Sự sống đời sau

10/13/2020 11:54:03 AM
Đức tin cần được biểu lộ ra bên ngòai, chính bởi vậy Kinh Tin Kính còn được gọi là Tín biểu. Có hai Tín biểu, một là của các Tông Đồ ( Tk thứ VIII ) và hai là của Công đồng Nicée – Constantinop ( 325 – 381 ). Mỗi Kinh trong Đạo Thánh Chúa đều có lịch sử tính của riêng mình.

limbo.jpg

Kinh Tin Kính xuất hiện vào hai thời điểm khác nhau như thế, tuy cùng có mục đích để biểu lộ đức tin nhưng cố nhiên là có khác nhau về cách diễn tả. Sự “diễn tả” ở đây trong thực chất chính là một thứ giáo thuyết đã được cô đọng hóa cách tối đa nhằm nói lên tính chất nhất thống trong đức tin của giáo hội. Một trong những chủ điểm quan trọng của Kinh Tin Kính chứa đựng trong lời kết của nó, đó là “ Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau. Amen” ( Tín biểu Nicée – Constantinophe ). Ở đây ta thấy có hai mệnh đề được nối với nhau bằng chữ « và » . Tuy rằng hai nhưng thật sự chỉ là một, bởi lẽ trông đợi ( hy vọng ) kẻ chết sống lại thế nào được nếu không có sự sống đời sau ? Tin có sự sống đời sau để rồi hy vọng vào sự sống lại của chính mình, đó phải là đức tin chân chính của mọi Kitô hữu. Tuy nhiên xét về mặt giáo thuyết thì đây lại là một vấn đề hết sức nhiêu khê, phức tạp và nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống đức tin của giáo hội. Cũng như các trọng điểm khác trong cả hai Kinh Tin Kính , tất cả đang bị đặt lại và nguy cơ mang tính quyết định nhất cho sự sụp đổ đó chính là niềm tin vào vào Đấng Cha Tòan năng, tạo thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình. Một khi không còn tin vào sự hiện hữu của Đấng Tạo Thành thì tất nhiên cũng chẳng làm gì còn có « Sự sống đời sau » mà đã không có sự sống đời sau thì kẻ chết sống lại chỉ là vô nghĩa.

 

Tin vào hiện hữu của Đấng tạo thành trời đất muôn vật là một niềm tin mang tính cổ xưa và phổ quát nhất của con người bất kể là có hay không có tôn giáo. Mặc dầu vậy xét trong tính chất sâu xa của nó, niềm tin ấy hòan tòan không mang tính tâm linh. Tại sao ? Bởi mục đích cuộc sống đức tin của chúng ta là để được cứu rỗi nhưng sự cứu rỗi ấy lại chỉ có thể được cứu trong hy vọng « Vì chúng ta được cứu trong sự hy vọng nhưng sự hy vọng đã thấy được thì chẳng phải là hy vọng vì có ai lại hy vọng điều mình đã thấy rồi ư ? Song nếu chúng ta hy vọng điều mình chưa thấy thì chúng ta mới nhẫn nại mà đợi trông » (Rm 8, 24 – 25 ). Chẳng những trong các thời đại xa xưa, con người khi phải đối diện với các thế lực cuồng nộ của thiên nhiên như bão tố , núi lửa phun trào, sóng biển gào thét v.v.. mới kinh khiếp sợ hãi và tin rằng ắt hẳn phải có các đấng thần linh nào đó là nguyên nhân của mọi sự. Nhưng ngay cả chúng ta đây trong thời gọi là …văn minh hiện đại này từ trong vô thức vẫn có cùng một niềm tin như vậy, mặc dù dưới những hình thức khác. Trong lãnh vực các tôn giáo hữu thần , tất cả đều có cho mình những đấng chủ tể có quyền tối cao ban ơn giáng họa. Do Thái giáo có đấng Giêhova. Hồi giáo có đấng Thánh Allah. Ấn độ giáo có đấng Brahman v.v.. Niềm tin nào cũng cần phải có phần lý giải và đây chính là cơ sở của các nền thần học vốn được coi như là sự hiểu biết về « Thần ». Thần học Kinh Viện ảnh hưởng bởi Aristote đã giải nghĩa Thiên Chúa như là Hữu Thể Tuyệt Đối, Nguyên Nhân Đệ Nhất, Hoặc Đệ Nhất Động Cơ v.v…Tất cả những giải nghĩa đó đều chỉ đưa ra những quan niệm về Thiên Chúa chứ hòan tòan không phải Thiên Chúa đích thực như Ngài là « Ta là Đấng Ta là » ( Ego sum, qui sum . Xh 3, 14 )

 

Lòng tin chân thật chỉ thật sự cần thiết cho những kẻ còn đang trên đường tìm kiếm và sự tìm kiếm ấy hẳn nhiên là phải tìm kiếm một Đấng Thiên Chúa còn ẩn giấu chẳng ai từng thấy biết( Deus abconsditus ) chứ không phải đấng Thần linh Tạo Hóa mà thực chất đó chỉ là một thứ ý niệm của con người. Cuộc khủng hỏang đức tin hiện nay trong giáo hội chính là vì không ai còn tìm kiếm Thiên Chúa như chính Ngài là « ĐCT từ trên trời ngó xuống con lòai người đặng xem thử có ai thông sáng tìm kiếm Đức Chúa Trời chăng ? Chúng nó thay thảy đều thối lui để cùng nhau trở nên ô uế, chẳng có ai làm điều lành, một người cũng không » (Tv 53, 2 – 3 ) Khủng khỏang như vậy vẫn cứ tiếp diễn và ngày càng sâu sắc dữ dằn cùng với sự sụp đổ của các quan niệm, trước là Đấng Tạo Hóa Thần linh thì nay lại là Chúa Giêsu Thiên Chúa thật, người thật.

 

I/- Thần học với quan niệm nhập thể

 

Trong Kinh Tin Kính có lời tuyên xưng Chúa Giêsu « Vì lòai người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi Người đã từ trời xuống. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần Người đã nhập thể trong lòng Đức Nữ Trinh Maria và đã làm người » Như đã biết Kinh Tin Kính vừa là biểu tượng để người Công giáo nhận biết nhau nhưng đồng thời cũng mang tính giáo thuyết cần được triển khai. Như lời kinh tuyên xưng Chúa Giêsu xuống thế để cứu rỗi những kẻ tin theo Ngài. Công cuộc cứu rỗi ấy, căn cứ vào Lời Chúa mà chúng ta có thể quả quyết đó là cứu về phần linh hồn « Được lời lãi cả và thế gian mà mất linh hồn thì nào ích gì »( Mt 16, 26) Từ bao đời, chúng ta vẫn được dạy cho biết rằng Chúa xuống thế là để cứu rỗi linh hồn người ta. Thế nhưng nay với Thần học, mục đích xuống thế của Đức Kitô lại không phải vậy « Khi chúng ta tuyên xưng Đức Giêsu Kitô Con Một TC, sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời….vì chúng ta…đã từ trời xuống thế và đã làm người, chúng ta tuyên xưng hai điều cốt yếu:

 

# Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật.

 

# Thiên Chúa thật đã trở thành người thật. ( Lm B.V. Đọc và Lm V. Đ . Minh - Đức Giêsu Kitô – Hôm qua – hôm nay và mãi mãi )

 

Thiên Chúa ở đây vẫn là Thiên Chúa Tạo Hóa  nhưng nay thông qua Chúa Giêsu lại đã trở thành người và là…người thật « Một chủ vị vừa là Tạo Hóa vừa là tạo vật, vừa là đấng dựng nên vừa là người được dựng nên »… Điều này chính Thần học cũng phải thú thực là… « Không thể hiểu đối với lý trí lòai người chúng ta » ( Sđd ). Sở dĩ lý trí không thể hiểu không phải vì nó quá cao siêu ( siêu lý ) mà là phi lý. Sự phi lý này kéo theo phi lý khác, tất cả đều chống trái với chân lý Thánh Kinh. Chúa xuống thế là để cứu rỗi nhưng nay với Thần học lại là để…làm người « Một số thần học gia đề nghị dùng chữ « nhân thành » thay cho mầu nhiệm nhập thể. Chúng ta nên dùng từ ngữ đơn sơ nhất là làm người. Chữ « Làm người » bao hàm một tiến trình, một sắc thái động, một cuộc sống cụ thể đồng thời cũng là một lý tưởng, một ơn gọi. Chữ « Làm người » còn cho thấy sự dấn thân trọn vẹn của Con TC, dấn thân đến mức cuối cùng của kiếp sống con người là phải đau khổ và chết. Khi suy gẫm về ý nghĩa cuộc khổ nạn của Đức Giêsu, có giáo phụ đã phải thốt lên « một trong Ba Ngôi đã chịu khổ hình » ( Lm B.V. Đọc Sđd ). Xưa nay chúng ta vẫn được dạy Ba Ngôi TC là một, không thể phân chia nhưng nay một ngôi đã chịu khổ hình thì chẳng lẽ hai ngôi kia lại có thể…thóat sao. Với quan niệm Thiên Chúa khổ đau, Thần học vô tình đã phủ nhận Tin Mừng của Đức Kitô khi cho rằng Thiên Chúa thật, người thật xuống thế để giải thóat con người ra khỏt nghèo đói áp bức bất công « Loan báo Tin mừng cũng là một thành phần của công trình giải thóat. Nội dung của nó là Nước TC đã đến, đến cho người nghèo khổ và bị áp bức. Nền tảng của nó là các mối phúc( Lc 6, 20 ) Nước TC này ở ngay giữa thế gian, khi người nghèo không còn nghèo, người bị áp bức thóat ách đau khổ » ( Lm B.V. Đọc Sđd )

 

Nước Thiên Chúa sẽ đến khi người nghèo hết nghèo, người bị áp bức không còn bị áp bức, vậy thử hỏi nước ấy chừng nào đến và giả thử nước ấy có đến đi chăng nữa thì chắc chắn khi ấy sẽ không có tôi và cả những con người hiện nay đang phải sống trong tình cảnh bị áp bức bất công tràn lan trong những thập kỷ đầu Tk hai mươi mốt này !!! Mặt khác nếu Nước TC chỉ đến trong một tương lai vô định nào đó thì có lý do nào khiến cho tôi có thể… mừng ? Nói Tin Mừng mà lại không thấy mừng thấy vui chi cả thì sao gọi được là Tin Mừng ? Vả lại làm cho kẻ nghèo hết nghèo, kẻ bị áp bức không còn bị áp bức, việc ấy nếu làm được thì cũng chẳng đâu đến phần Kitô giáo, một tôn giáo đang có nguy cơ bị khước từ ? Tóm lại đây chỉ là những quan điểm sai lầm của Thần học, nó  hòan tòan chẳng dính dáng gì tới tính chất cứu rỗi của Đạo Chúa đòi hỏi lòng cậy trông và đức tin kiên vững cho từng mỗi một con người « Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau ». Với Nước TC của thần học thì đâu có cần đến sự trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau, chính vì vậy mà họ đã chủ trương một thứ Cánh Chung học ( Eschatologie ) thay cho Tận Thế.

 

II/- Thần học với Cánh Chung

 

Theo Thần học thì Chúa xuống thế không phải để cứu rỗi nhưng là để…làm người, điều này hòan tòan trái với chân lý Thánh kinh. Đức Kitô mở đầu công cuộc cứu chuộc của Ngài bằng việc rao giảng Tin Mừng « Thời đã mãn, Nước Thiên Chúa đã gần đến, các ngươi hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng » (Mc 1, 15) Thời đã mãn cũng có nghĩa đây là thời cuối cùng để nhân lọai có thể đón nhận ơn cứu độ và ơn này đã được tiên tri Siméon thay mặt Dân Chúa dâng lời cảm tạ « Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Người đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi vì mắt tôi đã được thấy Ơn Cứu Độ mà Chúa đã dành cho muôn dân. Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngọai và là vinh quang của Itsraen dân Ngài »( Lc 2, 29 – 32 ) Ơn cứu độ đến với nhân lọai không phải là bất tận nhưng có hạn kỳ và hạn kỳ đó chấm dứt vào Ngày Tận Thế đồng thời cũng là ngày Chúa quang lâm tái giáng « Vì như chớp giật từ phương đông nhóang đến phương Tây thì sự hiện đến của Con Người cũng như vậy. Hễ thây ở đâu thì chim ó nhóm ở đó. Liền sau cơn tai nạn của những ngày ấy thì mặt trời sẽ ra tối tăm. Mặt trăng không sáng, các vì sao từ trời sa xuống và những quyền lực của các tầng trời bị rúng động. Bấy giờ điềm Con Người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi chi phái dưới đất sẽ đấm ngực than khóc và thấy Con Người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà đến »( Mt 24, 27 – 30. )

 

Những lời Đức Kitô nói đây không phải là dụ ngôn tức không có bóng gió ám chỉ gì cả mà là những lời tiên báo cho một sự kiện chắc chắn sẽ xảy đến một khi đã đủ nhân duyên, điều kiện. « Hễ thây ( Nhân ) ở đâu thì chim ó nhóm ở đó ( Quả ) Lời Chúa là lời chân thật, không bao giờ hư dối, thế nhưng Thần học do bởi chủ trương Chúa xuống thế để làm người thế nên tất nhiên không thể không theo cái lôgic của nó là sự tiến hóa lịch sử « Những sự sau hết » không phải chỉ là những biến cố sẽ đến sau cùng. Chúng còn là điểm kết thúc con đường tiến hóa đã tới lúc thành tựu. Chúng không phải chỉ là điểm kết thúc lịch sử cứu độ chúng còn là mục đích lịch sử cứu độ tiến tới và thực hiện chung cuộc mọi lời hứa đã làm chuyển động lịch sử ấy và đưa lịch sử ấy tới chỗ chung hòan. Điều này có nghĩa là ơn cứu độ do Đức Giêsu Kitô thực hiện tự bản chất có tính lịch sử hay sử tính » ( Jean Hervé Nicolas O.P Cánh Chung học ) Thần học Cánh Chung chủ trương không có Ngày Tận Thế hiểu như biến cố kinh hòang trong ngày Chúa quang lâm mà đó chỉ là điểm kết thúc của lịch sử tiến hóa. Cuộc tiến hóa ấy khởi đầu bằng việc xuống thế làm người của Chúa Giêsu để rồi thông qua giáo hội mà hòan thành ? Làm người, đó là mục đích của việc cứu độ và nó sẽ được nhân rộng ra có thể bằng những họat động văn hóa chính trị nghệ thuật …này nọ trong khắp giáo hội, sau nữa là cho toàn thế giới...bởi khi ấy tất cả đều đã …quy về một mối ? « Việc trở lại của Đức Kitô sẽ là một biến cố cho giáo hội trong tương quan với Ngài, biến cố đó sẽ kết thúc lịch sử trần thế của giáo hội. Ngược lại biến cố trên đây là tương lai cuối cùng của giáo hội. Trước tiên có nghĩa là nó sẽ đến với giáo hội và cho giáo hội trong tương lai rồi sau đó sẽ không còn lịch sử cho giáo hội nữa mà chỉ là cuộc sống sẵn có trong giáo hội được triển nở một cách chung cuộc và vĩnh hằng ( Nước Trời tại thế ? ) Đời sống này hiện giờ còn phải lớn lên và uyển chuyển, còn phải lệ thuộc vào những thử thách và những biến thiên của lịch sử » ( Jean Hervé Nicolas O.P Sđd ) Cuộc sống sẵn có ở đây chẳng phải cái chi khác mà đó chính là kết quả của việc…làm người và như thế thì cũng chẳng làm gì có việc Đức Kitô sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết như lời tuyên xưng của giáo hội. Với quan niệm « Nhập Thể » này, Thần học không thể không đi tiếp cái bước của nó là sự tục hóa, điều này khiến cho niềm tin vào Sự Sống đời Sau trở thành vô nghĩa.

 

III/- Sự sống đời sau:  Một vấn đề cá nhân

 

Triết học tự đề ra cho mình ba vấn nạn: Con người sinh ra bởi đâu ( nhân sinh hà tại )Sống trên đời này để làm gì ? ( Tại thế như hà ) và chết rồi đi đâu ? ( Hậu thế hà như ). Có thi sĩ người Ba Tư nói một cách ý nhị rằng triết học là cái bản thảo lúc đem đi in đã để lạc đâu mất trang đầu và trang cuối với ngụ ý là triết không bao giờ có tghể giải quyết được vấn đề sinh và tử của con người. Một khi đã không biết được sinh và tử thì chắc chắn cũng chẳng thể biết được sống trên đời để làm gì. Tóm lại, triết đã và sẽ thất bại trong việc giải quyết sinh tử lý do là vì nó không có thẩm quyền. Quyền và trách nhiệm ấy thuộc về từng mỗi một cá nhân chứ không ai có thể làm thay cho ai được. Tôn giáo hòan tòan không phải triết học . Bởi đó sự lạc hướng của Thần học như trên vừa nêu là lẽ đương nhiên bởi chẳng qua nó cũng chỉ là một thứ phó sản của triết. Cái sai của triết chính là ở chỗ đã đặt « con người » một thứ khái niệm trước các mệnh đề: Sinh ra bởi đâu v.v..Lẽ ra thay vì « Con người » thì phải là « Tôi » mới đúng: Tôi sinh bởi đâu ? v.v..Sinh tử, đó là vấn đề của tôi, chỉ tôi mới có thể giải quyết bởi lẽ nó quan hệ mật thiết đến sự khổ đau hay hạnh phúc của chính tôi chứ chẳng phải ai khác. Để ý sẽ thấy việc tuyên xưng đức tin phải là tôi : Tôi tin kính, tôi trông đợi v.v…Đây không phải là việc chẻ sợi tóc nhưng quả thật đó là ơn gọi của mỗi một con người « Chiên Ta thì nghe Tiếng Ta, Ta biết nó và nó theo Ta » ( Ga 10, 27). Khi nói việc giải quyết sinh tử chỉ có thể là việc của mỗi người điều ấy có nghĩa khi tuyên xưng: Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau thì đó chính là tôi không phải ai khác trông đợi sự sống của chính mình ở đời sau. Trông đợi cũng tức là hy vọng nhưng để niềm hy vọng ấy hiện thực thì cần phải thể hiện nó ra bằng hành động còn nếu chỉ tin xuông thôi thì chẳng ích lợi gì. Làm sao thực hiện điều mình trông đợi, tất cả đó là do nơi việc làm của đức tin.

 

IV/- Thể hiện niềm cậy trông

 

Tôn giáo là một với Tín Ngưỡng khi ta thực hành những điều mình tin. Phân tích hai chữ Tín và  Ngưỡng ta thấy Tín là tin cậy, còn Ngưỡng là tôn thờ yêu mến. Kinh Tin Kính bao gồm các Tín Điều căn bản của Đạo. Đọc kinh tức là ta chân thành tin những điều ấy là chân lý cùng với lòng ngưỡng mộ. Tin thật thì ngưỡng mộ thật, ta trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau thì phải thực hành nó ra trong cuộc sống. Bằng như không thực hành thì hóa ra ta chẳng có tin, có ngưỡng gì cả. Tin sự sống đời sau cũng có nghĩa rằng ta tin ngòai cõi sống trần gian hữu hình hữu họai bọt bèo này còn có một cuộc sống khác bất diệt đời đời. Một khi đã tin như thế thì ta cần phải làm hết cách để sao cho có thể đạt được cõi sống ấy. Nếu tin có cõi sống ấy mà không làm gì để được về thì đức tin chưa phải chân thật. Tuy rằng đức tin là ơn nhưng không Chúa ban nhưng nó chỉ có thể từng bước trưởng thành cùng với việc làm « Đức tin không việc làm là đức tin chết »( Gc 2, 17 ). Đức tin cần có việc làm thế nhưng để làm được những điều mà chúng ta tin lại rất khó và cái khó ở đây không gì bằng khi phải đối diện với bốn lãnh vực mà con người không một ai tránh thóat đó là:  Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Vì vô minh ta không thể biết mình sinh bởi đâu cũng như chết lúc nào. ( Sinh hữu kỳ. Tử bất  kỳ ). Thế nhưng ta có thể cảm nghiệm ở nơi mình sự chết, nó đến trong những cơn bệnh nạn, trong lúc tuổi già chân run răng rụng… Đối với thế nhân họ cũng cảm nhận những điều ấy nhưng khác với chúng ta ở nơi đức tin và lòng trông cậy. Tôn giáo suy cho cùng là một cuộc tìm kiếm trong đức tin và lòng cậy trông và chắc chắn hễ có tìm thì có gặp bởi vì « Lạy Chúa, Ngài tốt lành với những ai trông cậy và tìm kiếm Ngài »( Ac 3, 15.)

 

 Phùng Văn Hóa

Lên đầu trang