THIÊN CHÚA GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT

3/18/2013 6:56:23 AM
THỨ HAI SAU CHÚA NHẬT 5 - MÙA CHAY

Ga8_1-11.jpg 

Lời Chúa: Ga 8,1-11

1 Khi ấy, Đức Giê-su thì đến núi Ô-liu. 

 

2 Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền Thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ. 3 Lúc đó, các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đến trước mặt Đức Giê-su một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, 4 rồi nói với Người : "Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. 5 Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao ?" 6 Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giê-su cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. 7 Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ : "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi." 8 Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất. 9 Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Đức Giê-su, và người phụ nữ thì đứng ở giữa. 10 Người ngẩng lên và nói : "Này chị, họ đâu cả rồi ? Không ai lên án chị sao ?" 11 Người đàn bà đáp : "Thưa ông, không có ai cả." Đức Giê-su nói : "Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu ! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa !"   

Suy Niệm


 

A. PHẦN TÌM HIỂU

1- Ý ĐỒ CÁC KÝ LỤC VÀ BIỆT PHÁI HỎI Ý KIẾN ĐỨC GIÊ-SU VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ NGOẠI TÌNH.


a- Nếu Ngài bảo đừng ném đá, thì đó là cách Ngài xúi dân chống lại Luật thánh mà ông Mô-sê đã truyền cho dân, đồng thời Ngài còn mâu thuẫn với lời giảng của Ngài, vì chính Ngài đã nại vào Luật của ông Mô-sê để làm chứng về Ngài (x Ga 5,39). Như vậy, họ có lý để loại trừ Ngài !


b- Nếu Đức Giêsu bảo cứ ném đá, thì nghịch với mục đích Ngài vào thế gian để kêu gọi những người tội lỗi hối cải (x Lc 15).

c- Nếu Ngài bảo cứ ném đá theo Luật, thì Ngài cướp quyền Roma. Vì Roma không cho phép người địa phương kết án tử bất cứ người nào.Quyền ấy chỉ do Hội đồng Công tọa của Roma (x Ga 18,31). Như vậy, họ cũng có lý do để tố cáo Ngài với chính quyền Roma.

2- NGÀI VIẾT GÌ TRÊN ĐẤT VÀ VỚI MỤC ĐÍCH NÀO ?

Có ba ý kiến.

a- Ông Manson cho rằng : Đức Giêsu viết hai lần trên đất gợi đến luật của Roma thời ấy là muốn kết án ai thì viết bản án trước, như ông Philatô viết bản án trên đầu thập giá của Đức Giêsu (x Ga 19,19) ; cũng thế, Đức Giêsu viết hai bản án, một cho những người tố cáo, một cho phụ nữ ngoại tình.

* Án thứ nhất cho người tố cáo : “Ai trong các ngươi vô tội, thì hãy lượm đá ném trước đi!” (Ga 8,7 : Tin Mừng)

* Án thứ hai cho người phụ nữ : “Chị hãy về và đừng phạm tội nữa !” (Ga 8,11: Tin Mừng)


Như vậy họ hỏi ý kiến Ngài xử trí người phụ nữ như thế nào, thì Ngài đã viết hai bản án ấy cho họ xem, nhưng họ cố hỏi Ngài, nên Ngài đọc cho họ nghe, vì qúa xấu hổ, họ lần lượt kéo nhau bỏ đi !

b- Giáo sư Derris giải thích : Chúa viết trên đất là đối chiếu trường hợp này với vụ bà Susanna (x Dn 13), nghĩa là :

* Lần thứ nhất Đức Giê-su viết (Ga 8,6) : “Không phao tin đồn nhảm ; đừng giúp kẻ ác làm chứng gian ; không hùa theo số đông để làm trái.” (x Xh 23,1-2)

* Lần thứ hai Đức Giê-su viết (Ga 8,8) : “Hãy tránh xa lời gian dối !” (Xh 23,7)


Và như vậy,  những kẻ tố cáo cũng thuộc loại gian dối như hai lão gìa trong truyện bà Su-san-na (x Dn 13). Những kẻ tố cáo đọc những lời Đức Giê-su viết như trên, quá xấu hổ nên rút lui hết ; dân chúng thấy không còn ai tố cáo  nên mọi người cũng bỏ ra đi.

c* Thánh Giêrônimô lại cho ý kiến : Đức Giêsu viết :

- Lần thứ nhất để ứng nghiệm lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a (17,13) : “Lạy Chúa, kẻ bỏ Ngài sẽ phải xấu hổ, và những ai tráo trở với Ngài, tên nó sẽ viết trên đất !”

- Lần thứ hai, để ứng nghiệm Lời Kinh Thánh Hc 1,28 : “Đừng hai lòng đến với Ta”. Bởi vì người như thế sẽ bị loại trừ giống như “muối lạt bị đổ xuống đất cho người ta dẵm đạp !” (Mt 5,13) Và “bị xóa tên khỏi Sổ Hằng Sống.” (x Xh 32,33)  Kẻ tố cáo vẫn chưa chịu xét mình mà tháo lui, nên Đức Giê-su bảo chúng : “Ai thấy mình vô tội, thì lượm đá ném trước đi” (Ga 8,7 : Tin Mừng), thế là ai cũng thấy mình có tội, nên lần lượt rút lui hết thảy!

 

B. GIÁO HUẤN


Tin Mừng Ga 8,1-11 đã có ý so sánh Đức Giê-su xử án kẻ có tội trổi vượt hơn ông Daniel ngồi xét xử hai vị kỳ mục cáo gian bà Susanna phạm tội ngoại tình, để bênh vực người bị oan (x Dn 13 : Bài đọc),từ đó chúng ta rút ra những điểm giáo lý  :

1/ CHÚA XÉT XỬ LOÀI NGƯỜI DỰA TRÊN ÂN SỦNG HƠN DỰA VÀO LỀ LUẬT MANG TÍNH PHÁP LÝ.


a- Cựu Ước xét xử dựa trên pháp lý
, cao điểm hoàn tất bản án hợp lý là : kẻ có tội bị loại trừ (hai lão gìa), người vô tội được giải oan (bà Susanna).

b- Tân Ước xét xử dựa trên pháp lý và ân sủng:

      * Dựa trên pháp lý : Chính Đức Giêsu đã nại vào Luật của ông Môsê (x Dnl 17,5-7 ; Dnl 22, 22-27) mà xét xử : “Nếu họ bắt được quả tang bị can phạm tội, thì hãy lôi nó ra trước cổng thành mà tố cáo. Nếu có một chứng nhân thì bị can không bị chết ; nếu có hai chứng nhân, thì can phạm bị án tử, ai làm chứng thì hãy lượm đá ném trước, và những người khác ném sau, cho đến khi bị can chết !” (Ga 8,7 : Tin Mừng).

      * Dựa trên ân sủng : Cách xét xử của Đức Giêsu làm cho hết mọi người nhận ra tội của mình : cả người tố cáo lẫn bị can đều phải ra đi để sửa mình : “Hãy đi và đừng phạm tội nữa !” (Ga 8,11: Tin Mừng). Đó là bản án của Đức Giêsu, Vị Thẩm Phán đầy lòng nhân ái, muốn tạo điều kiện cho tội nhân trở về đường ngay nẻo chính. Vì thế ta hãy cầu nguyện : “Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng” (Tv 23/22,4a : Đáp ca). Nhưng thực ra chỉ có người phụ nữ nán lại bên Đức Giêsu mới là người sám hối, nên được Ngài tha tội, vì “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,17). Còn những kẻ lủi trốn, vì biết Đức Giêsu đã nhìn thấu tâm can của họ, nhưng vì tự ái làm gia tăng căm phẫn, nên bỏ đi và bàn mưu tính kế với người Roma để chờ dịp triệt Ngài !


Vậy xưa kia máu người vô tội như bà Susanna không phải đổ ra cách vô ích (x Dn 13,62) ; Nay máu Đấng Thánh là Đức Giêsu phải đổ, để mọi tội nhân thoát án tử mà được sống ! (x Rm 3,25 ; 1Pr 1,19-21).

2/ AI ĐÃ GẶP CHÚA GIÊSU ĐẾU NHẬN RA MÌNH CÓ TỘI.


Thậm chí cả những kẻ ác như các kinh sư và người Pharisêu muốn hại Ngài,thì Ngài cũng làm cho họ nhận biết mình có tội xấu hổ mà ra đi, dù nó ra đi để bày  mưu tính kế hại Ngài, khi giết được Ngài, Ngài lại trở nên nguồn ơn cứu độ cho những ai biết sám hối tội mà chạy đến cùng Ngài xin được thương xót. Bởi vì “Chúa đã phán : Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống” (Ed 33,11 : Tung Hô Tin Mừng).

3/ ĐỪNG CẬY DỰA VÀO ĐỊA VỊ CỦA MÌNH, như hai vị kỳ mục đòi “bề hội đồng” bà Susanna không được, thì dùng Luật bày mưu tính kế giết bà. Đó mới là kẻ mang tội nặng nhất trước mặt Chúa. Thực vậy, Đức Giêsu rất nặng lời đối với những người có chức vụ trong Do-thái giáo, họ cậy dựa vào địa vị và Luật Môsê để tìm mưu tính kế tấn công Đấng vô tội, thế mà họ vẫn đòi được dân tôn kính ! (x Mt 23)

Nhìn vào xã hội khắp nơi, nhiều kẻ nắm quyền bính dựa vào luật quốc gia để biển thủ công quỹ, thì không ai dám động đến họ, trong khi đó chính bọn này bắt được kẻ nghèo ăn cắp xe đạp của người khác, thì lại lên án bỏ tù !

Vì thế những kẻ từng phạm Luật lại tố cáo người phụ nữ ngoại tình đòi Đức Giêsu lên án. Loại đầu mục gian ác này bị Đức Giêsu kết án : “Đĩ điếm vào Nước Trời trước các ngươi” (Mt 21,31).

4/ KẺ NHỊ TÂM ĐẾN GÀI BẪY ĐỨC GIÊSU, ĐẤNG TOÀN NĂNG, TOÀN THIỆN, NÓ LÀ THỨ “ĐĨ THÁNH”, vì chúng có hai mặt : một mặt chúng tỏ ra là người công chính dựa vào Luật pháp để tố cáo người đàn bà chúng cho là đã bắt quả tang phạm tội ngoại tình ; mặt kia chúng dựa vào mưu kế của satan bày cho để có ý diệt Đấng vô tội, chứ không phải giết người phụ nữ ngoại tình. Như thế, một tay chúng nắm chặt Luật Mô-sê (Luật thánh), tay kia chúng nắm chặt satan ! Đức Giê-su biết rõ bản chất chúng như vậy, thế mà Ngài chỉ nhẹ nhàng nói : “Ai trong các ngươi thấy mình vô tội, thì lượm đá ném chị này trước đi” (Ga 8,7), Ngài có ý nói như thế để chúng biết xấu hổ mà sám hối ăn năn, hòng được Ngài thương xót tha thứ tội, thoát án tử!


5/ ĐỨC GIÊSU LÊN ÁN KẺ KHÔNG BIẾT LẤY CÁI ĐÀ RA KHỎI MẮT MÌNH TRƯỚC
, đó là thâm ý hại người,  mà lại đòi lấy cái rác ra khỏi mắt anh em (x Mt 7,1-5). Biết đâu những kẻ tố cáo chị này,chính chúng là thủ phạm, như hai kỳ mục háo sắc trước bà Susanna (x Dn 13). Thật ra “tuổi thọ đáng kính không phải bởi sống lâu, cũng không do cao tuổi, người sống không vết nhơ mới thực là sống thọ” (Kn 4,8-9).


6/ NHỮNG NGƯỜI TỐ CÁO TỘI NGƯỜI KHÁC TRƯỚC MẶT ĐỨC GIÊ-SU
, tất cả đã phải xấu hổ, già rút lui trước, trẻ rút lui sau. Điều này chứng tỏ thân phận yếu đuối của kiếp người, nếu không có Đức Giêsu nâng đỡ, thì họ đi nghịch lại đời sống của Ngài. Đối với Đức Giêsu, “Ngài càng lớn lên càng thêm khôn ngoan, dầy ân sủng trước mặt Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,52), trái lại người ta nếu không thuộc về Chúa Kitô, thì càng sống lâu càng lắm tội (x Ga 8,9 : Tin Mừng). Bởi thế lời Kinh Thánh  nói : “Nếu Chúa chấp tội, nào ai được cứu” (Tv 130/129,3). Nhưng rất may, khi Đức Giêsu xét xử loài người, Ngài nhắm mắt làm ngơ trước tội lỗi của họ, miễn là họ đã kiên trì sống Đức Ái trong Hội Thánh (x Mt 25,34-40 ; HCHT số 14), vì “Đức ái phủ lấp muôn vàn tội lỗi!” (1Pr 4,8).

Vậy nếu Chúa cho ta sống thọ, là nhằm tạo cho ta có điều kiện làm nhiều việc lành phúc đức, có thế mới không run sợ như quỷ gặp Đức Giêsu (x Gc 2,19), vì “ai biết xót thương người, thì coi thường việc xét xử” (x Gc 2,13).

7/ NƠI TÒA ÁN ĐỜI, NGƯỜI VÔ TỘI MAY MẮN LẮM ĐƯỢC THA BỔNG RA VỀ TAY KHÔNG ; thua xa kẻ có tội trước Tòa Thiên Chúa xét xử (Bí tích Thánh Tẩy, Giao Hòa, Xức Dầu, Thánh Thể), thì lại được tha bổng ra về mang theo ân lộc dồi dào phong phú hơn tội đã phạm (x Rm 5,20).

Tại một làng miền nam nước Ý, có luật dân làng trở thành truyền thống : ai bắt được một người phụ nữ ngọai tình khi chồng còn sống, thì dân làng sẽ báo cho chồng biết trước một ngày. Ngày hôm sau, dân làng dẫn cô vợ mất nết ấy lên một triền núi và xô xuống vực thẳm cho chết, để làm gương răn dạy các phụ nữ khác trong làng.

Không may cho bà Cathérine Margot đã bị dân làng bắt quả tang ngoại tình với một người làm công lúc chồng vắng nhà. Người ta đã báo tin cho anh chồng Auguste Maquet, và cứ theo luật của làng, cô vợ sẽ bị xử ! Thế là anh chồng đi mua ngay một chiếc lưới rộng, đưa giăng trước dưới chân núi. Lúc dân làng xô cô vợ xuống, anh vội đỡ lấy và đưa về nhà, vì anh muốn “yêu vợ như Đức Ki-tô yêu Hội Thánh” (Ep 5,25), và phải nên giống Đức Giêsu “đã yêu thì yêu đến cùng” (Ga 13,1).


Từ ngày ấy, vợ anh luôn tỏ ra biết ơn chồng cách đặc biệt, cụ thể cô luôn làm vừa lòng chồng, hăng say làm mọi việc trong nhà, nên không cần phải mướn ai đến làm công nữa, mà công việc nhà chu đáo hơn trước.

THUỘC LÒNG

Tuổi già đáng kính trọng không phải vì trường thọ, cũng không phải vì cao niên, nơi người đời chắc gì tóc bạc đã là tinh khôn, sống không vết nhơ  mới là trường thọ ! (Kn 4,8-9) 

 

lm GIUSE ĐINH QUANG THỊNH

Lên đầu trang