SỐNG GIỚI RĂN TRỌNG NHẤT: MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

2/16/2013 11:07:39 AM
Thứ 7 sau Lễ Tro (Năm C)

Lc-5_27-32.jpg 

Lời Chúa: Lc 5, 27-32

27 Hôm ấy, Đức Giê-su trông thấy một người thu thuế, tên là Lê-vi, đang ngồi ở trạm thu thuế. Người bảo ông : "Anh hãy theo tôi !" 28 Ông bỏ tất cả, đứng dậy đi theo Người.

29
Ông Lê-vi làm tiệc lớn đãi Người tại nhà ông. Có đông đảo người thu thuế và những người khác cùng ăn với các ngài. 30 Những người Pha-ri-sêu và những kinh sư thuộc nhóm của họ mới lẩm bẩm trách các môn đệ Đức Giê-su rằng : "Sao các ông lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi ?" 31 Đức Giê-su đáp lại họ rằng : "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. 32 Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn."


Suy Niệm


Mùa Chay là đỉnh cao Hội Thánh thúc giục con cái mình phải nên hoàn hảo như Cha trên trời (x Mt 5,48), cụ thể là thực hành giới răn Mến Chúa – Yêu người. Lời Chúa trong Phụng Vụ hôm nay, nhắc nhở cho chúng ta sống ba điểm giáo lý để thực hành giới răn Yêu cốt lõi của Đạo :

- Ý thức về sự khốn nạn do tội mình gây ra.

- Năng hiệp dâng Thánh Lễ.

- Chọn việc tốt nhất.

 

I. Ý THỨC VỀ SỰ KHỐN NẠN DO TỘI MÌNH GÂY RA.

Ai càng ý thức mình là kẻ tội lỗi gây bao tại họa khốn nạn, sinh lòng sám hối xin được theo Chúa Giêsu, Đấng giàu lòng thương xót, thì người ấy càng làm vinh danh Ngài. Đó là lý do Đức Giêsu nói : "Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn." (Lc 5,32 : Tin Mừng).

 

Chúa không kêu gọi người công chính là Ngài không kêu gọi người tự mãn vào việc tuân giữ Lề Luật Môsê mà khinh dể người khác (x Lc 18,9), đến nỗi trở nên quyết liệt chống đối Đức Giêsu, và không muốn cho ai theo Ngài (x Ga 7,47-48).

 

Trước mặt Thiên Chúa không ai được kể là người công chính (x Tv 143/142,2). Bởi thế  thánh Phaolô nhắc lại lời Kinh : “Không có ai công chính, một người cũng không. Hết thảy đều lầm lạc hư đốn cả lũ. Hành thiện không còn có ai, một người cũng không” (Tv 14/13,1-3 =  Rm 3,10-12). Vì lẽ đó mà “Luật lập ra cho loài người vô luân, chứ không phải cho người được công chính trong Chúa Kitô” (1Tm 1,9). Thế nên “ai đã được công chính trong Chúa Ki-tô, thì phải là người ngao ngán cực phiền trước thói phóng đãng của lũ người phi pháp” (2 Pr 2,7).

 

 “Vi trùng phi pháp” xâm nhập linh hồn người ta, duy chỉ có “Lương Y Giêsu” mới chữa lành (x Cv 4,12). Bởi thế Giêsu trả lời cho kẻ chê trách Ngài đã dùng bữa với bọn thu thuế và quân tội lỗi, Ngài nói : “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.” (Lc 5,31: Tin Mừng).


Sở dĩ người ta kết án kẻ thu thuế vì ba loại tội họ vi phạm :

1- Người thu thuế dễ lạm dụng quyền do đế quốc Roma cho : Thời ấy Roma không trực tiếp đứng ra thu thuế người Do Thái, mà trao cho người địa phương thầu. Người thu thuế chỉ cần nộp đủ số tiền thuế Roma đã quy định, nên dễ dựa vào kẽ hở của Luật để tìm cách thu cao hơn mức thuế đã ấn định mà người dân phải nộp. Đó là cách gian lận để làm giàu. Chính ông Giakêu cũng đã thú nhận tội này với Đức Giê-su, qua việc ông xin đền gấp bốn đối với những ai ông đã làm thiệt hại (x Lc 19,8b).

2- Phản quốc : lấy thuế của dân tộc mình mà nộp cho ngoại xâm, là củng cố ách thống trị của đế quốc đang đè nặng trên dân ! Đó là hành động “rước voi về giày mồ”.

3- Phản đạo : vì người Do Thái vẫn hằng tin tưởng vào Thiên Chúa mà cầu nguyện rằng : “Vì đâu có phải nhờ gươm giáo mà họ chiếm đất đai, đâu phải cánh tay họ đem được thắng lợi về.

Nhưng chính là nhờ tay hữu Chúa, tay mạnh mẽ và ánh tôn nhan Ngài, vì Ngài yêu thích họ.

Chính Ngài là Vua, là Thiên Chúa của con, đã cho nhà Giacóp toàn công thắng trận.Ngài trợ lực, chúng con quật ngã quân thù, nhờ danh Ngài, chúng con chà đạp đối phương
” (Tv 44/43,4-6) và “không phải nhờ gươm nhờ giáo mà Chúa ban chiến thắng, bởi lẽ chiến đấu là việc củc Thiên Chúa” (1Sm 17,47). Thế mà bọn thu thuế đã lấy thuế của người đồng chủng mà nộp cho ngoại bang, là một cách trông cậy vào thế lực của kẻ ngoại hơn là trông cậy vào Thiên Chúa. Nói cách khác : đặt uy danh Chúa dưới quyền lực của đế quốc Roma !

Nhưng ai biết ăn năn sám hối tội mình, thì đều đáng được Đức Giêsu kêu gọi để nên chứng nhân cho Ngài, một khi họ cảm  nghiệm được “ở đâu tội lỗi nhiều, ở đó ân sủng Chúa ban càng chan chứa” (Rm 5,20). Vì Chúa đã phán : “Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống” (Ed 33,11 : Tung Hô Tin Mừng).


Trong lịch sử cứu độ, người nào biết khiêm tốn thú nhận tội lỗi mình trước mặt Chúa, thì người ấy lại được Chúa làm việc lớn. Cụ thể như :

+ Ông Phêrô được làm Giáo hoàng.


- Trong số 12 môn đệ Đức Giêsu chọn, chỉ ông Phêrô thú nhận với Thầy: “Xin Thầy xa con, vì con là kẻ có tội” (Lc 5,8), nên ông đã được Chúa đặt làm Giáo hoàng tiên khởi (x Mt 16,18), bởi đó trước khi Ngài chính thức trao quyền lãnh đạo Hội Thánh cho ông, Ngài đã khéo léo, tế nhị nhắc đến ba lần ông đã chối Thầy, bằng cách ba lần Ngài hỏi : “Con có yêu Thầy không ?”   (x Ga 21,15t).

+ Ông Phaolô được làm Tông Đồ muôn dân :


Chính ông đã thú nhận : 

- Tôi đã bắt bớ đạo Chúa đến chết chóc cũng không trừ, xiềng xích và tống giam đàn ông đàn bà” (Cv 22,4).

- “Chẳng có gì lành cư ngụ trong tôi, sự lành tôi muốn, tôi không làm, còn sự dữ, tôi không muốn,tôi lại cứ làm” (Rm 7,18-19).

-Để mạc khải cao siêu khỏi làm tôi quá tự tôn, thì tôi đã được một cái dằm đâm vào thân xác, một thần sứ satan, để nó vả mặt tôi. Về điều ấy, đã ba lần, tôi nài xin Chúa cho nó rời khỏi tôi. Nhưng Ngài đã phán bảo tôi : Ơn Ta đủ cho ngươi. Vì chưng quyền năng trong yếu đuối mới viên thành” (2Cr 12,7-9).

Thế mà sau khi Phaolô trở lại với Chúa, ông đã khiêm tốn học giáo lý nơi môn đệ Đức Giêsu, những người bị mang tiếng là “vô học thức” (x Cv 4,13), nên ông được Chúa đặt ông làm Tông Đồ muôn dân (x Gl 2, 2.7), ông đã hân hoan khoe với giáo đoàn Côrinthô : “Thiết tưởng nào tôi thua gì những Tông Đồ thượng đẳng” (2Cr 11,5),

Vậy trong loài người không ai được mặc cảm mình là kẻ tội lỗi bất xứng, không đáng được Chúa kêu gọi làm Tông Đồ cho Ngài. Bởi vì cả đến tên trộm lành, suốt cuộc đời hắn chỉ làm khổ người ta,  khi bị đóng đinh trên thập giá, hắn đã biết sám hối tội, xin Chúa thương xót, và xin được theo Ngài, hắn đã trở nên người mẫu động viên tất cả những kẻ tội lỗi biết sám hối tội mình mà đến với Chúa Giê-su, để được ơn hơn lòng mong ước (x Lc 23,43 ; Ep 3,20).

II. NĂNG HIỆP DÂNG THÁNH LỄ.

Hình ảnh bữa tiệc Đức Giêsu ngồi chung với những người tội lỗi tại nhà ông Mátthêu (x Lc 5,29 : Tin Mừng), trở thành dấu chỉ bữa tiệc Thánh Thể Chúa mời gọi mọi người tham dự.

Ta biết ai được dự tiệc với Chúa Giêsu là dấu chỉ người đó được ơn giải phóng, được giao hòa với Thiên Chúa, được cứu độ. Chân lý này đã được diễn tả qua hình ảnh ông Gioakim, vua Do Thái thất trận đã bị tù ở bên Babylon. Ngày vua Babylon đăng quang, khi vua đã toàn thắng các nước chư hầu, vua đã phóng thích cho Gioakim khỏi cảnh tù đày, cho mặc áo vua và ngồi nơi ghế cao nhất trong bữa tiệc của vua tổ chức (x 2 V 25,27-29).

Thực vậy, mạc khải cho chúng ta biết ơn cứu độ được Chúa ban trọn vẹn cho con người luôn luôn được diễn tả trong bữa tiệc :

- Ông Matthêu dọn tiệc để mời những người tội lỗi đến đồng bàn với Đức Giêsu và các    môn đệ (x Lc 5,29 : Tin Mừng).

- Những cô trinh nữ khôn ngoan được vào dự tiệc cưới với chàng rể (x Mt 25,1-13).

- Người đầy tớ trung tín làm trọn những nhiệm vụ chủ trao phó, khi chủ về, ông đặt đầy tớ vào bàn tiệc để hầu hạ (x Lc 12,35-37).

- Đức Giêsu diễn tả những người được Ngài cứu độ là những khách được mời đến dự tiệc của vua, ai đến tham dự thì được sống, kẻ khước từ bị chu diệt (x Lc 14,15t).

- Đứa con hoang đường trở về cũng như người con cả muốn được hưởng hạnh phúc bên cha thì phải dự tiệc của cha đã dọn (x Lc 15,11t).

- Ngày cánh chung, khi Chúa cho mọi người từ cõi chết sống lại cả hồn lẫn xác, hạnh phúc nhất là những người công chính : người biết thương giúp đồng loại, nhằm quy tụ họ về với Chúa, trở thành những “kẻ bé nhỏ”, để tất cả được vào dự tiệc hoan lạc trong Nước Thiên Chúa  (x Mt 25,31-46).

III. CHỌN VIỆC TỐT.

Muốn nên thánh vươn tới sự hoàn hảo như Cha trên trời (x Mt 5,48), mỗi người phải chu toàn hai bổn phận : Bổn phận đối với Thiên Chúa và bổn phận đối với đồng loại. Nói tắt là mến Chúa, yêu người. Đó là Giới Răn quan trọng nhất, giềng mối của mọi Giới Răn.
 

Ngôn sứ Isaia trong Bài đọc lại đặt Luật yêu người trước Luật yêu Chúa, vì ai không yêu người tất cũng chẳng yêu mến Chúa :

1-Bổn phận đối với đồng loại : “Nếu ngươi loại khỏi nơi ngươi gông cùm, cử chỉ đe doạ và lời nói hại người, nếu ngươi nhường miếng ăn cho kẻ đói, làm thoả lòng người bị hạ nhục, thì ánh sáng ngươi sẽ chiếu toả trong bóng tối, và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ.  Đức Chúa sẽ không ngừng dẫn dắt ngươi, giữa đồng khô cỏ cháy, Người sẽ cho ngươi được no lòng; xương cốt ngươi. Ngươi sẽ như thửa vườn được tưới đẫm như mạch suối không cạn nước bao giờ.Nhờ ngươi, người ta sẽ tái thiết những tàn tích cổ xưa, ngươi sẽ dựng lại những nền móng của các thế hệ trước, người ta sẽ gọi ngươi là người sửa lại những lỗ hổng, là kẻ tu bổ phố phường cho người ta cư ngụ.”  (Is 58, 9b-12 : Bài đọc).

2- Bổn phận đối với Thiên Chúa : “Nếu ngươi giữ chân không vi phạm ngày Sa-bát, và không tìm lợi lộc trong ngày thánh của Ta, nếu ngươi gọi ngày Sa-bát là "niềm vui" và ngày thánh của Đức Chúa là "vinh hiển", nếu ngươi tôn trọng ngày đó mà tránh đi đường, tránh kiếm lợi, tránh nói huyên thuyên, thì bấy giờ, ngươi sẽ được Đức Chúa làm niềm vui, Ta sẽ cho ngươi phóng ngựa trên các vùng đất cao trong xứ, sẽ cho ngươi hưởng gia nghiệp của Giacóp, tổ tiên ngươi. Chính miệng Đức Chúa đã phán như vậy” (Is 58,13-14 : Bài đọc)

Một việc được gọi là tốt phải hội đủ những yếu tố :

 * Về mặt nhân bản.

- Bản chất việc đó tốt.

- Thuộc bổn phận.

- Hoàn cảnh bắt buộc phải làm trước.

 * Về mặt Đức Tin.

Phải hội đủ ba yếu tố trên và còn phải thêm :

- Điều tốt bất cứ ai cũng thích, ai cũng muốn. Ví dụ : Đời sau xác hồn hạnh phúc.

- Điều tốt ấy vĩnh cửu như Thiên Chúa.


Nhưng việc tốt cũng có ba cấp độ :

a- Việc tốt thôi. Cụ thể như ông Matthêu, nếu ông tôn trọng mọi người, sống công bằng, thì ông chỉ nên thu thuế đúng mức mà chính quyền đã ấn định, đó mới là một công chức lương thiện, góp phần điều hành tốt sinh hoạt xã hội. Việc này đơn thuần là tốt, vì nó nhằm mục đích phục vụ một số người đồng thời, trong một xã hội nhất định.

b- Việc tốt hơn. Hãy bắt chước ông Matthêu đã biết dùng tiền của để quy tụ những kẻ tội lỗi đến đồng bàn với Đức Giêsu. Như thế là tốt hơn vì ông đã biết sử dụng thực tại trần thế để xung vào vào việc tập họp mọi thụ tạo, nhất là người tội lỗi được đồng bàn với Đức Kitô, chung lời tôn vinh Chúa Cha (x 1Cr 3, 22-23). Đó là ta đã đóng góp  vào chương trình cứu độ của Đức Kitô, trong một thời nhất định.

c- Việc tốt nhất. Ông Matthêu dám tin tưởng vào lời mời gọi của Đức Giêsu : “Hãy theo Ta”, nên ông đã mau mắn bỏ ngay kế sinh nhai thu thuế là nghề béo bở, rồi ông đi theo Đức Giêsu để đi thu góp Lời Chúa, một kho tàng cứu độ vô giá, lưu lại cho muôn thế hệ. Cụ thể ta thấy vai trò ưu thắng của Tin Mừng Mátthêu trong Phụng vụ Hội Thánh hơn 20 thế kỷ nay, dù ông bị mang tiếng là kẻ tội lỗi tày trời, đang mải miết bận rộn việc trần thế, mà Đức Giêsu  không xa tránh ông, trái lại Ngài ân cần đến với ông như một y sĩ tận tình chăm sóc bệnh nhân, và như ông được tình yêu Đức Giêsu thôi thúc (x 2Cr 5,14) phải đi làm việc tốt nhất Ngài trao cho là loan Tin Mừng cứu độ. Căn cứ vào việc tốt nhất này, mà Công Đồng Vat.II trong Hiến Chế Hội Thánh số 35 có lý để nhắc nhở cho mọi Kitô hữu : “Giáo dân có thể và phải có một hoạt động cao quý là truyền bá Tin Mừng cho thế giới, cả lúc họ bận tâm lo lắng việc trần thế !”

Áp dụng chọn công thức “Tốt Thôi – Tốt Hơn – Tốt Nhất” vào cuộc sống chúng ta hôm nay, ví dụ : Tôi định xây dựng một căn nhà tốn tiền tỷ, thì tốt thôi ; nhưng tôi bớt ra 50 triệu đồng để giúp vốn cho người nghèo có công ăn việc làm, thì tốt hơn ; và nếu tôi quyết định chỉ dành 900 triệu xây nhà, và dâng cho Hội Thánh 100 triệu để làm phát triển Tin Mừng, thì tốt nhất. Tưởng rằng nhà xây một tỷ, hoặc 900 triệu thì cũng tương đương nhau. Nhưng ở nhà 900 triệu chắc chắn được Chúa chúc phúc hơn, vì đó là người Tông Đồ giỏi của Chúa. Muốn sống khôn như thế, ta phải cầu nguyện : “Xin dạy con đường lối Ngài, lạy Chúa, để con vững bước theo chân lý của Ngài” (Tv 86/85,11a : Đáp ca),


THUỘC LÒNG

Tôi là tù nhân trong Chúa để sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban  (Ep 4,1).

Lm. Giuse Đinh Quang Thịnh

Lên đầu trang