Thấy vậy mà không phải vậy...

1/15/2021 4:59:21 PM
Lúc nhỏ, con người rất rạch ròi trong việc bộc lộ và thể hiện cảm xúc. Trẻ con không biết nói dối trong việc bộc lộ cảm xúc. Chúng rất rõ ràng trong việc yêu và ghét. Yêu thì diễn tả rõ ràng. Ghét thì tỏ hiện cụ thể. Người lớn chúng ta thì không như vậy. Thực tế cuộc sống cho chúng ta những trải nghiệm tốt và xấu, thành công và thất bại, may mắn và rủi ro, đớn đau và vui cười...

Cuộc sống muôn màu muôn vẻ nên người lớn không thể cứ vui là cười, buồn là khóc, yêu là “giãn cơ mặt - nheo cơ mắt - nhoẻn cơ miệng” ra, còn ghét là “đanh mặt - trừng mắt - bậm môi lại”. Vốn sống phong phú hơn, vốn cảm xúc của chúng ta cũng bớt độ nhạy cảm và hồn nhiên nên không hẳn người lớn có thể hồn nhiên bày tỏ cảm xúc thật trong lòng.

 

augustine.jpg

 

Nhiều lúc lòng thì đau mà mặt thì phải cười, vì hoàn cảnh đòi buộc, vì  để người khác không phải lo lắng, hay vì muốn bộc lộ tâm trạng thật tâm. Nhiều lúc lòng vui vẻ và bình an nhưng nếp nhăn trên mặt vẫn hằn sâu vì sức nặng của năm tháng và tuổi đời, lưng vẫn còng xuống vì gánh vác gia đình và công việc đó thôi. Nhiều lúc không thích người đối diện nhưng vẫn phải tỏ ra dễ mến, không phải vì giả tạo nên diễn sâu để trục lợi, để khai thác, hay nịnh hót gì nhưng chỉ vì muốn thực hiện giới răn yêu thương của Chúa cho dù người đối diện quá khó thương. Nhiều lúc khác lại cần phải cứng rắn, rõ ràng trong khi góp ý, dạy dỗ, chia sẻ để người khác hiểu đúng ý mình dù phải luôn lịch sự, tế nhị và nhẹ nhàng. Thế giới của người lớn phức tạp thật! Thử lấy một ví dụ. Mấy đứa con nít hay mấy cô cậu tuổi teen thường không thèm chào hay nhìn mặt người chúng không ưa. Nhưng là người lớn, một người đã trưởng thành thì không ai làm vậy. Là người lớn, có lẽ không ai gặp người lớn hơn mà không chào, cho dù bản thân trong lòng không có thiện cảm đi nữa, nếu không muốn bị đánh giá là thiếu nhân bản, thiếu lễ phép và biết trên biết dưới, trừ những trường hợp người kia quá đáng hay khó nể quá lắm...                                                                                                

 

Là người lớn, chúng ta trưởng thành hơn trẻ con để có những lúc cần tránh nói thẳng về cảm xúc thật của mình về người khác hay những hoàn cảnh trong đời. Đó là một điều tốt, vì một người trưởng thành sẽ không lúc khóc lúc cười thất thường như trẻ con. Dĩ nhiên, tùy theo bản tính mỗi người nữa, có những người thoải mái khi bộc lộ cảm xúc mà không dè giữ gì cả. Ghét thì nói ghét, thích thì nói thích. Nhưng cho dù người bộc trực nhất đi nữa, có những lúc họ cũng không bộc lộ hết cảm xúc của mình trong những hoàn cảnh cụ thể. Mặt khác, mỗi người chúng ta cũng có rất nhiều lúc thoải mái bộc lộ cảm xúc mà không dè giữ (coi hài thì cười, coi phim ma thì mặt căng thẳng thấy rõ, nghe tin buồn thì không tíu tít cười đùa) nhưng cứ bình diện chung thì người ta sẽ quân bình hơn trong việc thể hiện cảm xúc. Điều đó khiến chúng ta kiểm soát bản thân tốt để hoàn thành những nghĩa vụ trong cuộc sống. Hơn nữa, đối diện với một người mà ta khó thương, thì ân cần niềm nở với họ còn có nghĩa là tôn trọng nhân vị của con người đó cho dù những tính tình, tật xấu, thói quen của họ có không hợp với ta hay họ chưa tốt. Chúng ta quý mến người đó trong tổng thể cả con người họ và nhìn ra những điểm tích cực thay vì chỉ chăm chú nhìn vào những điểm tiêu cực nơi họ. Đó là điều đức bác ái Kitô giáo dạy: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Thế nên nhiều khi không đồng ý hay không thích tính này tật nọ nơi một người nào đó, người trưởng thành không nhất thiết phải bộc lộ cảm xúc khó chịu. Ngược lại chính sự ân cần niềm nở và tôn trọng của những người cao thượng, tốt lành, có nhân cách lớn lại có thể biến đổi và cảm hóa chính những trái tim khó thương, những tính tình kì dị nhất. Những người kia thường là những người đáng thương, vì chính họ cũng bị tổn thương nên thường cũng muốn gây tổn thương cho kẻ khác. Nhưng họ sẽ được cảm hóa vì thấy người khác không trả đũa họ như họ cư xử. Đó là điều chúng ta thường xuyên đọc thấy nơi cuộc đời của các thánh và cung cách ứng xử của các ngài. Đó cũng là một trong những điểm khác nhau giữa chúng ta và các thánh. Đơn cử, khi gặp những sự trái ý hay bị quở trách, bị hiểu lầm, bị thóa mạ có lẽ ít có ai có thể kiềm chế cảm xúc, nhưng cách khôn ngoan lại là hết sức kiên nhẫn và nín nhịn. Nhưng người trưởng thành và trầm tĩnh sẽ chỉ phải nói lên bức xúc của mình đúng dịp và đúng cách. Đúng dịp là khi người ta lấn lướt chúng ta nhiều lần, khi người ta sai mà không biết, hay khi không nói thì hậu quả sẽ xấu hơn. Đúng cách là từ tốn nhưng rõ ràng, hiền từ nhưng nghiêm túc. Chỉ bốp chát ăn thua đủ lại cho kì được, có thể kết quả là có thể chúng ta sẽ thắng, sẽ hòa hay sẽ thua. Nếu chúng ta thắng, gặp kẻ yếu hơn họ sẽ hận chúng ta, gặp kẻ mạnh hơn họ sẽ tìm cách hại chúng ta. Nếu hòa, hai bên sẽ không nhìn mặt nhau. Nếu chúng ta thua, nếu là người cấp dưới thì họ sẽ hả hê, nếu là người cấp trên họ sẽ đắc thắng. Kiên nhẫn và nín nhịn khi biết mình nói không đúng dịp và đúng cách, có thể chúng ta sẽ rất khó chịu. Nhưng khi kẻ khác xả giận trên chúng ta xong mà thấy thái độ như thế, họ sẽ tự nhìn lại bản thân và mắc cỡ vì hành vi không đúng của mình. Chúng ta có thể đốp chát lại, nhưng vậy thì cũng chẳng được gì. Nhưng nếu nhịn, chúng ta sẽ có cơ may thay đổi (nếu không muốn nói là cảm hóa, hoán cải) được người khác, kể cả những người ghét chúng ta thậm tệ, rồi tìm cách trình bày quan điểm sau (còn nếu biết họ chẳng muốn nghe thì giữ thinh lặng luôn đi cho nhẹ lòng). Dĩ nhiên, không loại trừ khả năng có những lúc chúng ta cũng phải bộc lộ thái độ khó chịu hay phản kháng, không đồng tình với lời nói, hành vi hay tư tưởng của họ nếu điều đó là điều xấu rõ ràng và nghiêm trọng. Bởi vì không phản kháng lại những xúc phạm của người khác là không đủ tự trọng. Nhưng cách chung, kiểm soát cảm xúc, tư tưởng, lời nói và hành vi của mình là dấu chỉ của một người trưởng thành, quảng đại và cao thượng.

 

Tuy nhiên, điều gì trong đời cũng có thể có hai mặt. Việc không bộc lộ cảm xúc như trẻ con cũng có thể trở nên những thứ “mặt nạ” và “áo giáp”, có nguy cơ làm cho chúng ta sống không thật với lòng mình nếu không để ý. Nhiều lúc không thể cứ bộc lộ mọi cảm xúc hay suy nghĩ chúng ta có về người khác nên có khi người ta ghét nhau thậm tệ nhưng ngoài mặt thì cứ thản nhiên như cùng một phe vậy rồi sau lưng đâm chọt, chỉ trích, tố giác nhau. Nhiều lúc người ta nói với nhau đủ mọi chuyện tào lao trên trời dưới đất nhưng tránh nói về những việc chung, những việc cần phải làm vốn có khả năng gây xung đột quan điểm khi suy tư cách nghiêm chỉnh, khi ai cũng muốn bảo vệ quan điểm mình mà thiếu lắng nghe nhau. Điều đó dẫn đến nhiều hệ lụy: trống đánh xuôi kèn thổi ngược, “chín người mười ý” và người thi hành không biết làm sao cho cân bằng. Nhiều khi người lớn chúng ta sống với nhau mà bằng mặt không bằng lòng, rồi lại cứ có dịp thì những xung đột đó lại thể hiện ra chứ đâu thể nào giấu được. Thế nên nhiều người mới thốt lên: Người sống với người phức tạp quá! Cứ đơn sơ hồn nhiên như con nít có phải bớt lo nghĩ không? Nhưng làm gì có thể trở lại như con nít được nữa! Có những nhóm bạn hồi nhỏ chơi rất thân với nhau, tới khi lớn lại không thuận với nhau. Có đứa ghét nhau ra mặt, có đứa lại không ghét nhau, bên ngoài vẫn cười đùa vui vẻ nhưng sau lưng thì nói xấu lẫn nhau. Những cách ứng xử này có mặt ở khắp mọi nơi: trong đạo và ngoài đời, nơi công ty hay chốn nhà tu, một tập thể lớn hay một nhóm nhỏ... Ở đâu cũng vậy thôi. Từ việc kiểm soát tốt các cảm xúc của mình, nếu không ý thức, chúng ta dễ trở nên hai mặt, giả tạo, ứng xử với người khác không thật.

 

Đây đâu phải là điều dễ dàng. Mỗi người cần phải tự phân định thế nào cho cách ứng xử của mình đúng mực: đừng quá chi li xét nét về một vấn đề nhỏ nhặt, trong khi đó cũng không xuề xòa cho những vấn đề quan trọng. Trên tất cả là đức bác ái, nhưng khi cần thiết thì nên bộc lộc cảm xúc: một lời khen cho những điều đẹp và hay người khác thực hiện, một lời góp ý chân thành tế nhị trước những điểm còn hạn chế, tôn trọng không có nghĩa là không được phép bất đồng quan điểm, và bác ái không có nghĩa là ngại góp ý khi cần thiết cho nhau. Đừng quá ngây thơ cho rằng cứ có vẻ thân thiết là đồng ý với nhau mọi điều, và ngược lại không cùng quan điểm là chống đối nhau. Có những mối tương quan cứ “tình nghĩa người quân tử lạt như nước lã” - như cách diễn tả của một ngạn ngữ Trung Quốc cổ[1] - mà lại dài lâu và khách quan tốt đẹp. Ngược lại cũng có những mối tương quan cứ tưởng là thân thiết lắm cho tới một ngày đẹp trời nào đó, ta chợt nhận ra là đối phương chỉ đối xử với ta cách đãi bôi hình thức (tệ hơn nữa là trục lợi) mà thôi. Cười vui ngoài mặt với nhau có thể xuất phát từ lòng bác ái muốn bỏ qua những tiêu cực và bao dung cho những giới hạn của nhau, nhưng cũng có thể chỉ là xã giao ngoài mặt vì ngại đụng chạm, hay xấu hơn nữa là “cười cười nói nói cả bồ dao găm” mới đáng sợ. Khổ nỗi là người ta vẫn cứ nhập nhằng, vàng thau lẫn lộn như thế trong những tương quan đan xen với nhau trong đời. Người ta hay nói tương quan giữa người với người nhiều khi cũng tốt đẹp lắm, nhưng nhiều lúc cũng “thấy vậy mà không phải vậy”.

 

Có lẽ ý thức nhiều hơn về cuộc phán xét riêng sau cái chết[2] và cuộc phán xét chung[3] trong viễn tượng cánh chung lại làm cho người ta có động lực ứng xử và sống với nhau cách chân thành và tốt lành. Là một thái độ của đức tin, ý thức về việc mình sẽ trình diện trước mặt Thiên Chúa nhân từ nhưng công minh sau khi chết cũng như việc đời sống của mỗi người sẽ được phơi bày trong viễn tượng cánh chung có thể điều chỉnh những gì chưa đúng trong tư tưởng, lời nói và hành động của chúng ta trong tương quan với người khác[4]. Viễn tượng đó cho chúng ta thấy trong vào lúc cuối đời mình và vào ngày sau hết, mọi người sẽ phải tính sổ về tất cả mọi điều họ suy nghĩ, nói năng và hành động (Kn 4,20; Hc 16,12; Lc 16,2). Cả những điều kín ẩn chỉ mình họ biết và những tương quan với người khác đều được phơi bày trước ánh mắt tỏ tường của Thiên Chúa hằng sống, “Đấng thấu suốt mọi bí ẩn” (Mt 6,4). Lưu ý tới “chiều kích đời đời” của mọi tư tưởng, lời nói và hành động của mình, bản thân mỗi người sẽ sống thế nào để ngày sau hết ấy không phải là ngày tôi và người khác vỡ lẽ rằng mình đã “bé cái lầm” về nhau, khi tưởng người này có vẻ tốt với mình lắm (trong khi thực ra họ chơi xấu mình), và ngược lại tưởng người kia có nét mặt không thân thiện với mình luôn tìm cách hãm hại mình (khi thực ra họ vô tội). Có biết bao thứ sai lầm biết bao trong cõi đời này mà lúc ấy mọi sự mới sáng tỏ! Biết bao định kiến chúng ta có, cảm xúc chúng ta bộc lộ về người khác đều có nguy cơ trở nên những thái độ xét đoán người khác cách vội vàng, nông cạn và sai lầm. Bởi lẽ chúng ta bị giới hạn ở rất nhiều thứ: quan điểm, lý trí, tính tình, não trạng... Vậy, trong khi chờ đợi ngày đó hiển hiện và chính bản thân mình không bao giờ hổ thẹn khi đã từng sống không ngay thẳng và chân thành với người khác thì ngay từ bây giờ người ta đã phải nỗ lực tập sống chân thành, ngay thẳng và yêu thương rồi. Bởi lẽ sự sống đời đời đã ẩn tàng từ ngay cõi sống này đó thôi. Và cho dù có nghĩ gì, nói gì hay làm gì đi nữa, thì giới răn yêu thương của Chúa phải được ưu tiên lên hàng đầu, cho dù có những lúc sống bác ái trong tương quan liên vị thật là khó, nhưng cũng thật đáng giá. Bởi vì một người sống chân thành và ngay thẳng thì tâm hồn bình an vì không phải cứ lo lắng, lươn lẹo, tìm thế thủ để đối phó hay tìm cách phủ đầu muốn trên cơ người khác vì muốn chứng tỏ bản thân hay để hạ người khác xuống. Dù không nói ra ngoài mặt nhưng chắc chắn mỗi người đều có thể cảm nhận tương quan giữa mình với một người nào đó là có chân thành hay không, hay xã giao hoặc giả tạo. Bởi lẽ “lòng bác ái không được giả hình giả bộ” (Rm 12,9) và sống với nhau có giả bộ cách mấy đi nữa thì rồi cũng có lúc lộ diện ra mà thôi. Người ta có thể không hợp tính tình với nhau nhưng vẫn có thể sống với nhau cách ngay thẳng và chân thành, và ngược lại vẫn có những người rất hợp tính với nhau nhưng lại sống với nhau lươn lẹo và thiếu chân thành. Sống theo những lời huấn dụ đầy ý nghĩa của Thánh Phaolô trong Cl 3,12-15 thì thật là khó nhưng thật đáng giá. Những lời này đầy thách đố chúng ta thực hành lắm khi trái với bản tính tự nhiên của mình: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo. Ước gì ơn bình an của Đức Ki-tô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó. Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân.”

 

Có một câu ngạn ngữ latin được cho là của Thánh Augustinô rất chí lý: “Hãy hiệp nhất trong những điều chính yếu, tự do trong những điều tùy phụ, nhưng trong tất cả là bác ái.”[5] Tâm tính mỗi người mỗi khác, có khi ngược nhau nữa nên cứ hãy để những điều tùy phụ được tự do, nhưng điều quan trọng là hiệp nhất với nhau trong những gì chính yếu và trên tất cả là lòng bác ái. Quan trọng là mỗi người, trong tương quan với người khác, cũng cần nhớ rằng nếu tương quan ấy bị gãy đổ, thì tương quan với Chúa và với chính bản thân mình nữa cũng gãy đổ nữa. Thánh Gioan đã nói rõ trong thư của ngài, đến hôm nay chúng ta đọc vẫn thấy tính thời sự: Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy(1 Ga 4,20) Sống chân thành, bác ái và yêu thương tha thứ là những điều rất khó, nhưng nó chứng tỏ bản lĩnh của những con người Kitô hữu trưởng thành, nỗ lực sống tốt lành thánh thiện và là “thứ giấy quỳ” để thử những môn đệ đích thực của Đức Giêsu.

 

Con chiên nhỏ - Những ngày cuối tháng 12/2020



[1] Nguyên bản: “Quân tử chi giao đạm nhược thủy, tiểu nhân chi giao cam nhược lễ; Quân tử đạm dĩ thân, tiểu nhân cam dĩ tuyệt” x. AN HÒA, Người quân tử kết giao đạm nhạt như nước, đăng ngày 19/12/2020, truy cập ngày 30/12/2020, https://trithucvietnam.org

[2] GIOAN PHAOLÔ II, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của Ủy ban Giáo Lý Đức Tin, NXB Tôn Giáo, 2012, số 1021-1022

[3] GIOAN PHAOLÔ II, Sđd, số 1038-1041

[4] GIOAN PHAOLÔ II, Sđd, số 1039

[5] Nguyên bản: “In necessariis unitas, in dubiis libertas, in omnibus caritas”. Thật ra dịch là “Hãy hiệp nhất trong những điều chính yếu, tự do trong những điều tùy phụ, nhưng trong tất cả là bác ái” cũng đã là chuyển dịch ý nghĩa rồi. Đúng ra phải dịch là: “Hãy hiệp nhất trong những điều cần thiết, tự do trong những điều còn nghi vấn, nhưng trên hết tất cả là bác ái”. Tư tưởng này thường được sử dụng để nói về sự tự do cần có trong bầu khí tôn giáo và tranh luận thần học. Cách sử dụng câu này ở đây chỉ mượn lấy tinh thần đó để diễn tả tư tưởng mà thôi.

Lên đầu trang