Tại sao phải yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân?

10/29/2021 6:22:03 PM
(Suy niệm Chúa nhật 31 TNB)

men-chua-thuong-nguoi.jpg

Trong đời sống đạo thường ngày, mỗi ki-tô hữu phải thú nhận với nhau rằng tôi chưa thật sự sống được chiều kích: mến Chúa và yêu người được. Mến Chúa qua các việc đạo đức thì tôi chu toàn hầu như đầy đủ nhưng phải nói rằng rất là khó để đem những Lời Chúa dạy để thực hành nơi đời sống thường ngày đối với anh chị em bên cạnh tôi. Tại sao vậy? Tôi cũng chưa biết lý do nhưng tôi cho đó có thể là tôi chưa đủ yêu mến Chúa? Mà một khi chưa yêu mến Chúa đủ thì làm sao tôi yêu thương tha nhân chung quanh tôi được? Phụng vụ Lời Chúa của Chúa nhật 31 thường niên năm B hôm nay như một lời nhắc nhở và mời gọi tôi làm lại hành vi yêu mến: Mến Chúa và yêu người.

1/Tại sao tôi phải yêu mến Thiên Chúa?

Đây là một hành vi thờ phượng hay còn gọi là nhân đức thờ phượng. Khi chúng ta thờ phượng là vì chúng ta yêu mến. Chúng ta yêu mến Thiên Chúa của chúng ta vì chính Ngài là Đấng Sáng Tạo muôn loài muôn vật, trong đó có mỗi một người chúng ta. Chúng ta hiện hữu là vì tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Đức tin của chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng lọn tốt lọn lành, là Đấng vô thuỷ vô chung, là Đấng quyền năng vô cùng, thiêng liêng vô cùng, phép tắc vô cùng, là Đấng yêu thương vô cùng đối với nhân loại lầm than.

Nơi bài đọc I, Ông Mô-sê khuyên dạy dân Is-ra-en: “Anh em cũng như con cháu anh em sẽ kính sợ Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, mọi ngày trong suốt cuộc đời, tuân giữ tất cả những chỉ thị và mệnh lệnh của Người mà tôi truyền cho anh em, và anh em sẽ được sống lâu. Hỡi Ít-ra-en, hãy nghe và lo đem những điều ấy ra thực hành ; như vậy anh em sẽ được hạnh phúc và trở nên thật đông đảo, trong miền đất tràn trề sữa và mật, như Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, đã phán với anh em.“Nghe đây, hỡi Ít-ra-en ! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em. Những lời này tôi truyền cho anh em hôm nay, anh em phải ghi lòng tạc dạ.”(Dnl 6,2-6). Như vậy, chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới thật sự được sống lâu, được hạnh phúc, được trở nên đông đảo và trong mọi miền luôn tràn trề sữa và mật. Quả thật, như Thánh Vịnh 61,2-6: “Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, Hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn, Ơn cứu độ do Người mà đến, Duy Người là núi đá độ trì tôi, Thành lũy chở che tôi chẳng hề nao núng.” Nắm chắc chắn về một vị Thiên Chúa như thế, tại sao chúng ta lại còn chần chừ mà không mau đến với Ngài để sở hữu và yêu mến Ngài hết lòng, hết dạ, hết sức của chúng ta. Nghĩa là chúng ta cần dành Thiên Chúa là vị trí ưu tiên và trên hết mọi sự.

Hơn nữa, Thiên Chúa ngang qua Đức Giê-su Ki-tô thể hiện một tình yêu vô điều kiện đối với con người. Vì yêu thương con người tội lỗi, Thiên Chúa đã nhập thể và nhập thế để làm người giống chúng ta mọi đàng ngoại trừ tội lỗi. Thiên Chúa đó đã hiện diện và ở cùng với con người để thi thố lòng thương xót của Ngài: Ngài đến đem ánh sáng cho người mù tối; trả lại sự lành lặn cho người què quặt; cho người câm nói được; cho kẻ điếc được nghe; những người bệnh hoạn tật nguyền được an ủi, nâng đỡ và được chữa lành; ngay cả kẻ chết đã được hoàn sinh,…Đó là sứ mệnh hay nói khác đi, đó là kết quả của tình yêu vô bờ vô bến của Thiên Chúa dành cho con người. “Vì Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình, để tất cả những ai tin Con Ngài thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời, vì Thiên Chúa không sai Con của Ngài giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con Ngài mà được cứu độ.”(Ga 3, 16-17).

Quả thật, một Thiên Chúa tuyệt duyệt như thế mà không xứng đáng để chúng ta yêu mến Ngài hết mọi sự hay sao? Một Thiên Chúa hiện diện là để giải thoát và mang lại hạnh phúc vĩnh cửu cho con người như vậy, liệu không đủ để con người chúng ta yêu mến Ngài hay sao? Phải chăng sự vô ơn bạc nghĩa và bất trung của con người đang ngày càng thể hiện rõ ngang qua đời sống khô khan, lười biếng mà không muốn nói là bỏ luôn việc thờ phượng và tôn kính Thiên Chúa trong đời sống thường ngày? Chính vì thế, ngang qua các bài đọc hôm nay, chúng ta được mời gọi lục soát lại hành vi thờ phượng và yêu mến của chúng ta đối với Thiên Chúa để quyết tâm biết chọn Chúa và yêu mến Ngài hơn mọi sự và trong mọi sự. Đây là điều răn thứ nhất mà Chúa Giê-su muốn dạy chúng ta tuân giữ. Tuy nhiên, yêu mến Thiên Chúa chưa đủ, mỗi chúng ta được mời gọi hãy yêu thương anh chị em của chúng ta nữa. Vậy,

2/Tại sao phải yêu thương tha nhân như chính mình?

Nhiều người cho rằng ‘tha nhân là hoả ngục hay người với người là chó sói với nhau.’ Tại sao chúng ta lại phải yêu thương họ? Là người tin vào Thiên Chúa Tình Yêu, chúng ta không thể yêu mến Thiên Chúa trong Đức Giê-su, nơi Đức Giê-su mà lại không yêu thương anh chị em đồng loại. Chúng ta sống là sống cho, sống cùng, sống với, sống vì người khác. Hơn nữa, là con cái của Thiên Chúa, là người anh chị em với Đức Giê-su, chúng ta được mời gọi hãy yêu như Chúa đã yêu, sống như Chúa đã sống. Không thể chiêm ngắm một Thiên Chúa tình yêu và đón nhận nhưng không tình yêu của Thiên Chúa mà chúng ta lại vô tâm, vô cảm với anh chị em của chúng ta. Như thánh Gioan Tông Đồ đã nói: “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4, 20). Rất thực tế. Yêu thì phải thật, chứ không thể yêu ảo. Thánh nhân tái xác định: “Ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4, 21). Rất hợp lý, rất lô-gích.

Tuy nhiên, làm sao chúng ta yêu thương được tha nhân khi họ giận ghét, căm thù, nói xấu, nói hành, vu khống, chôm chỉa đồ dùng của chúng ta? Làm sao chúng ta có thể yêu thương nổi anh chị em khi họ hằng ngày lỗi đức bác ái, lỗi đức công bằng, sống ích kỷ, bon chen và tham lam với chúng ta? Làm sao đến được với tha nhân khi họ chơi xấu, hạ bệ, soi mói, ghen tương, khích bác, lườm nguýt, khó chịu với chúng ta?...Biết vậy, nhưng là con cái của Chúa, chúng ta được mời gọi “hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” (Mt 5,44). Đức Giê-su đã xem trọng việc làm hoà hay việc yêu mến anh chị em hơn là của lễ dâng lên Thiên Chúa, khi Ngài nói: “Hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình”. (Mt 5, 24). Như vậy, việc yêu thương anh em như chính mình là điều răn hết sức quan trọng mà Đức Giê-su muốn nói với chúng ta ngang qua lời dạy với người Do Thái.

Thật vậy, trong bộ Luật của người Do Thái, họ đã phân chia thành nhiều điều luật. Người Do Thái thời Cựu Ước có đến 613 khoản luật, gồm 365 điều khoản cấm làm và 248 điều khoản buộc phải làm. Giữa muôn vàn điều răn đó, Người Do Thái cảm thấy bối rối vì không thể nhớ hết được, càng không thể giữ trọn vẹn nên thật khó để chọn lựa phải tuân giữ điều nào, bỏ điều nào. Nhân tiện có người đến hỏi Đức Giê-su, trong các điều luật, điều răn nào quan trọng nhất. Ngài đã đưa ra một câu trả lời thoả đáng không chỉ cho vị kinh sư Do Thái, mà còn cho tất cả các ki-tô chúng ta mỗi thời.

Câu hỏi suy niệm

1/ Tôi đã thực hành đồng thời hai điều răn: Mến Chúa và yêu người không trong đời sống thường ngày chưa?

2/ Nếu chưa, từ nay tôi có muốn cố gắng và quyết tâm để sống không?

3/ Tôi sẽ không bao giờ yêu mến được anh chị em nếu tôi thiếu đời sống cầu nguyện, yêu mến và thờ phượng Thiên Chúa? Ngược lại, tôi sẽ không được Chúa yêu thương tôi, nếu tôi không thể yêu thương anh chị em tôi?

Linh mục Phaolô Phạm Trọng Phương

Lên đầu trang