Theo Chúa đến cùng

5/5/2013 7:41:12 PM
Tuần 6 Phục Sinh - Ga 15, 26-16,4; Cv 16, 11-15

Chúa Giêsu đã báo trước cho các môn đệ: “Người ta sẽ trục xuất chúng con ra khỏi hội đường, và có lúc những kẻ giết chúng con lại tưởng đó là phụng thờ Thiên Chúa”.

Đây là số phận của các Tông Đồ, số phận của những ai tin vào Chúa Giêsu, vì như Ngài đã nói: “Môn đệ không trọng hơn Thầy, tôi tớ không hơn chủ”. Khi Phêrô hỏi Chúa: “Phần chúng con, chúng con bỏ mọi sự theo Thầy, chúng con được gì?”. Chúa trả lời: “Chúng con sẽ được gấp trăm ngay ở đời này cùng với sự bắt bớ”. Thật vậy, dân Do Thái đã không chấp nhận lời giáo huấn và tinh thần của Chúa Kitô, vì Ngài đòi hỏi họ phải thay đổi cuộc sống chỉ dựa trên lề luật cứng nhắc, để chú tâm vào yêu thương và phục vụ mọi người. Vì thế, họ ghét bỏ và tìm mọi cách để tiêu diệt Chúa và các Tông Đồ, để khỏi phải nghe những lời chân lý đó. Hơn nữa, họ còn xem việc triệt hạ này là để làm vinh danh Thiên Chúa nữa.


Nhưng Thiên Chúa của họ là Thiên Chúa nào? Chắc chắn họ thuộc về dòng dõi của Abraham, người được Thiên Chúa chọn để làm tổ phụ dân tộc Do Thái. Nhưng trải dài qua lịch sử, dân tộc này đã nhiều lần chối bỏ Thiên Chúa để chạy theo các thần ngoại bang, và đã có lần xem tượng bò vàng là Thiên Chúa của họ. Đến thời Chúa Giêsu, việc thờ phượng Thiên Chúa của họ chỉ còn trên môi miệng. Họ xem việc giữ luật lệ bên ngoài là điều chính yếu của đạo. Có thể nói, đối với họ, người nào giữ luật là người thờ phượng Thiên Chúa. Nói cách khác, họ hạ giá Thiên Chúa xuống ngang hàng với lề luật. Vì thế, Chúa Giêsu đã chỉ trích cách giữ luật vô hồn của họ, và mời gọi họ sống tinh thần của lề luật, nhất là luật yêu thương. Và họ đâm ra thù ghét Ngài.


Ngày nay, thế gian cũng ghét bỏ những người tin theo Chúa, vì họ đã chọn một “Thiên Chúa” khác theo sở thích của mình. Có người chọn khoa học làm “Thiên Chúa” của họ. Có người xem ăn chơi, hưởng thụ là “Thiên Chúa” của họ. Người khác xem quyền lực, tiền bạc hoặc một lý thuyết nào đó là “Thiên Chúa”. Ví dụ: chủ nghĩa Phátxít do Hitler chủ trương cũng là một lý thuyết độc tôn bắt mọi người phải theo. Vì thế, không lạ gì khi những người này chống đối, vu khống và tìm mọi cách tiêu diệt những người tin vào Chúa Giêsu, những người không chung lập trường với họ.


Nhưng cho dù phải bắt bớ, tù đày, người môn đệ của Chúa vẫn luôn can đảm làm chứng cho chân lý và đức tin của mình. Như Thầy Chí Thánh, các Tông Đồ lần lượt ngã xuống và suốt trong lịch sử, rất nhiều môn đệ của Chúa Giêsu cũng đã chịu bắt bớ, hãm hại. Nhưng Tin Mừng của Chúa thì không ai có thể tiêu diệt được.


Cách đây không lâu, ở nước El-Salvado, Đức Cha Oscar Romero đã hết sức công khai bênh vực những người nghèo khổ, lương cũng như giáo, đang bị bóc lột, đàn áp. Ngài cương quyết bênh vực lẽ phải, bênh vực quyền lợi của người nghèo, bất chấp những lời đe dọa của những người giàu có, xem tiền bạc và thế lực là “Thiên Chúa”. Một ngày kia, khi đang dâng thánh lễ trong một bệnh viện, kẻ địch đã nã súng vào Ngài. Ngài ngã gục xuống, máu của Ngài đã hòa lẫn với máu của Chúa Giêsu trên bàn thờ. Đó là thánh lễ cuối cùng của đời Ngài. Tin này đồn vang khắp nơi. Người ta tỏ lòng kính phục Ngài và nhắc đến tên Ngài như một tấm gương anh dũng bảo vệ chân lý, bênh vực người nghèo. Khi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đến thăm Anh Quốc, tại nhà thờ Anh Giáo ở Luân Đôn, người ta cũng để di ảnh của Đức Cha Oscar Romero để tỏ lòng khâm phục Ngài. Những chứng nhân anh hùng đức tin như Đức Cha Oscar Romero rất đáng được mọi người khắp nơi, không phân biệt tôn giáo, kính trọng và yêu mến.


Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta biết can đảm làm chứng cho Chúa, sẵn sàng chấp nhận thử thách hy sinh, hầu làm vinh danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Amen.

 

ĐHY F.X Nguyễn Văn Thuận

Thứ hai 06-05-1991

Thế tục hóa 

Bài huấn đức tối 06-05-1991

 

Lần trước chúng ta đã nói chuyện về thời đại của chúng ta với khả năng vô biên của con người, và mặt trái của thế giới ngày nay với bất công và nghèo đói, cũng như nạn nhân mãn ở các nước nghèo, và trào lưu vật chất tiêu thụ ở các nước giàu có. Những vấn đề này, trực tiếp hay gián tiếp, đã tạo nên những khủng hoảng trong Giáo Hội. Vì thế, hôm nay chúng ta tìm hiểu thêm về phương cách vượt qua khủng khoảng và đóng góp của Giáo Hội trước các vấn nạn đó.

Tất nhiên đây là một vấn đề toàn cầu cần được mọi người ý thức và nỗ lực đóng góp phần mình để giải quyết. Nhưng một cách cụ thể, nếu chúng ta được người giáo dân trực tiếp đặt câu hỏi: “Việc đó giải quyết như thế nào” thì phải trả lời làm sao? Chẳng lẽ chúng ta lại bảo: “Đó là chuyện thế gian. Về ngay. Cút. Bước. Hay cứ về rồi Cha cầu nguyện cho”. Kiểu trả lời này không còn thích hợp cho giáo dân tiến bộ ngày nay. Họ chờ đợi nơi linh mục của thời đại này một hướng dẫn rõ ràng và thực tế hơn. Nếu chúng con không chuẩn bị sẵn sàng, không cập nhật với những vấn đề của thời đại, chắc chắn chúng con sẽ thất bại, vì không đáp ứng được những thao thức của con người.


Đời sống tâm linh của con người luôn cần một thần tượng để noi theo. Vì thế, sau những biến cố đau thương, nhất là chiến tranh, con người thường bị thất vọng, vì thần tượng mà họ đặt trọn niềm tin, nay đã sụp đổ hoàn toàn. Kinh nghiệm của hai môn đệ trên đường Emmaus là một thí dụ điển hình:  “Chúng tôi tưởng chính Ngài sẽ thống trị thế giới, vậy mà người ta đã đóng đinh Ngài, hôm nay đã là ngày thứ ba... rồi mấy phụ nữ đi thăm mộ về còn kể chuyện gặp thiên thần hiện ra nói Ngài đã sống lại”... Khi mọi sự sụp đổ, con người thất vọng. Nhưng đó chính là thời điểm thuận lợi để con người tìm đến với Thiên Chúa, là Thần Tượng không bao giờ lỗi thời.


Cha nói chuyện ấy có cơ sở cả. Nước Nhật là một ví dụ cụ thể. Thời kỳ chiến tranh, Nhật Bản phát động chủ nghĩa Đại Nam Á. Họ chiếm đánh sang tới Trung quốc, qua Thái lan, Singapore, Việt Nam, Miến Điện, Philippines để làm thành khu vực Đại Nam Á này. Và mỗi nơi chiếm được, họ thu góp những vật quý giá đem về nước mình. Đức Cha Các của Địa Phận Quy Nhơn kể lại với Cha về một giáo xứ gần bờ biển mà Ngài phụ trách thời đó. Nhiều ngày sau lễ sáng, giáo dân đổ xô ra bờ biển xem tàu Nhật với máy bay Mỹ bắn nhau. Họ để ý chỗ tàu Nhật bị bắn chìm rồi khi hết đánh nhau, họ lặn xuống và tìm thấy nhiều kim loại quý trên tàu này... Bị thất trận, dân Nhật đâm ra thất vọng, và mới tìm đến với đạo Công Giáo. Thấy vậy, các vị thừa sai vội xin Đức Giáo Hoàng cho người sang Nhật truyền giáo. Đức Giáo Hoàng Piô XII kêu gọi các dòng tu ở Âu Châu phái người qua đó. Nhưng các dòng tu rề rà hội họp, bàn tới bàn lui. Đến khi quyết định đưa người đi truyền giáo, thì người Nhật không cần nữa, vì kinh tế đã phục hồi và họ đã tìm ra được thần tượng khác. Các linh mục thừa sai được gởi sang Nhật cảm thấy lạc lỏng bơ vơ vì xã hội không còn là cánh đồng truyền giáo tốt nữa. Có người xin về lại Âu Châu. Kẻ xin hồi tục vì buồn chán! Chậm mất rồi! Giáo Hội đã mất đi một cơ hội ngàn năm một thuở.

Cho đến bây giờ, số người Nhật trở lại đạo Công Giáo vẫn rất hiếm hoi. Họ làm việc ngày đêm để hưởng thụ và đi du lịch. Người ta tính ở Thành phố Paris mỗi ngày có khỏang 800 người Nhật tới du lịch. Đối với người Nhật, tôn giáo chỉ là một hình thức an ủi, giúp khuây khỏa nhẹ nhàng. Vật chất tiêu thụ đã khiến cho người Nhật không còn muốn tìm kiếm Chúa.


Lần trước Cha đã nói đến trào lưu vô thần vật chất và trào lưu tiêu thụ, như là hai thách đố lớn của Giáo Hội thời nay. Bây giờ Cha nói tới thách đố thứ ba là nạn thế tục hóa. Đức Thánh Cha đã cho thấy nạn tục hóa này rất nguy hiểm, vì muốn gạt Thiên Chúa ra ngoài cuộc sống của xã hội và con người, đồng thời biến tất cả những sinh hoạt tôn giáo, đạo đức thiêng liêng thành chuyện trần thế. Nói một cách đơn sơ dễ hiểu, tục hóa là có tinh thần thế tục. Khác với tinh thần của Chúa và Tin Mừng. Ví dụ: “Thế gian nói: mắt đền mắt... nhưng Thầy thì nói khác: hãy cầu nguyện cho kẻ bắt bớ... để chúng con xứng đáng là Con Chúa... là Đấng làm cho mưa cả người lành và kẻ dữ...” Cũng như tinh thần khó nghèo, khiêm nhượng, chịu đựng, hy sinh... của Tin Mừng đều bị thế gian cho là dại dột, hèn nhát. Và đặc biệt trào lưu tục hóa không chấp nhận giá trị của sự cầu nguyện, vì xem đó là một thái độ thiếu tự tin vào khả năng của con người.


Trong xã hội chúng ta đang sống, tục hóa đã lan tràn khắp nơi, ngay cả trong hàng giáo sĩ.  Một mục sư tin lành danh tiếng, trong một hội nghị lớn, đã phân tích cặn kẽ vì sao có phong trào tục hóa và khủng hoảng trong Giáo Hội (cả Công Giáo và Tin Lành). Ông nói: “Thứ nhất là bởi vì chúng ta hạ giá sự cầu nguyện. Chúng ta đang đánh mất khoa học về Thánh Giá của Chúa. Và chúng ta sống, nói năng, cư xử, hành động, như mọi người khác”. Thật vậy, ngày nay rất nhiều người tin Chúa đã không còn biết cầu nguyện là gì, hoặc không xem việc cầu nguyện là quan trọng trong đời sống của mình nữa. Nhiều người khác còn biết đọc kinh nhưng lại không cầu nguyện. Và cũng lắm người chẳng cầu nguyện và cũng chẳng đọc kinh luôn. Vì thế, Giáo Hội bị khủng hoảng.


Không có đời sống cầu nguyện, ngay cả linh mục cũng dễ bị sa ngã. Và dấu hiệu cho biết một linh mục hoặc một tu sĩ nam hay nữ không còn cầu nguyện, khi vị đó ăn nói, cư xử, hành động như một người bình thường. Chẳng hạn, một linh mục than thở: “Xứ này nghèo rớt mồng tơi”. Đây là kiểu nói của một người “đời”. Làm linh mục chứ đâu phải buôn bán kiếm lợi mà tính chuyện giàu nghèo. Như vậy, chuyện mục vụ giáo xứ đã bị linh mục đó tục hóa, làm mất hết tinh thần của Phúc Âm. Có thể nói nguyên nhân của khủng hoảng ơn gọi linh mục, tu sĩ hiện nay trong Giáo Hội chính là do việc hạ giá sự cầu nguyện và tinh thần tục hóa. Xem chức linh mục như là một nghề nghiệp trong xã hội để sinh sống.

Linh mục hay tu sĩ là một ơn gọi. Điểm chính yếu của ơn gọi này là theo Chúa, kết hợp với Chúa, sống như Chúa đã sống. Vì thế, người linh mục, tu sĩ chọn một sự khôn ngoan đích thực là Thánh Giá của Chúa, chứ không phải kiểu khôn ngoan tính toán của thế gian. Chúa Giêsu đã cảnh cáo các Tông Đồ về khuynh hướng tục hóa này. Phúc Âm kể lại: Khi Chúa đi ngang qua vùng Samaria, người ta ném đá xua đuổi Chúa. Ông Gioan hăng hái đề nghị: “Thầy để cho con xin lửa từ trời xuống thiêu đốt họ”. Và Chúa nhắc nhở: “Tinh thần của chúng con là tinh thần của ai vậy?” Và chính Ngài cũng đã nhiều lần bị đưa vào bẫy tục hóa. Ma quỷ cám dỗ Ngài: “Nếu Ông đói, hãy biến những viên đá này thành bánh”, ”Nếu Ông là con Thiên Chúa, hãy lao mình xuống khỏi nóc đền thờ...”, “Nếu Ông là con Thiên Chúa, hãy tự mình xuống khỏi thập giá để chúng tôi tin”. Nhưng Chúa đã không sa vào những cám dỗ tục hóa đó, vì Ngài luôn vâng phục thánh ý của Chúa Cha, sống kết hợp với Chúa Cha, để hoàn tất chương trình của Chúa Cha. Đó là gương mẫu của người linh mục và tu sĩ nam nữ. Tìm thánh ý Chúa, chứ không phải chạy theo ý của thế gian.


Năm 1959, Cha có dịp viếng thăm Canada và Mỹ. Khi tới Canada, Cha ghé thăm một trung tâm hành hương của Dòng Chúa Cứu Thế rất lớn. Đúng ngày Lễ Bà Thánh Catarina, quan thầy của trung tâm đó, người ta tổ chức rước kiệu cả ngày đêm. Bỗng có một bà ngoại quốc đến hỏi Cha: “Cha ở nước nào?” Cha trả lời: “Tôi ở Việt Nam”. Bà hỏi tiếp: “Ở Việt Nam các linh mục có cầu nguyện không?” Cha thắc mắc: “Sao bà hỏi hay vậy, có cầu nguyện chứ”. Bà than thở: “Vậy mà ở đây, các linh mục chẳng cầu nguyện gì cả. Chúng con buồn lắm. Các ngài chơi tenis, coi truyền hình không biết chán. Còn làm lễ và cầu nguyện thì bỏ luôn”. Câu nói ấy làm Cha suy nghĩ. Bây giờ ở Canada càng ngày càng thiếu ơn gọi. Đó là hậu quả của việc hạ giá cầu nguyện và tinh thần tục hóa. Thánh Phaolô ngày xưa đã phải cảnh cáo về sự tục hóa này: “Tôi nói điều này với anh em trong nước mắt, chính họ đã trở thành kẻ thù của Thập Giá Chúa Kitô. Họ lấy cái bụng làm Chúa của họ”.


Như vậy, chúng con đã tìm ra câu trả lời cho các vấn nạn của Giáo Hội ngày nay. Hãy chuyên tâm cầu nguyện và sống tinh thần của Tin Mừng. Mọi quyến rũ của vật chất tiêu thụ, của trào lưu tục hóa sẽ chẳng bao giờ có thể ảnh hưởng được trên cuộc đời của những ai sống liên kết với Chúa và làm tất cả cho vinh danh Thiên Chúa, theo gương mẫu của Chúa Giêsu Kitô.

Lên đầu trang