SỐNG MẦU NHIỆM HỘI THÁNH

3/12/2012 7:38:34 PM
Tuần Tĩnh Tâm Linh mục Huế (27,02.2012 – 02-3.2912) - Đề tài suy niệm Lời Chúa về SỐNG MẦU NHIỆM HỘI THÁNH (theo thư thánh Phaolô gửi giáo đoàn Êphêsô) – Tài liệu của Linh mục Giảng Phòng

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 2011 đã quyết định dành năm 2012 này để học hỏi và đào sâu MẦU NHIỆM HỘI THÁNH”.

Xin nhấn mạnh cụm từ này.


Hội Thánh đúng là một mầu nhiệm, vì Hội Thánh không chỉ là một tổ chức hữu hình, những trước tiên là một mầu nhiệm, gắn liền với mầu nhiệm Chúa Kitô: Ngài là đầu, Hội Thánh là thân thể.

Đức Kitô là Lời nhập thể, Ngài vừa vô hình về thần tính, vừa hữu hình trong xác phàm. Do đó, muốn khám phá mầu nhiệm Kitô, cần có đôi mắt đức tin như thánh Gioan, để có thể xác quyết: “Ngôi Lời đã hoá thành xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang Ngài, vinh quang dành cho Con Một, đầy ân sủng và chân lý” (Ga 1, 14). Hội Thánh, với tư cách là thân thể của Đức Kitô, cũng được chia sẻ trọn vẹn bản tính thần linh của Ngài (x. 2 Pr 1, 4), nên cũng chỉ nhờ đức tin, ta mới khám phá ra ý nghĩa mầu nhiệm Hội Thánh.


Đức Bênêđictô XVI, trong cuốn “Đức Kitô, thành Nazareth”, tập I, trang 25-26 (tựa) đã nói đến cơn khủng hoảng trầm trọng về Kitô học ngày nay. Hẳn một số thần học gia đã phủ nhận thần tính của Chúa Kitô, họ chỉ coi Ngài như một siêu nhân không hơn không kém! Nếu thế, thì Hội Thánh Chúa Kitô cũng chỉ là một cơ chế phàm trần.


Đến đây, chúng ta nhận ra tầm quan trọng của việc đào sâu và sống ý nghĩa của mầu nhiệm Hội Thánh trong ánh sáng mầu nhiệm Chúa Kitô. Phải chăng đây cũng là xác tín của thánh Gioan tông đồ vào thời Hội Thánh sơ khai. Ngài đã không tiếc lời phê phán và vạch mặt những tên “phản kitô” (x. 1 Ga 2, 18-23), đồng thời xác định lời chứng của ngài về Ngôi Lời nhập thể: Hẳn thật, một đàng, ngài khẳng định Đức Kitô là Đấng Ngài có thể tai nghe mắt thấy, thậm chí còn sờ đụng được, đàng khác ngài bảo đảm rằng: “thông hiệp với chúng tôi là thông hiệp với Cha và với Đức Kitô, Con của Người” (1 Ga 1,3)


Đạo chúng ta mang tên Kitô giáo, nên gắn kết với Đức Kitô. Chối bỏ Ngài, đạo chúng ta sẽ rỗng tuếch nội dung, niềm tin của chúng ta sẽ trở thành hư ảo. Trái lại, có Đức Kitô, đạo chúng ta chất chứa niềm hy vọng (x. Col 1, 27). Chúng ta có quyền hãnh diện làm Kitô hữu và chung vai sát cánh xây dựng Hội Thánh. Nhưng xây dựng như thế nào? Qua thư gửi giáo đoàn Êphêsô, thánh Phaolô giúp chúng ta tìm được câu trả lời cho vấn đề này.


Theo các học giả Kinh Thánh, thư mang địa chỉ giáo đoàn Êphêsô, nguyên thuỷ là một bức thư gửi chung cho các giáo đoàn Cận Đông, nhưng vì được đọc trước tiên tại Êphêsô, nên thư mang địa chỉ như hiện nay. Đây là thư mang tính tổng hợp, vì nội dung thư cô đọng những giáo thuyết mà Thánh Tông Đồ Phaolô đã trình bày trong các thư khác. Chủ đề thư này là ơn gọi của Hội Thánh trong Đức Kitô.


Sau đây xin mạn phép tập chú vào mấy điểm nổi cộm:


- Đức Kitô và Hội Thánh trong mầu nhiệm cứu độ

- Hội Thánh xét theo chiều rộng

- Hội Thánh xét theo chiều sâu

- Hội Thánh xét theo chiều dài

I. ĐỨC KITÔ VÀ HỘI THÁNH TRONG MẦU NHIỆM CỨU ĐỘ (Eph 1, 3-14)

Như vừa trình bày trên đây, lý do hiện hữu của Hội Thánh là Đức Kitô (x. Pl 1, 21). Nói cách khác, Hội Thánh sẽ chẳng bao giờ được gọi là Kitô giáo, nếu loại bỏ niềm tin vào Đức Kitô. Để xác quyết tương quan hiện hữu ấy, ngay trong bài chúc tụng, đầu thư Êphêsô, Thánh Phaolô đã dùng tới 7 lần kiểu nói “trong Đức Kitô” hoặc kiểu nói tương đương như “trong Ngài”, “nhờ Ngài”.

- Câu 3: Trong Đức Kitô, ta nhận được mọi ơn thiêng.

Ở đây gợi nhớ:
Ga 1, 16 “Từ sự sung mãn của Ngài, anh em nhận được ơn này đến ơn khác”.
Ga 10, 10: “Tôi đến để chiên tôi được sống và sống dồi dào”.
1 Cr 1, 5: “Trong Đức Kitô, canh em trở nên phong phú về mọi phương diện...khiến anh em chẳng thiếu ân huệ nào”.

- Câu 4: Trong Đức Kitô, ta được tiền định nên thánh.
1 Tx 4, 3 “Anh em nên thánh, đó là ý muốn Thiên Chúa”.
Mt 5, 48: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện”.
Ga 15,8: “Điều làm Chúa Cha được vinh hiển là anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy”.


- Câu 6: Trong Đức Kitô, ta được làm con Thiên Chúa.
1 Ga 3, 1-2: “Anh em xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa” (Ga 1, 11).

- Câu 7: Trong Đức Kitô, ta được thứ tha tội lỗi.
Ga 1, 19: “Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội trần gian”.

- Câu 9: Trong Đức Kitô ta được soi sáng để biết kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa.
1 Tm 2, 4: “Thiên Chúa muốn mọi người nhận biết sự thật và được cứu rỗi”.


- Câu 10-12: Trong Đức Kitô các tông đồ đạt tới sự viên mãn và được trở thành lời ca ngợi vinh quang Thiên Chúa.

- Câu 13a: Trong Đức Kitô cả dân ngoại cũng được nghe Tin Mừng cứu độ (Eph 3, 6-7; Eph 2,14-16; Gal 6,15)

- Câu 13b: Trong Đức Kitô, tất cả được Thánh Thần niêm ấn hy vọng hưởng gia nghiệp thiên quốc và trở thành lời ca ngợi vinh quang Thiên Chúa.

Xin mở một dấu ngoặc:

Các nhà tu đức khám phá ra diễn tiến việc thánh hoá trong câu 7-13. Việc thánh hoá đi từ việc thanh tẩy khỏi tình trạng tội lỗi đến bậc “soi sáng”, trong đó ta nhận được sự khôn ngoan thông hiểu để nhận ra kế hoạch yêu thương Thiên Chúa đã định trong Đức Kitô. Chóp đỉnh của con đường nên thánh là: Chính mình đạt tới sự sung mãn nơi Đức Kitô, đồng thời trở nên Lời ca ngợi vinh quang Thiên Chúa.

 

II. CHIỀU RỘNG CỦA HỘI THÁNH (3,1-12)

Nói đến chiều rộng của Hội Thánh là nêu cao đặc tính công giáo. Hội Thánh không tự đóng khung trong một lãnh thổ hay dán kết với một nền văn minh nào (Vatican II, GS 52). Với bản văn sau đây, Thánh Phaolô giúp chúng ta có một cái nhìn rộng mở về Hội Thánh Đức Kitô:

Mầu nhiệm mà các thế hệ trước chưa hề biết, nhưng nay nhờ Thần Khí, Người đã mạc khải cho các tông đồ và các ngôn sứ. Mầu nhiệm đó là: Trong Đức Kitô và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại cũng được thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (3, 5-6)

Giáo Hội của chúng ta mang tên công giáo, do Đấng Cứu Thế sáng lập, ngài muốn thể hiện tình yêu của Chúa Cha đối với nhân loại: “Thiên Chúa Cha đã yêu thế gian quá đổi, đến đỗi Ngài đã ban Con Một...” (Ga 3, 16). Thánh Théodore Studite hình dung Ngôi Hai như một cục đá được Thiên Chúa ném vào giữa mặt hồ trần gian, tạo nên những gợn sóng lan mãi, lan mãi ra xa...

Mc 1, 38 cho thấy thái độ của Đức Kitô khi đi truyền giáo: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy rao giảng ở đó nữa, vì Thầy đi cốt để làm việc đó...”


Mc 16, 15
: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi thụ tạo...”


- Chúng ta cùng đọc lại những giáo huấn trong tông huấn Verbum Domini từ số 90 đến số 108 để xem Đức Thánh Cha và Thượng Hội Đồng Giám Mục nói vì về việc rao giảng Tin Mừng.

- Từ Lời Chúa, phát xuất xứ mạng truyền giáo của Hội Thánh (VD 92)


- Mọi người đã chịu phép rửa có trách nhiệm với việc truyền giáo vì một khi đã chia sẻ bản tính, thì cũng thông phần hoạt động (VD 92).


- Cần thiết phải mở rộng công việc rao giảng, chứ không chỉ duy trì những kết quả đang có (VD 95)


- Việc rao giảng cần đi đôi với chứng từ của cuộc sống để chứng minh rằng Lời Chúa là khả tín và khả thi, theo gương Đức Kitô, là chứng nhân trung thành và chân thật (Kh 1, 5), (VD 97)

III. CHIỀU SÂU CỦA HỘI THÁNH (Eph 3, 14-20)

Định nghĩa cổ nhất về Hội Thánh là “coetus ad Dei cultum convocatus est” (một tập thể được triệu tập để tôn thờ Thiên Chúa). Nhưng việc tôn thờ theo Tin Mừng là “Thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí và sự thật” (Ga 4, 24)

Thần Khí, theo Vatican II, là linh hồn của Hội Thánh (LG 4). Dĩ nhiên Hội Thánh trân trọng việc thờ phượng bên ngoài, nhưng theo gương Chúa Kitô, Hội Thánh nhấn mạnh việc đi vào nội tâm, bởi lẽ theo thánh Augustino: “Deus est intimior intimo meo” (Thiên Chúa ở sâu hơn chốn sâu thẳm lòng tôi). Ở đó hẳn chỉ có con tim gặp gỡ Thiên Chúa Tình Yêu. Thánh Phaolô đã mô tả cuộc hội ngộ tình yêu ấy qua những lời sau đây:

Bản văn: “Tôi quỳ xuống trước mặt Cha, nguồn phát xuất mọi tình cha trên trời dưới đất. Tôi nguyện xin Cha chiếu theo sự giàu có vinh quang của Người, ban cho anh được phấn chấn đầy dũng lực, nhờ Thần Khí của Người để thành người nội tâm, được Đức Kitô ngự trong lòng anh em, nhờ bởi niềm tin – ngõ hầu khi đã đâm rễ sâu và có nền móng trong lòng mến, anh em cùng hết thảy các thánh, ngộ ra được mọi chiều rộng, dài, cao, sâu của lòng mến. Được biết lòng mến Đức Kitô siêu vời vượt quá trí tri để anh em được sung mãn, hầu vào trong tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa...Kính chúc Đấng vạn năng trên mọi sự, ban cho ta quá ngàn trùng điều ta nghĩ tưởng, chiếu theo quyền năng kiến hiệu của Người”.

Từ bản văn trên, chúng ta rút ra được mấy điểm chính sau:

- Bản chất đời nội tâm là một kinh nghiệm về tình yêu Thiên Chúa Cha và Đức Giêsu. Đấng ngự trong lòng (c 14.16)

- Điều kiện để có kinh nghiệm về tình yêu Thiên Chúa là phải có đức tin và ơn Chúa Thánh Thần (16.17)

- Kết quả đời nội tâm là:

- Như được dìm vào trong tình mến Thiên Chúa

- Am hiểu cách sâu xa lòng mến Đức Kitô

- Đạt tới sự viên mãn của Thiên Chúa tức nên thánh

- Đầy quyền năng trong lời cầu xin


Phần quãng diễn:

1. Bản chất đời nội tâm


Sống đời cầu nguyện, nhưng nào ai rõ được bản chất nó là gì. Thông thường, người ta bảo: Sống nội tâm là luôn Nhớ Chúa: elevatio mentis ad Deum. Nhưng làm sao luôn nhớ, nếu chưa thương. Thật là đúng lý khi thánh Phaolô khẳng định rằng khởi điểm đời nội tâm là một cảm nghiệm tình Cha trên trời, và Chúa Giêsu ở trong lòng. Nhưng làm sao có cảm nghiệm này?


1.1 Chúng ta cảm nhận tình Cha bằng hai cách:

- Bằng suy loại: Qua tình cha dưới đất:

Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu sở dĩ cảm nghiệm được tình Cha trên trời một cách sâu sắc qua tình yêu cha ruột ngài, là ông Martin, dành cho ngài.


- Nhờ Lời Kinh Thánh: Mt 5, 45-47, 10, 30: Lc 15,20: Ga 13,1;Rm 8,28; Tv 29.

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI cho hay: trong Cựu Ước, tình thương Thiên Chúa được diễn tả bằng tình mẹ, với hình ảnh: dạ mẹ (RahamimIs 49, 15)

1.2 Cảm nhận Đức Kitô ở trong lòng


Trong Kinh Thánh, “lòng” hay tim, là nơi sâu thẳm nhất, tiếp giáp với Thiên Chúa, đồng thời là nơi xuất phát mọi tình ý của con người (Mt 5, 10). Khi thương ai thắm thiết, ta như mang người ấy trong lòng và đương nhiên không ngừng nhớ tới họ.


Đối với Chúa Giêsu, theo Tin Mừng, ta có sự tương quan sự sống và tình yêu. Để minh hoạ tương quan sự sống, Kinh THánh dùng những hình ảnh như cây nho và cành nho (Ga 15) hoặc đầu và thân mình (Col 1, 18). Để diễn tả tương quan tình yêu, Kinh Thánh lấy hình ảnh phu thê (Eph 5,23-25), hoặc hình ảnh bạn với bạn (Ga 15).


Hơn ai hết, thánh Phaolô đã sống triệt để hai tương quan trên đây. Vì thế, ngài dám viết: Sống đối với tôi là Đức Kitô (Pl 1, 21), Ngài còn dám thách thức: “Ai có thể tách rời tôi khỏi tình yêu Đức Kitô...?” (Rm 8,35 – 37)


2. Điều kiện để đảm nhận tình yêu Thiên Chúa Cha và Chúa Con: đó là nhờ đức tin và nhờ Thần Khí.


2.1 Nhờ Thần Khí


Đấng đổ tràn tình yêu Thiên Chúa vào lòng chúng ta (Rm 5, 5). Hẳn thật, muốn cảm nghiệm tình yêu, phải có tình yêu (cũng như muốn nếm rượu, phải có rượu)! Trong Giáo Hội sơ khai, theo sách Công vụ tông đồ tường thuật, hoạt động của Thần Khí hết sức sinh động, nhờ Ngài, các Kitô hữu đã trưởng thành vượt mức. Công Đồng Vatican II dám ví: Thánh Thần ở trong Giáo Hội như linh hồn ở trong thân xác vậy (Lumen gentiu s,4)


2.2 Nhờ đức tin


Đức tin là khả năng đón nhận (Ga 1,11-12), hay là khả năng “mở ra cho Thiên Chúa” (Đức Thánh Cha Bênêđictô 16). Hẳn thật, Chúa Thánh Thần không thể đổ tình yêu Thiên Chúa vào lòng, nếu ta chưa mở lòng ra! Phải chăng cần ghi nhận thêm: Khả năng đón nhận của chúng ta thường tỉ lệ thuận với sự trống rỗng của lòng ta!


Theo Công đồng Vatican II, tin là một sự tuân phục, qua đó con người hiến toàn thân cho Thiên Chúa sau khi được Chúa Thánh Thần mở trí cho biết các mầu nhiệm, Ngào cho con tim cảm nếm sự dịu ngọt của các mầu nhiệm ấy, đồng thời, Ngài ban nghị lực để chúng ta đưa ra thực hành (Hc MK 5).


Ở đây, ta thấy cả ba đức tin, cậy, mến như hoà quyện với nhau, và như thế, con người chúng ta được huy động toàn diện. Vậy đâu là những hoa trái của đời sống nội tâm ấy?


3. Hoa trái của đời sống nội tâm


Cầu nguyện, theo thánh Phaolô, không phải là một hành vi chóng qua, nhưng nó bao gồm toàn bộ con người nội tâm. Đời nội tâm ấy thật vô cùng kiến hiệu khả dĩ sản sinh những hoa trái sau đây:


3.1 “Anh em cùng hết thảy các thánh, có sức hội ra mọi chiều: rộng, dài, cao, sâu của lòng mến” (c.18)


Hoa quả thức nhất của đời nội tâm, theo câu vừa trích dẫn, là ta được dìm vào trong nguồn ân bể ái của Thiên Chúa. Đó là hạnh phúc được cảm nếm ngay đời này. Cụ già Simeon đã chờ đợi giây phút hạnh phúc ấy trên tám mươi năm. Thé rồi, khi bồng Chúa con trên tay, cụ đã ngây ngất: “Giờ đây, lạy Chúa, xin cho tôi tớ ngài ra đi, vì mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ...” (Lc 2, 29-30). Diệu cảm chiêm niệm này không chỉ là tình cảm đơn thuần, nhưng là sự vui thoả tràn đầy hạnh phúc, xâm nhập tâm hồn. Đây là ân huệ của Thần Khí, ban cho những ai khao khát mong đợi. Ơn này tạo trong ta một sức mạnh, khả dĩ dám thí thân vì Chúa. (Ở cuối tập suy niệm này, chúng tôi trích dịch lời kinh của một nữ bệnh nhân phong cùi, tên Véronique, để minh hoạ).


3.2 “Được biết lòng mến của Đức Kitô siêu vời vượt quá hiểu biết con người”

Đây là ơn thánh mà Gioan đã được! Hẳn thật, mặc dù Chúa Giêsu yêu tất cả và từng môn đệ đến kỳ cùng (Ga 13, 1), nhưng duy thánh Gioan cảm nhận được cách sâu xa tình yêu của Thầy chí thánh. Do đó, ngài tự dám xưng là kẻ được Chúa yêu (Ga 21,7).

3.3 “Anh em được đầy tràn sự sung mãn của Thiên Chúa”


Theo thiển ý tôi, câu này muốn nói đến sự hoàn thiện mà Chúa Giêsu kêu mời chúng ta vươn tới: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5, 48). Thánh nữ tiến sĩ Têrêxa Avila khẳng định rằng: Đời sống nội tâm nhằm mục đích giúp ta nhanh nên người hoàn thiện. Thánh nữ nói lên kinh nghiệm của một bậc thầy trong đời sống suy chiêm! Ngày nay người ta sống theo thuyết tương đối, do đó lý tưởng nên thánh bị coi như một ảo vọng không hơn không kém. Nhưng thử hỏi có gì hợp lý hơn khi ta nỗ lực nên thánh, vì tự bản chất Kitô hữu đã là thánh rồi. Chính thánh Phaolô quả quyết: “Trong Đức Kitô, Người đã chọn ta...để ta trở nên tinh tuyền thánh thiện” (Eph 1,4). Đức chân phước Gioan Phaolô II xác quyết: “Thành công lớn nhất của đời người là nên thánh”. Sống làm người, ai mà chẳng muốn thành công!


3.4 “Người lấy quyền năng thực hiện nơi ta gấp ngàn lần điều ta cầu xin hay nghĩ tưởng”


Ở đây, thánh Phaolô muốn nói đến lời cầu xin đầy quyền năng của những ai sống đời nội tâm. Hẳn tôi không chút bỡ ngỡ về những phép lạ Thiên Chúa đã làm qua bàn tay của thánh Phaolô hay thánh Biển Đức, vì trong tình bạn, mọi sự của Chúa là của các Ngài! Giáo Hội cần biết bao những chứng nhân Tin Mừng đầy quyền năng như thế.

Trong một bức tâm thư, gửi các linh mục nhân kỷ niệm 50 năm linh mục, Chân Phước Gioan-Phaolô II đã viết: “Qua kinh nghiệm dài của đời cha, giữa bao hoàn cảnh khác biệt, cha đi đến xác tín này: chỉ trên mảnh đất thánh thiện của linh mục, mới phát sinh mục vụ hữu hiệu, một “cura animarrum”. Bí quyết thành công đích thực trong công việc tông đồ không hệ tại những phương tiện vật chất, và càng không ở trong “các phương tiện giàu sang”. Kết quả bền vững của nỗi lực tông đồ phát sinh từ sự thánh thiện của linh mục. Thật ra cũng cần thiết những phương tiện mà kỹ thuật hiện đại cống hiến, nhưng bí quyết vẫn là sự thánh thiện của đời linh mục, được diễn tả trong việc cầu nguyện và suy gẫm, trong tinh thần hy sinh và nhiệt huyết truyền giáo”. Đức Gioan Phaolô II ngày nay đã được Giáo Hội tôn phong Chân Phước, kinh nghiệm của ngài hẳn có trọng lượng rất lớn đối với chúng ta!

 

IV. CHIỀU DÀI CỦA HỘI THÁNH

Sau khi đề cập đến chiều rộng và chiều sâu của Hội Thánh, chẳng lẽ bỏ qua chiều dài? Cụm từ này muốn nêu rõ ý nghĩa lịch sử của Hội Thánh.

4.1 Hội Thánh tại thế mang tính lịch sử

Hội Thánh là thân mình Đức Kitô, vì thế Hội Thánh triền miên sống mầu nhiệm nhập thể giữa lòng nhân loại như “một dân tộc hiệp nhất do sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Vatican II, LG 4). Câu khẳng định ấy như muốn tóm tắt những gì thánh Phaolô mô tả trong Eph 4, 1-16.

Chúng ta cùng phân tích bản văn:

Những lý do hiệp nhất của Hội Thánh

Thánh Tông Đồ xếp các lý do vào trong 3 bộ ba:

- Chỉ có một thân thể, một Thần Khí và chia sẻ một niềm hy vọng.

- Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa

- Chỉ một Thiên Chúa là Cha, Đấng ở trên mọi người, qua mọi sự, và ở trong mọi người chúng ta (super omnes, per omnia et in omnibus nobis)

Thiết nghĩ chẳng tìm được lý do nào mạnh hơn để chứng minh sự hiệp nhất của Hội Thánh.

Hội Thánh là một thân mình, sinh động bởi một Thần Khí, nhằm thực hiện niềm hy vọng cứu rỗi cho nhân loại. Sự hiệp nhất là dấu chứng “Cha đã sai Con” (Ga 17, 21)



Hội Thánh là tôn giáo độc thần (chỉ một Chúa) gồm những ai đã chịu phép rửa để trở nên con Thiên Chúa tình yêu, sau khi tự nguyện tin vào Thiên Chúa. Thật đáng buồn những người đã trở nên con một Cha, và làm anh em của nhau theo khuôn mẫu Đức Giêsu, mà còn chia rẽ nhau?

- Sau hết, sự hiệp nhất của Hội Thánh được gắn kết bằng tình yêu Thiên Chúa. Ngài ở trên Hội Thánh để hướng dẫn và quan phòng, Ngài bày tỏ tình yêu trong mọi sự (Rm 8,28), Ngài còn ngự trong lòng mỗi Kitô hữu (Ga 14, 23).

4.2 Hội Thánh tăng trưởng và thành toàn


Sự hiệp nhất của Hội Thánh không như một ngôi nhà, dù cho nó vững chắc như bê tông cốt thép. Sự hiệp nhất của Hội Thánh luôn sinh động như một thân thể, trong đó mọi thành phần phải chung sức xây dựng, để toàn thân mãi mãi lớn lên, vạm vỡ. Trong bản văn Epheso 4, Thánh Phaolô viết “Trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Kitô, vì Người là đầu. Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ, nhờ mọi thứ gân mạch nuôi dưỡng và mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình. Như thế Người làm cho toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái”.

Thật tuyệt vời mở đầu câu trích với cụm từ “trong tình bác ái” rồi kết thúc cũng với cụm từ ấy. Thánh Phaolô như muốn khẳng định: chỉ bác ái mới làm cho thân mình tăng trưởng, và để cụ thể hoá tình bác ái, không có cách nào khác hơn là mỗi người hoạt động theo chức năng của mình. Như thế không ai bị coi là thừa trong thân mình Đức Kitô. Trái lại tất cả được Ngài sử dụng để rồi chính Ngài làm cho toàn thân lớn lên và đạt tới mức trưởng thành.

4.3 Hội Thánh chiến đấu (Eph 6, 10-17)

Suốt dòng lịch sử hai nghìn năm, Hội Thánh luôn bị đặt làm mục tiêu cho nhiều lực lượng thù ghét tấn công, như chính Đức Kitô đã tiên báo: “Vì Thầy anh em sẽ bị người ta thù ghét (...) Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn” (Mt 10, 22-28)


Hẳn thật, “trò không hơn Thầy, tớ không hơn chủ” (Mt 10, 24), nếu Đức Kitô bị tấn công không những do kẻ thù bằng xương bằng thịt, mà cả những lực lượng vô hình (Mt 4,1-11;1 Pr 5,8-9), thì làm sao chúng ta được chước miễn khỏi sự thù ghét của những kẻ thù truyền kiếp này? Vậy đâu là khí giới của người môn đệ Chúa Kitô? Đây, ta hãy lắng nghe lời khuyên dậy của Thánh Phaolô: Êphêsô 6,14-18:


Anh em hãy đứng vững: lưng thắt đai là chân lý, mình mặc áo giáp là sự công chính, chân đi giày và lòng hăng say loan báo Tin Mừng bình an; hãy luôn cầm khiên mộc đức tin...sau cùng hãy đội mũ chiến là ơn cứu độ và cầm gươm của Thần Khí ban cho, tức là LỜI THIÊN CHÚA”.


Như thế, theo thánh Phaolô, có bốn khí giới chính: sống theo sự thật, sống công chính, hăng say loan báo tin mừng và sống Lời Chúa:

- Sống theo sự thật, vì chỉ có sự thật mang lại cho ta sự giải thoát (Ga 8, 32)


- Sống công chính, theo Cựu Ước, là nỗ lực nên hoàn thiện bằng việc tuân thủ Luật Chúa.


- Hăng say loan báo Tin Mừng bình an, đó là mệnh lệnh của Đức Kitô Phục Sinh (Mc 16,15) và đó cũng là khí giới bách chiến bách thắng của Thánh Phaolô và hàng triệu chiến sĩ truyền giáo suốt hai nghìn năm nay. Hẳn thật, kẻ thù của Hội Thánh là con cái của bóng tối. Chúng chỉ chào thua, khi ánh sáng Chúa Kitô và Tin Mừng toả rạng trong tâm hồn mọi người.


- Sau hết, Lời Chúa sắc bén như gươm hai lưỡi là lợi khí chiến thắng quân thù (Dt 4, 12). Chính Đức Kitô đã dùng Kinh Thánh để đánh gục tên cựu thù satan, khi nó đến cám dỗ Ngài trong sa mạc (Mt 4,1-11). Riêng Thánh Phaolô rất tin tưởng vào quyền năng của Lời Chúa, nên mạnh dạn tuyên bố: “Tôi không hổ thẹn loan báo Tin Mừng vì đó là quyền năng cứu rỗi” (Rm 1,16). Cùng mang một niềm tin vào sức mạnh của Lời ban sự sống, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI và Thượng Hội Đồng Giám Mục 2008 lạc quan nhìn về tương lai của Hội Thánh, ngài phát biểu: “Tôi tha thiết mong ước được thấy nở rộ một mùa xuân mới, chan hoà tình yêu hơn nữa đối với Thánh Kinh từ mọi thành phần dân Chúa, để việc đọc Lời Chúa trong tư thế cầu nguyện và trong đức tin, cho phép họ đào sâu liên hệ với chính bản thân Đức Kitô Giêsu” (VD 72).


4.4 Hội Thánh hướng về cánh chung

Đức Kitô là Alpha và Ômega, là khởi điểm và cùng đích của Hội Thánh. Do đó, theo Ralph P. Martin, trong thư Epheso, Hội Thánh và Đức Kitô không tạo nên hai thực thể độc lập, nhưng cả hai liên kết với nhau chặt chẽ đến nỗi, có thể nói, làm nên một toàn thể duy nhất “Đức Kitô ở trong Hội Thánh” (Nouveau commentaire biblique, pg 1169)

Hơn ai hết, thánh Phaolô nao nức về với Đức Kitô, ngài hô hào mọi người: “Hãy quên phía sau mà lao mình tới trước, chạy tới đích điểm trong Đức Kitô” (Pl 3,14). Tạo sao chạy tới Đức Kitô, nếu không tin rằng Ngài là hạnh phúc vĩnh cửu, là sự sống đời đời (Bênêđictô XVI, Spe Salvi 10).


Công đồng Vatican II hẳn có lý trong lời tuyên chứng sau đây: “Bao lâu còn là lữ hành trên đường dương thế xa cách Chúa, Hội Thánh nhận mình bị lưu đày, nên luôn tìm kiếm và nếm hương vị trên trời, noi Chúa Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa, nơi tiềm ẩn sự sống của Hội Thánh cùng Chúa Kitô trong Thiên Chúa, cho đến ngày xuất hiện với Phu Quân mình trong vinh quang” (x. Col 3,1-4). (Vatican II. LG số 6)

Nhưng đâu là điều kiện?

Trong phần cuối thư Êphêsô, thánh Phaolô khuyến khích các Kitô hữu: “Tỉnh giấc đi hỡi người còn đang ngủ! Từ chốn tử vong chỗi dậy đi nào! Đức Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi”.

Hô “tỉnh giấc” làm ta liên tưởng tới dụ ngôn Tin Mừng về mười trinh nữ. Hướng về cánh chung chẳng khác nào chuẩn bị đi dự tiệc cưới, mà chính Hội Thánh là hiền thê Đức Kitô (Eph 5,23-25). Ngày cánh chung như thế là ngày vui, ngày mang đến niềm hy vọng. “Ánh sáng Đức Kitô quả là mầu nhiệm Phục Sinh, một trời mới đất mới đang mong chờ ta”!


Thật, Thầy bảo thật anh em, anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn anh em sẽ trở thành niềm vui...Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng và niềm vui của anh em không ai lấy mất được” (Ga 16,20-22).


(Xem thêm thông điệp Đức Thánh Cha Biển Đức 16, Spe Salvi s.44-35 về cánh chung!)

 

KẾT LUẬN

Hội Thánh là cộng đoàn đức ái (coetus caritatis, Vatican II, LG 17), hiệp thông với Thiên Chúa Tình Yêu. Hội Thánh đang cùng với Đức Kitô nhập thể mỗi ngày nơi những con người bằng xương bằng thịt, đang cùng nhau chia sẻ nếp sống đa dạng của kiếp người. Tuy nhiên qua các Kitô hữu, Hội Thánh muốn làm ánh sáng và muối ướp trần gian và qua những ai đã trở thành con Thiên Chúa nhờ bí tích thanh tẩy, Hội Thánh ước mong mọi người nhận ra ý nghĩa của hai chiều cây Thập Giá: Với chiều ngang, Hội Thánh là bàn tay nối dài của Đức Kitô, sẵn sàng ôm lấy thế giới; với chiều cao, Hội Thánh dâng nhân loại lên Cha như “của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa mỗi ngày” cùng với lễ tế của Đức Kitô Giêsu (x. Rm 12,1)

Là linh mục, thiết nghĩ thiết nghĩ hơn ai hết, chúng ta ý thức chỗ đứng và vai trò của mình trong Hội Thánh, chúng ta quyết tâm thực hiện lời Thánh Phaolô nhắn nhủ Timôthê: “Hỡi anh em, người con của tôi, anh hãy nên mạnh mẽ trong ân sủng của Đức Kitô Giêsu. Trong nghề binh, không ai vướng mắt vào những việc thuộc đời sống dân sự, có thế mới đẹp lòng người tuyển mộ. Người tham dự điền kinh cũng vậy, sẽ không đoạt giải nếu không thi đấu theo luật lệ. Còn người nông dân làm việc vất vả, thì phải là người đầu tiên được hưởng phần hoa lợi...Anh hãy luôn nhớ đến Đức Giêsu Kitô, Đấng đã Phục Sinh...” (2 Tm 2,1-8)


Nhờ Mẹ La Vang phù trợ,

Trong sức mạnh của Chúa Thánh Linh,

Chúng ta cùng Hội Thánh quyết tâm lên đường!

Bởi lẽ, Thánh Tông Đồ đã xác quyết:

“Anh đã nhận lấy không phải một thần khí đớn hèn, bạc nhược,

nhưng là một Thần Khí quả cảm, tiết tháo và yêu thương” (2 Tm 1,7)

+++


LỜI KINH ĐẦY TÍN THÁC

Chúa ơi! Chúa đã đến xin con tất cả và con đã dâng hết cho Ngài.

Con là người ham đọc sách nhưng Ngài đã lấy mất đôi mắt con rồi.


Con thích chạy tung tăng trong rừng vắng, nhưng Ngài đã lấy mất đôi chân rồi!


Con thích hái những đoá hoá ngoài đồng nội lúc xuân về, nhưng Ngài đã xin đôi tay con rồi!

Là phận nữ, con thích ngắm vẻ đẹp mái tóc mượt mà của con, sự xinh xắn của đôi tay thon thả con, nhưng giờ đây,Chúa ơi, đầu con không còn lấy một sợi tóc, những ngón tay của con chỉ là nắm củi khô.


Chúa ơi! Hãy nhìn xem tấm thân kiều diễm của con tàn tạ đến mức nào!


Nhưng con không nổi loạn. Con ngàn lần tạ ơn Chúa nữa là khác.


Phải, đời đời con sẽ tạ ơn Chúa. Nếu như chiều nay con lìa đời, con vẫn cảm thấy đời con tràn đầy một cách kỳ diệu, vì khi sống cho tình yêu, lòng con được phủ phê ơn phúc quá điều con mong ước.

Ôi Cha của con! Cha đã xử tốt với Véronique của Cha đến mức nào. Vào chiều nay, ôi Đấng con yêu, con cầu xin cho mọi người cùi trên mặt đất. Con đặc biệt cầu cho những người đang bị bệnh cùi thiêng liêng đánh gục, tàn phá đến què quặt và nằm bại liệt.


Họ là những người đáng được con yêu mến và dâng bản thân để âm thầm cầu cho họ, vì họ là những người anh, người chị của con.

Ôi Tình Yêu của con! Con dâng lên Ngài bệnh cùi thể lý của con, để những anh chị ấy không bao giờ biết đến sự nhàm chán, lạnh lẽo của bệnh cùi tâm hồn nữa.


Con là con gái yêu của Cha, ôi Cha của con! Xin đưa tay dắt con như mẹ hiền đang dìu con gái nhỏ! Xin cho con ngồi sát tim Ngài như người cha ấp yêu con gái nhỏ bên lòng. Ước gì con được ở mãi đó với những người con yêu cho đến muôn đời.

Véronique của Cha

(một Nữ bệnh nhân phong cùi)

(WTGPH)

Lên đầu trang