Thầy tụng đưa tiễn kẻ có đạo

11/6/2012 5:10:36 AM
Tại một Giáo xứ nọ, có câu chuyện kể rằng: một thanh niên kia tòng giáo theo đạo vợ là người Công giáo thuộc một Giáo xứ cách xa gần 200 Km.

Hai người sống với nhau được vài năm thì chàng ta phát hiện mình bị ung thư ác tính và ngã bệnh. Vợ và mẹ chồng chạy chữa tốn công tốn tiền mà chẳng khả quan gì. Vợ anh cho mời linh mục đến làm phép xức dầu. Anh ta rồi cũng sống thêm được ít lâu.   

 

Trong năm đó, vợ anh và mẹ ruột tìm đến nhiều nhà hảo tâm: Cha xứ, Caritas, người thân quen… hầu hy vọng sẽ được trợ giúp phần nào về kinh tế. Ít nhiều gia đình cũng bớt khổ. Bẵn đi khá lâu không ai thấy mẹ anh (là người ngoại) và người nhà đến cầu viện Cha xứ hay một người có đạo nào trong xứ. Một ngày nọ, hàng xóm nghe nhà chàng ta có tiếng gõ mõ. Hỏi ra mới biết người nhà mời thầy về cúng xả xui. Vì rằng trước đây đã bị linh mục “ém nước” trên anh nên bệnh khó khỏi và tất nhiên khó siêu thoát- (vì trong nghi thức lãnh bí tích xức dầu có rảy nước thánh để cử hành sám hối). Rồi sau đó 2 ngày, làng xóm lại nghe thêm tiếng trống- chiêng dồn dập của thầy tụng để tiễn anh về nghĩa trang của làng…. Người có đạo trong làng chẳng ai biết chuyện xảy ra- kể cả vợ anh đang dưỡng thai tại bệnh viện. Họ chỉ nghe tiếng trống rồi hỏi han và biết anh đã chết. Ba anh là một người đạo gốc lấy vợ người lương và sống giữa người lương, cộng với bệnh hoạn lâu năm và phải lệ thuộc hoàn toàn phía vợ, chắc hẳn muốn đến Nhà thờ phải có “phép vợ”. Gia đình anh (mẹ và anh chị em khác) đương nhiên là không tin có Chúa và sự sống Thiên đàng đời sau…

 

Câu chuyện được kể lại trong Giáo xứ như một sự việc trôi qua bình thường, có lẽ ít ai thắc mắc, đau lòng hay tội nghiệp cho một linh hồn thiếu chuẩn bị phần kết theo cách kẻ có đạo. Lẽ đương nhiên là ơn cứu độ luôn thuộc quyền Thiên Chúa ban cho, nhưng phần chuẩn bị cho một người đón nhận ơn ấy thuộc về con người. Sự bàng quang của kẻ có đạo cũng như người lương trong xứ đối với anh quả đã để lộ chỗ trống khiếm khuyết rất lớn trong đời sống đức tin và việc tông đồ của người Công giáo. Cũng có thể do phía gia đình lương dân, họ chỉ nghĩ đến chuyện đạo nghĩa khi được giúp sức tiền bạc đến nơi đến chốn từ phía người Công giáo, trong khi đó sự giúp đỡ này không thấm vào đâu so với hy vọng của gia đình. Và có thể như thế, người lương không cần đến chuyện đạo nghĩa của người Công giáo. Nhưng cũng nên nhận rằng kẻ có đạo thiếu sự sốt sắng trong trường hợp này. Ở trường hợp khác, có khi Cha xứ và Giáo dân phải chạy đua với thầy tụng trên một đoạn đường đưa tiễn: hẹn giờ cho tiện cộng đoàn đọc kinh và cử hành nghi thức sau cùng, nhưng khi đến đám tang thì thầy tụng đã đưa đi “mất xác” vì giờ thầy coi thì sớm hơn giờ của Giáo xứ định (cho dù người chết mới tắt thở trước đó chỉ một giờ).

 

Sự kiện nào cũng qua đi, người Công giáo vẫn hy vọng vào tình thương của Chúa. Nhưng trong năm đức tin này và trong tháng Giáo hội hướng người tín hữu đặc biệt nhớ đến các linh hồn thì chính chúng ta lại thấy có gì đó cần “đấm ngực” và phải bổ túc cho đời sống chứng tá đức tin của mình. Việc Tông đồ rao giảng đức tin thuộc về mọi người. Cuộc rao giảng không thể qui trách riêng cho hội Lêgiô, Gia trưởng, Bà mẹ Công giáo, ban loan báo Tin Mừng, Têrêxa … Và trong chính sinh hoạt của một hội, họp hội kinh hạt dài vắn, nhiều ít không quan trọng cho bằng có sinh hiệu quả nơi việc tông đồ hay không. Đọc kinh dài lê thê cho trọn “bộ lễ” cũng được; đọc vắn tắt gọn gàng để tiết kiệm thời gian cũng được; họp hành hát hò hay dở, đại hội lớn nhỏ gì cũng được, nhưng mức độ đánh giá về các sinh hoạt của chúng ta nằm ở cảm nhận về “điều cần tin” nơi người lương bên cạnh.

 

Người ta có thể qui trách ở nhiều khía cạnh khác nhau về những thiếu sót. Trong Năm đức tin, cách riêng người Gia trưởng chúng ta cần phải “đấm ngực” về những thiếu sót do không có nỗ lực sống “đức tin cần có việc làm” (x. Gac 2,17). Lễ lạc, kinh hạt, hội họp, việc bác ái… phải dẫn người ta đến hệ quả thay đổi lối sống làm chứng tá Tin mừng Chúa Kitô. Người nói hay, người đạo đức thật sự phải là người có khả năng làm cho người khác (nhất là lương dân) nhận ra sự cần thiết sự có mặt của Giáo hội trong mọi tình huống của họ. Nếu không nhắm đến và đạt mục đích này, nhìn ở một góc cạnh nào đó, đức tin của chúng ta chỉ là một tình trạng “rỗng tuếch” như nhận định của Thánh Giacôbê (x. Gac 2,20). Ước mong nhờ ơn Chúa, qua Năm thánh này, đức tin người Gia trưởng ngày càng sắc son, bén nhạy và rõ rệt hơn nơi đời sống mình.

 

Lm Phêrô Hồ Đức Thắng

Trang Gia trưởng, Liên Lạc GP Phan Thiết số 46 11/2012

Lên đầu trang