 chữ trong bản La Tinh của LM Halario de Jesu - xem thêm Phụ Trương 2).

Số chữ KTK/tiếng Ý = 94

Số chữ KTK/tiếng Bồ Đào Nha = 94

Số chữ KTK/tiếng Tây Ban Nha = 115 …v.v…

Tỉ số chữ Việt trong Kinh Tin Kính (Philiphê Bỉnh) và chữ La Tinh là 157/75 ~ 2.1; so với tỉ số Kinh Lạy Cha Việt và La Tinh là 78/49 ~ 1.6; tỉ sô Kinh Kính Mừng Việt và La Tinh là 51/31 ~ 1.7 - các tỉ số này (> 1) không gây ngạc nhiên vì tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập (isolating/A). Các ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập[15] (như tiếng Việt) thường có tỉ số hình vị và từ (morpheme-word ratio) rất gần 1 so với các loại ngôn ngữ chắp dính hay hòa kết. Thí dụ như tiếng Việt mỗi chữ (từ) đều có nghĩa và không thể tách chữ này ra thành những thành phần có nghĩa khác nhau như tiếng Anh. Tiếng Anh unhappiness là một từ có nghĩa là sự không vui (dùng ít nhất là 3 từ độc lập tiếng Việt), unhappiness lại gồm có tiền tố un- nghĩa là không, happy là vui và -ness là hậu tố thành lập danh từ. Do đó tỉ số hình vị-từ là 3/1 = 3 so với cấu trúc tiếng Việt sự không vui có tỉ số 3/3 = 1. Tiếng La Tinh, Thổ Nhĩ Kỳ có tỉ số hình vị và từ là khoảng 3.0, so với tiếng Anh 1.68, tiếng Việt 1.0 … Tiếng Kalaallisut (ở Greenland, Đan Mạch) có tỉ số hình vị và từ khoảng 7.1, hay là một loại ngôn ngữ đa hoà kết (polysynthetic language). Đây là một chủ đề thú vị và cần được tra cứu sâu xa hơn để cho ra nhiều kết quả có ý nghĩa[16] trong tiếng Việt.

Tóm lại, từ thuở ban đầu tên gọi “Kinh mười hai đầy tớ cả” (PGTN) đã trở thành Kinh Tin Kính dựa vào hai chữ đầu của KTK và cũng là thành phần cốt lõi của giáo điều. Có 12 lần "tôi tin" xuất hiện trong bản KTK (td. xem Philiphê Bỉnh/Phụ Trương 5) phản ánh phần nào đóng góp của 12 tông đồ Chúa Giê Su. Từ TK 17 thì số chữ kí âm trực tiếp cũng giảm đi như Dêo/Dêu trở thành Đức Chúa, Spirito trở thành Đức Thánh Thần, Y Ghê Rê Gia Ca Tô Li Ca trở thành Hôi Thánh, câu rút trở thành (cây) thánh giá dễ hiểu hơn cho người Việt. Một số cách dùng cổ như chưng thì quan, thửa không còn dùng nữa. Tuy nhiên, các bản KTK ở Đàng Ngoài có khuynh hướng bảo lưu tiếng Việt cổ hơn (td. trong Kinh Thánh) so với Đàng Trong. Đáng chú ý là bản KTK Nôm của LM Béhaine năm 1774 vẫn dùng nhiều từ kí âm[17] từ tiếng La Tinh/Bồ như Deo/Dêu, Xi Phi Ri Tô Sang Tô, Sang ta, Y Kê Rê Xa Ca Tô Li Ca, câu rút - giống như bản Nôm thời LM Maiorica, Philiphê Bỉnh. Tuy nhiên, tới thời LM Taberd (1838), tuy chép lại hầu như hoàn toàn tự điển Béhaine như đã có vài sự thay đổi quan trọng như Chúa Trời thay vì Deo/Dêu, Thánh Thần thay vì Xi Phi Ri Tô Sang Tô, Thánh thay vì Sang Ta, Hội Thánh thay vì Y Kê Rê Xa và khắp nơi thay vì Ca Tô Li Ca. Một nhận xét thêm là ảnh hưởng của tiếng Bồ rất rõ nét trong các từ kí âm này. Chữ Nôm ở Đàng Ngoài cũng có phần khác biệt so với Đàng Trong, như Dêu viết là diêu bộ nữ  so với diêu bộ thủ . Đây là một chủ đề cần được tra cứu sâu xa hơn để tìm ra nhiều kết quả thú vị, td. tại sao dùng diêu bộ nữ để chỉ Đức Chúa Trời (thượng đế). Hi vọng bài viết này gợi ý cho người đọc tìm hiểu sâu xa hơn về tiếng Việt và các thay đổi chỉ trong vòng vài thế kỉ cho đến nay, đặc biệt là từ lăng kính chữ Hán, Nôm và quốc ngữ.

3. Tài liệu tham khảo chính và ghi chú thêm

1) Pigneau de Béhaine (1772/1773) - Bá Đa Lộc Bỉ Nhu "Dictionarium Annamitico-Latinum" Dịch và giới thiệu bởi Nguyễn Khắc Xuyên, NXB Trẻ (Thành Phố HCM - 1999).

(1774/Quảng Đông à Địa phận Đàng Trong tái bản năm 1837) "Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ" 聖教要理國語 viết bằng chữ Nôm theo dạng Hỏi-Thưa. Y Doãn Ninh/Lê Bảo Tịnh phiên âm và chú giải, La Vang Tùng Thư xuất bản (Mỹ).

2) Phillipe Bỉnh (1822) "Sách Sổ Sang Chép Các Việc" NXB Viện Đại Học Đà Lạt, 1968.

 (khoảng 1794-1802) "Nhật Trình Kim Thư Khất Chính Chúa Giáo" - xem bài viết trên mạng như scribd.com. Các sách viết tay khác như Sách Các Kinh, Các Truyện Thánh và phép lạ, Các Kinh Thường Đọc (Nôm) 'theo NCT' - có thể đọc từ thư viện Vatican.                                

3) Đỗ Quang Chính (1972) “Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659” NXB Đuốc Sáng (Sài Gòn).

4) Huỳnh Tịnh Của (1895/1896) "Đại Nam Quấc Âm Tự Vị" Tome I, II - Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4 rue d'Adran (SaiGon).

5) Nguyễn Hồng (1959) "Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam - Quyển 1 - Các Thừa Sai dòng Tên 1615 - 1665" NXB Hiện Tại (Sài Gòn).

6) Nguyễn Quang Hồng (2015) "Tự điển chữ Nôm dẫn giải" Tập 1 và 2 - NXB Khoa Học Xã Hội/Hội Bảo Tồn Di Sản Chữ Nôm (Hà Nội).

7) Roland Jacques (2004) « Les missionnaires portugais et les débuts de l’Église catholique au Viêt-nam » (Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam) - NXB Đinh Hướng Tùng Thư (Pháp). Có thể đọc các bài viết của LM Roland Jacques trên mạng như dunglac.info . Các bài viết như "Chứng tích hình thành và phát triển chữ quốc ngữ từ năm 1632 đến nay: tiến trình của Kinh Lạy Cha" của Roland Jacques (người dịch Nguyễn Đăng Trúc) trên mạng này vanchuongviet.org …v.v…

8) Halario de Jesu (thế kỷ XVIII) "Sách Các Phép" bằng 3 thứ chữ Nôm, La Tinh và quốc ngữ. Sách lưu hành nội bộ (1997).

9) Giêrônimô Maiorica (thế kỷ XVII) "Mùa Ăn Chay Cả", "Thiên Chúa Thánh Mẫu - Quyển thượng", "Thiên Chúa Thánh Mẫu - Quyển trung", "Đức Chúa Giê-Su - Quyển chi cửu & Quyển chi thập", "Thiên Chúa Thánh Giáo Hối Tội Kinh", “Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông”, "Kinh Những Ngày Lễ Phục Sinh - Quyển thứ ba", “Các Thánh Truyện”. Sách lưu hành nội bộ (năm xuất bản 2002/2003 - LM Nguyễn Hưng).

10) Josepho Maria Morrone (khoảng đầu TK 19) “Lexicon Cochin-sinense Latinum” đăng trong cuốn “A Dissertation on the nature and character of the Chinese system of writing” viết bởi nhà ngôn ngữ Mỹ Peter Stephen Du Ponceau (1838), in lại bởi NXB Kessinger Publishing. Kèm thêm bảng từ vựng căn bản có 333 chữ Nôm và chữ quốc ngữ với giải thích.

11) Edmond Nordemann (tên Việt là Ngô Đê Mân) (1898) “Chrestomathie annamite” (Quảng Tập Viêm Văn) – NXB Hà Nội.

12) Frans Plank (2006?) "Morphological Typology" có thể đọc toàn bài trên trang này chẳnh hạn ling.sprachwiss.uni-konstanz.de ...v.v...

13) Alexandre de Rhodes (1651) "Phép Giảng Tám Ngày" - Tủ Sách Đại Kết in lại từ Tinh Việt Văn Đoàn (1961 - Sài Gòn) với phần giới thiệu của tác giả Nguyễn Khắc Xuyên.

(1651) “Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum” thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La; bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính - NXB Khoa Học Xã Hội, Thành Phố HCM (1991).

“Tường Trình về Đàng Trong 1645” bản dịch của Hồng Nhuệ, NXB Ánh Sáng Publishing, Escondido (California/Mỹ, 1994?).

"Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646" dịch giả Nguyễn Khắc Xuyên - Tủ sách Đại Kết, Thành phố HCM (1994).

14) Jean Louis Taberd (1838) - tên Việt là cố Từ - "Dictionarium Annamitico-Latinum" Serampore (Bengale).

15) Nguyễn Cung Thông (2021) “Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes - các khuynh hướng dịch tiếng nước ngoài ra tiếng Việt: trường hợp bản Kinh Kính Mừng” (phần 26) - có thể xem toàn bài trên trang nghiencuulichsu.com

 (2018-2021) “Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – Kinh Lạy Cha” phần 5A cho đến phần 5E (năm bài viết) – tham khảo loạt bài này trên trang này chẳng hạn  vietnamvanhien.org  hay vanviet.info hay conggiao.info  …v.v

Phụ Trương

1. Kinh Tin Kính (Đàng Ngoài) trích từ cuốn "Chrestomathie annamite” (Quảng Tập Viêm Văn) của Edmond Nordemann (in năm 1898). Bản kinh này có tất cả 158 chữ. So sánh với bản KTK của Philiphê Bỉnh (157 chữ) thì chỉ có khác ở hai chỗ (a) Tôi tin có phép Phi Ri Tô San Tô > Tôi tin nhân phép Phi Ri Tô Sang Tô (đổi có thành nhân) (b) Tôi tin Phi Ri Tô San Tô > Tôi tin kính Phi Ri Tô Sang Tô (thêm chữ kính):

tieng-Viet-28.jpg

tieng-Viet-29.jpg

Để ý cách viết lời (trời), lọn (trọn). xinh (sinh), xống (sống), đanh (đinh) của bản KTK này (Đàng Ngoài), câu rút (Đàng Trong dùng thánh giá, cây thánh giá).

2. Kinh Tin Kính trích từ Sách Các Phép (LM Halario[18] de Jesu - khoảng 1736), có 144 chữ (không kể hai chữ chớ gì ~ A Men ở sau cùng). Nội dung bằng chữ quốc ngữ rất ít viết hoa và ngắt câu "Tôi tin có Deo cha có phép vô cŭ (cùng/NCT) là đứng (đấng/NCT) dựng nên mlời (trời/NCT) cùng đất và có Jesu chi ri xi tô một con người chúa chúng tôi là kẻ ở trong lòng mẹ bởi phi ri tô sang tô sinh ra bởi ma ri a đồng trinh chịu nạn chưng thì phông thi ô phi là tô chịu đóng đanh chịu chết cùng chịu táng đã xuống đến địa ngục ngày thứ ba đã sống lại bởi trong kẻ chết đã lên trên mlời ngự bên hữu Deo cha có phép vô cùng bởi đấy sẽ xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết tôi tin có phi ri tô sang tô th' (thánh viết tắt/NCT) i ghê ri ja ở khép (khắp/NCT) mọi nơi thiên hạ sự thông công các thánh phép tha các tội sự sống lại về xác thịt sự sống vô cùng - chớ gì". Đọc phần chữ quốc ngữ cho ta cảm tưởng là tác giả (Halario de Jesu) đã dịch trực tiếp từ tiếng La Tinh sang tiếng Việt, hay theo cú pháp của tiếng La Tinh chứ không theo cách viết tiếng Việt truyền thống.

tieng-Viet-30.jpg tieng-Viet-31.jpg

3. Bản Nôm Kinh Tin Kính (LM Béhaine) - in năm 1774 dựa vào trang đầu - chụp từ thư viện Tòa Thánh La Mã với mã số Borg.tonch.32 trang 52r, 52v, 53r.

tieng-Viet-32.jpg tieng-Viet-33.jpg

Bản KTK (1774) bằng chữ quốc ngữ/NCT có 159 chữ không kể A Men: "Tôi tin kính Dêu cha o có phép tắc vô cùng dựng nên trời đất o tôi lại tin kính một con Dêu cha o Giê Su Khi Ri Xi Tô o là chúa chúng tôi o bởi phép đức chúa Xi Phi Ri Tô Sang Tô o mà Người xuống thai o sinh bởi bà Ma Ri A đồng trinh o mà chịu nạn bởi Phong Xi Ô Phi La Tồ o khiến đóng đinh gác lên cây câu rút o chết mà bèn lấp o xuống địa ngục ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà lại sống o lên trời ngự bên hữu Dêu cha có phép tắc vô cùng o ngày sau bởi trời lại xuống phán xét cho kẻ sống và kẻ chết o tôi tin kính chúa Xi Phi Ri Sang Tô o tôi tin có Sang Ta o Y Kê Rê Xa o Ca Tô Li Ca o các thánh cùng thông công o tôi tin có tha tội o tôi tin thịt mình lại sống o tôi tin hằng sống vậy o A Men". Để ý các cách dùng thời LM Maiorica, Philiphê Bỉnh như Sang Ta Y Kê Rê Xa (Sancta Ecclesia, Béhaine/1772-1773) trở thành Hội Thánh (bản Nôm 1837, Taberd/1838), Dêu (Béhaine/1772-1773) trở thành Đức Chúa Trời (Taberd/1838), Xi Phi Ri Tô Sang Tô trở thành Thánh Thần, gần với tiếng Việt hiện đại.

4. Bản Nôm Kinh Tin Kính (LM Béhaine thảo năm 1774 ở trên) - tái bản[19] năm 1837 có 155 chữ: "Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất. Tôi lại tin kính Con Một Đức Chúa Cha là Đức Chúa Giê Su Khi Ri Xi Tô là Chúa chúng tôi, bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi bà Ma Ri A đồng trinh mà chịu nạn bởi Phong Xi Ô Phi La Tô khiến đóng đinh trên cây Thánh giá, chết mà bèn lấp, xuống địa ngục, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại, lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng, ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết. Tôi tin kính Chúa Thánh Thần. Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các thánh cùng thông công, tôi tin phép tha tội, tôi tin thịt mình ngày sau sống lại, tôi tin hằng sống vậy. A Men".

tieng-Viet-34.jpg

5. Đoạn đầu Kinh Tin Kính bằng chữ quốc ngữ chép tay của LM Philiphê Bỉnh - hoàn toàn ăn khớp[20] với bản Nôm: “Tôi tin kính Deo Cha hay blọn (trọn) vậy dựng nên blời (trời) đất … Spirito Santo … Igreja …” và “thánh Ma Ri A chịu thai mà sinh đẻ đồng trinh”. Ngoài ra phần này còn giải thích nguồn gốc của KTK. Hình chụp lại từ tài liệu chép tay của LM Philiphê Bỉnh còn lưu trữ tại thư viện Tòa Thánh La Mã với mã số Borg.tonch.9

tieng-Viet-35.jpg

tieng-Viet-36.jpg

Nguyễn Cung Thông[21]



[1] PGTN cũng cho thấy ảnh hưởng của tiếng Bồ so với La Tinh (ngôn ngữ chính của PGTN) như Petrus (La Tinh) thì dùng Pedro "các bổn đạo ở khắp thiên hạ hộp làm một dưới ông thánh Papa ở nước Roma, làm thầy cả trên, thay vì đức Chúa Jesu, theo đòi ông thánh Pedro như vậy" trang 312; Pilatus (La Tinh) thì ghi là Pilato "Song le Pilato vì đã hay đức Chúa Jesu chẳng có lỗi gì" trang 215-216 ...v.v...

[2] Thí dụ như Đắc Kỉ 妲己 (Đát Kỉ) với  có hai cách đọc đát (當割切 đương cát thiết/QV) hay đán (得案切 đắc án thiết/QV) - so sánh với các cặp tát - tán, được - đặng, nghẹt - nghẹn ...v.v...

[3] Thật ra chữ  này đã có tù thời TVGT, Quảng Vận đọc là 昌朱切 xương chu thiết, 春朱切 xuân chu thiết; Tập Vận ghi cách đọc là 初尤切 sơ vưu thiết ... Đều cho khả năng đọc là su/xu.

[4] Một thí dụ khác: cùng một thế hệ với LM Philiphê Bỉnh là đại thi hào Nguyễn Du: trong tác phẩm Truyện Kiều, câu 1938/1939/1940 cho thấy vần san  được triệt để tuân thủ

𥪝𡬼𡬷吏急𨑮關山 Trong gang tấc lại gấp mười quan san

仍羅吟咀𠽆 Những là ngậm thở nuốt than

小姐沛𣇜問安𧗱 Tiểu thư phải buổi vấn an về nhà …

[5] Từ thời Béhaine (1772/1773) về sau (td. Theurel, Huỳnh Tịnh Của, VNTĐ, Gustave Hue) thì đồng thân và đồng trình có cùng nghĩa (~ virgo/L). Đáng chú ý là VNTĐ ghi đồng trinh là "con gái nhà tu bên đạo Da-tô".

[6] Cùng thời - và cùng là dân Đàng Ngoài với LM Philiphê Bỉnh là đại thi hào Nguyễn Du (sinh sau 7 năm nhưng qua đời trước cụ Bỉnh 13 năm): câu 2687 Truyện Kiều ghi 所功德意埃朋 Thửa công đức ấy ai bằng (thửa chỉ nhân vật Thúy Kiều đã nói trong các câu trước, thửa công đức hàm ý công đức của Thúy Kiều). Nhưng theo học giả Nguyễn Thạch Giang thì "thửa là tiếng cổ dịch chữ kỷ là một đại từ trong tiếng Hán cổ, đây chỉ Thúy Kiều" (Truyện Kiều, trang 207, NXB Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp - Hà Nội - 1986). Cụ Tản Đà lại dịch là thuở (Vương Thúy Kiều, trang 277, NXBThanh Niên - 2004) …v.v…Tuy nhiên các dữ kiện về tiếng Việt từ thời VBL cho đến KTK/Philiphê Bỉnh, Béhaine, Taberd đều cho thấy thửa có khả năng rất cao là sở HV .

[7] Tự điển "Việt Bồ - Bồ Việt chép tay" lưu trữ tại thư viện Tòa Thánh La Mã, mã số Borg.tonch.23

[8] Cách dùng thập tự giá 十字架 đã hiện diện vào thời VBL bên Trung Hoa trong các tài liệu cùng thời. Từ thời Béhaine (1772/1773), Taberd (1838) thì (cây) thánh giá 聖架 được dùng cho đến nay, một cách dùng CG đặc biệt ở VN cũng như linh mục 靈牧, giám mục, Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng - đây là những cách dùng đặc biệt ở VN. Chữ Nôm Đang Trong cũng dùng khác hơn như câu dùng bộ mộc  và rút dùng bộ mộc .

[9] Bản Nôm năm 1837 (sđd) cũng bắt đầu dùng chúa nhật so với ngày du minh (từ thời PGTN) ...v.v...

[10] td. để cho thấy phần nào nét nghĩa đặc biệt trong giáo lí Kitô, VBL còn ghi một cách dùng tôt hơn thiên đàng (paradisus/L) là thiên Chúa đàng hay nhà Chúa Trời.

[11] Đây có thể là trường hợp ngữ pháp hóa trong tiếng Việt, tham khảo thêm bài viết "Biến đổi ngữ nghĩa với quá trình ngữ pháp hóa của một số từ làm thành tố phụ trong ngữ vị từ tiếng Việt" Vũ Đức Nghiệu (2020).

[12] So với cách ghi âm Amen trong tiếng Trung (Quốc) cận đại là 阿門 đọc theo pinyin là ā mén rất khác với cách đọc HV là a môn; cũng như đọc thơ thời Đường (Hán ngữ) thì âm HV hợp vận hơn giọng TQ hiên đại!

[13] Tham khảo loạt bài viết về Kinh Lạy Cha đánh số 5, 5A, 5B, 5C, 5D, 5E cùng tác giả (NCT).

[14] Tham khảo bản KTK La Tinh trang này  responsorialpsalmcatholic.wordpress.com

[15] Thí dụ ngôn ngữ đơn lập (isolating/analytic language) là tiếng Việt hiện đại, tiếng Hán, tiếng Thái, một số lớn ngôn ngữ ở ĐNA ...v.v... Các ngôn ngữ này hầu như không dùng phụ tố (affix) như tiền tố (prefix, tiếp đầu ngữ), trung tố (infix) hay hậu tố (suffix, tiếp vĩ ngữ). Bạn đọc có thể tham khảo các tài liệu liên hệ như cuốn "A COURSE IN LINGUISTICS, THIRD EDITION" tác giả Tarni Prasad, PHI Learning Pvt. Ltd., 1/7/2019 - chương 4 viết về Morphology (Hình Thái Học) hay ngonngu.net hay ling.uni-konstanz.de ...v.v...

[16] Thí dụ như từ láy hai lần lần, ầm ầm và từ láy ba sạch sành sanh: có thể xem đây là một thể hiện của phụ tố (affix) hay không? Cũng như chức năng của hóa trong cấu trúc Việt hóa, Hán, Mỹ hóa ...v.v...

[17] Thí dụ như bản KTK (P. Bỉnh) có 40/157 ~ 25.5% là chữ kí âm so với bản Nôm (Halario de Jesu) 31/144 ~ 21.5%, bản Nôm (Béhaine 1774) có 41/159 ~ 25.8% cho đến bản Nôm (Béhaine 1837 được cập nhật) có 15/155 ~ 9.7% và bản KTK hiên đại có 13/155 ~ 8.4%. 13 từ kí âm là tên riêng (khó mà dịch nghĩa chính xác trong tiếng Việt, ngay cả trong ngôn ngữ nguồn Hi Lạp hay La Tinh) như Giê Su, Ki Tô, Ma Ri A, Phon Xi Ô Phi La Tô, dù các tên người này đều có nghĩa/liên kết tâm linh như Giê Su (vị cứu tinh), Maria (sao biển, cay đắng ...), Platus (cầm cái giáo, cột trụ ...).

[18] Có tác giả ghi tên ông là là Hilario (td. GS Trần Văn Toàn) – xem bài viết liên hệ trên trang này chẳng hạn conggiaovietnam.net

[19] Trích từ cuốn "Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ" Doãn Ninh/Lê Bảo Tịnh phiên âm và chú giải - 2001 (sđd).

[20] Điều này cho thấy khả năng rất cao là bản Nôm KTK được chép lại bởi chính LM Philiphê Bỉnh. Nếu hai bản Nôm và chữ quốc ngữ khác nhau thì vấn đề phải được xem lại cho thêm chính xác!

[21] Nghiên cứu ngôn ngữ độc lập ở Melbourne (Úc) – email nguyencungthong@yahoo.com

Các tin mới cập nhật

Lên đầu trang