SỐNG BỞI ĐỨC TIN (Rm 1,17)

3/4/2013 12:28:42 AM
THỨ HAI SAU CHÚA NHẬT 3 - MÙA CHAY

cross.jpg 

Lời Chúa: Lc 4,24-30

24 Khi đến Na-da-rét, Đức Giêsu nói với dân chúng ttrong hội đường : "Tôi bảo thật các ông : không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình.


25
"Thật vậy, tôi nói cho các ông hay : vào thời ông Ê-li-a, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà goá ở trong nước Ít-ra-en ; 26 thế mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà goá thành Xa-rép-ta miền Xi-đôn. 27 Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Ê-li-sa, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Ít-ra-en, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Na-a-man, người xứ Xy-ri thôi."

28
Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. 29 Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành -thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. 30 Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi.

  
Suy Niệm


Đức Giêsu đã nói : “Kẻ thù là người nhà của mình” (Mt 10,36). Đúng thế, khi Đức Giêsu về quê Nazareth giảng dạy cho những người đồng hương của Ngài, ai cũng ngạc nhiên thấy dân này từ tâm tình thán phục lời giảng của Ngài (x Lc 4,22) lát sau họ chuyển sang căm thù Đức Giêsu muốn xô Ngài xuống vực thẳm (x Lc 4,29 : Tin Mừng). Để biết lý do nào khiến những người này thay đổi mau chóng như thế, và để biết Đức Giêsu muốn dạy điều gì cho những người thân yêu của Ngài  được cứu độ. Chúng ta hãy tìm hiểu ba vấn đề :

- Lý do người đồng hương Đức Giêsu chống đối Ngài.

- Đức Tin là ơn Chúa ban.

- Đức Tin phải thể hiện bằng việc làm.

 

I. LÝ DO NGƯỜI ĐỒNG HƯƠNG ĐỨC GIÊSU CHỐNG ĐỐI NGÀI.

Người đồng hương chống đối Đức Giêsu vì hai lý do :

1/ Họ xét lý lịch Đức Giê-su thì không có gì đáng kính nể để họ phải tin Lời Ngài giảng, họ nói với nhau : “Ông này là con ông Giuse” (Lc 4,22), “làm nghề thợ mộc” (Mt 13,54). Cả đến ông Nathanael, người say mê đọc Thánh Kinh cũng chẳng tin tại Nazareth xuất thân một Đấng Cứu Thế, ông nói với ông Philíp : “Nazareth chẳng có gì hay cả” (Ga 1,46). Đức Giê-su lại không phải là một thầy Lêvi chuyên lo việc tế tự, Ngài cũng không phải là một ký lục chuyên sao chép và giảng dạy Lề Luật. Nhưng “người ta kinh ngạc về giáo huấn của Ngài, vì Ngài dạy dỗ họ như Đấng có uy quyền chứ không như các ký lục” (Mc 1,20).

Chính vì vậy mà khi những đầu mục Do Thái thấy Đức Giêsu làm nhiều điều lẫy lừng, giảng dạy hấp dẫn lôi kéo nhiều người mà bỏ họ, do đó họ muốn diệt Ngài, nên sai các thủ hạ đi bắt, điều ấy gây chia rẽ giữa dân chúng và hàng đầu mục, dân thì xác tín rằng : “Ngài là tiên tri hoặc Ngài là Đấng Kitô”, nhưng có kẻ lại nói : “Dễ chừng Đức Ki-tô đến từ Galilê sao ? Kinh Thánh  lại đã không nói là : Đức Ki-tô thuộc dòng giống Đavid, và đến từ Bêlem làng quê Đavid hay sao ?”(Ga 7,40-42).


Vì dân vùng Nazareth quá biết rõ lý lịch của Đức Giêsu, nên họ không xin Ngài ban Đức Tin. Vì thế Đức Giêsu trách họ : “Tôi bảo các ông không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình” (Lc 4,24 : Tin Mừng).


2/ Đức Giêsu không đáp ứng yêu cầu của dân như lời họ thách thức Ngài : “Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình đi ! Mọi điều chúng tôi đã nghe xảy ra ở Capharnaum, thì ông hãy làm cả nơi quê hương ông đây nữa đi” (Lc 4,23). Nói như kiểu Việt Nam : “Một người làm quan cả họ được nhờ”, thực ra Đức Giêsu đã chữa lành nhiều bệnh nhân và trừ quỷ xuất khỏi nhiều người (x Mc 6,13). Nhưng họ đâu có tin Ngài.

II. ĐỨC TIN LÀ ƠN CHÚA BAN.


Đức Tin là ơn nhưng không Chúa ban cho con người, do đó Đức Tin không phát xuất từ bản năng con người. Vì bản năng con người là đói khát cơm bánh, tự nhiên không ai đói khát Lời Chúa. Chính vì vậy Chúa nói qua miệng ngôn sứ Amos : “Ta sẽ gieo đói khát trong xứ này, không phải đói bánh ăn, cũng không phải khát nước uống, mà là đói khát được nghe Lời Chúa” (Am 8,11) ; vì thế mà một người cha có đứa con bị kinh phong, quỷ cứ xô nó vào nước vào lửa, ông đã xin các môn đệ Đức Giêsu chữa cho nó, nhưng các ông bất lực, nên người cha đến thưa với Đức Giêsu : “Nếu Ngài có thể xin thương xót chúng tôi và cứu giúp chúng tôi”, Đức Giêsu nói với ông ấy : “Sao ! “Nếu có thể”…mọi sự đều có thể cho người tin”, tức thì cha đứa bé kêu lên mà nói : “Tôi tin! Nhưng xin hãy đáp cứu lòng yếu tin của tôi !” (x Mc 9,14-24).

Dù Đức Giêsu đã làm nhiều phép lạ ở quê hương, nhưng Ngài không coi đó là phép lạ vì dân cứng lòng tin (x Mc 6,4-6), đối với Đức Giêsu chỉ được gọi là phép lạ như ông Naaman sau khi được Chúa cho khỏi cùi, thì ông không thờ thần nào khác ngoại trừ Thiên Chúa (x 2V 5,15 : Bài đọc).


Bởi vậy mọi ơn chúng ta đón nhận nơi Chúa là do bàn tay làm việc trong Chúa Giêsu (x Ga 15,5), riêng ơn Đức Tin chúng ta đón nhận bằng hai đầu gối quỳ cầu nguyện xin Chúa ban.

III. ĐỨC TIN PHẢI THỂ HIỆN BẰNG VIỆC LÀM.

Dù người đồng hương cứng tin và có ác ý muốn giết Đức Giêsu, nhưng Ngài vẫn thương dạy họ cách đón nhận ơn cứu độ, nếu họ thực hiện hai việc sau :

C Tin vào Lời Chúa hướng dẫn thực hiện đức ái như bà góa Sarepta.

C Tin vào lời hướng dẫn của người Chúa sai đến, và ngoan ngoãn làm theo, như ông Naaman làm theo lời cô bé Israel và ngôn sứ Êlysa :

1/ Tin vào Lời Chúa hướng dẫn thực hiện đức ái như bà góa Sarepta.

Đức Giêsu nhắc đến bà góa Sarepta mau mắn thực hành Lời Chúa, nên bà đã làm bánh đưa cho ngôn sứ Êlya ăn (x Lc 4,26 : Tin Mừng). Thực ra, lúc đầu bà chối từ không giúp ông Êlya là đúng, vì bà còn có bổn phận nuôi con, không thể giựt miếng bánh của con mà đưa cho Êlya ăn được! Nhưng khi bà vừa nghe ngôn sứ nói : “Chúa bảo rằng : bà cứ làm bánh cho tôi ăn trước, Chúa sẽ làm cho hũ bột nhà bà không vơi !” Nghe Chúa nói như thế, bà mau mắn làm ngay. Qủa thật, từ lúc ấy hũ bột nhà bà lúc nào cũng đầy, nhờ đó hai mẹ con bà không lâm cảnh chết đói như bao người trong vùng, dù hạn hán đã ba năm sáu tháng! (x 1V 17)


2/ Tin vào lời hướng dẫn của người Chúa sai đến, và ngoan ngoãn làm theo, như ông Naaman làm theo lời cô bé Israel và ngôn sứ Êlysa :

Đức Giêsu còn nhắc cho người đồng hương nhớ đến ông Naaman được khỏi cùi (x Lc 4,27 : Tin Mừng), để những ai muốn được Chúa cứu độ cũng phải bắt chước hành động Đức Tin của ông :

Tướng quân Naaman, sau khi đem quân sang đánh nước Do Thái, ông bắt được một tớ gái đem về phục vụ tại nhà ông. Thời gian sau ông bị bệnh cùi, tìm thày chạy thuốc khắp nơi nhưng tiền mất tật mang! Lúc ấy đứa tớ gái nói với ông chủ :

- Ngài cứ sang xứ chúng tôi, đến gặp vị ngôn sứ, ông ấy sẽ có lời  chữa bệnh cho ngài.

Ông Naaman không chịu đi, vì nhiều thày thuốc đã bó tay trước bệnh tình của ông, chứ đến với ông ngôn sứ nào có lời chữa bệnh? Nhưng đứa tớ gái ngày ngày cứ thúc ông chủ, nghe mãi ông cũng mủi lòng đi thử coi cho biết. Để sang xứ Israel cầu ân, thì phải làm hòa với vua ấy đã, do đó ông Naaman đến xin vua Aram cấp cho một bức thư, ông sẽ cầm qua cho vua Israel để xin chữa bệnh.

Ông Naaman lên đường cùng với lá thư và đoàn tùy tùng chở vàng bạc châu báu. Khi vua Israel đọc thư xong, ông thịnh nộ xé áo mình ra và truyền lệnh tống khứ Naaman về nước. Với lý do là chỉ có Thiên Chúa mới chữa được bệnh cùi, chứ người phàm làm gì được? Và cho đó là âm mưu của Na-a-man muốn hại vua…!

Ông Naaman ra về mà lòng nặng trĩu, những người đi theo ông, có kẻ nói :

- Thưa tướng quân, ngài đến lầm địa chỉ rồi, con bé ấy nói ngài đến nhà ông ngôn sứ nào đó.

Ông Naaman quay trở lại tìm đến nhà ngôn sứ Êlysa,  đứng đợi mãi, chỉ có một đứa đầy tớ đi ra hỏi :

-   Ông có việc gì mà đến đây.

-   Tôi bị cùi, nghe nói ở đây có vị ngôn sứ chữa được bệnh đó phải không? Naaman hỏi .

-   Ông vui lòng chờ ở đây để con vào nhà hỏi ông chủ đã. Đầy tớ đáp.

Một lúc sau, nó chạy ra và nói :

- Ngôn sứ bảo là : Nếu ông muốn khỏi cùi cứ đến sông Giođan trồi lên ngụp xuống 7 lần.

Nghe nói thế, ông Naaman tức cuồng lên cho quay xe về quê. Trên đường về, ông nói với những người tùy tùng :

- Tưởng ông ngôn sứ cho ta toa thuốc, lại bảo đi tắm sông Giođan. Bộ quê mình không có nước sông nào sạch bằng ở đây sao?

Những người tháp tùng ông nói :

- Thưa ngài, nếu vị ngôn sứ đó bảo ngài phải làm một việc vất vả, tốn kém gì để chữa bệnh, thì ngài vẫn phải làm, đằng này chỉ là đi tắm sông, có khó khăn gì đâu?

Nghe có lý, ông liền quay lại đến tắm sông Giođan, và qủa nhiên sau khi trồi, ngụp 7 lần, da dẻ ông trở nên trắng trẻo như da con nít. Ông mừng quá, trở lại nhà ngôn sứ dâng vàng bạc châu báu để tạ ơn, nhưng vị ngôn sứ không nhận và bảo :

-   Chúa đã chữa bệnh cho ông chứ không phải tôi.

-   Tôi quyết từ nay chỉ thờ Thiên Chúa của ngài, vậy xin ngài cho tôi ít đất để tôi lập bàn thờ kính Thiên Chúa! Ông Naaman nói (x 2 V 5 : Bài đọc).

 Từ truyện bà góa Sarepta và ông Naaman, cho ta xác tín :

a-  Cứ làm theo Lời Chúa dạy, như bà góa Sarepta, dù Lời ấy xem ra vô lý, thì vẫn có dư của ăn.

b- Tội ta phạm còn làm cho ta ra khốn nạn hơn người bị phong hủi .

c- Ta cứ ngoan ngoãn nghe và làm theo lời Hội Thánh dạy, dù chưa hiểu, thì chắc chắn được Chúa đáp cứu nhu cầu của ta cách khác thường và dễ dàng, hơn ông Naaman nghe lời cô bé Israel đến với ngôn sứ Êlysa có lời dạy đi tắm sông Giođan là được khỏi bệnh.

d- Ơn cứu độ là ơn phổ quát, Chúa muốn ban cho hết mọi người trên trần gian hơn lòng mơ ước,như ông Naaman người ngoại giáo được Chúa cho khỏi phong hủi, chứ Ngài không chỉ ban ơn cho Israel.

e- Phải tin và lãnh nhận Bí tích Khai Tâm, để được thứ tha mọi tội lỗi và được thuộc trọn về Chúa, trở nên con người mới, như thánh Tông Đồ nói : “Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thụ tạo mới, con người cũ đã qua đi, con người mới được tạo thành” (2Cr 5,17). Việc ấy dễ dàng và sinh hiệu quả hơn ông Naaman nghe lời ngôn sứ Êlysa đi tắm sông Giođan, ngụp xuống trồi lên bảy lần, tức khắc bệnh phong biến mất, da thịt ông trở nên trắng nõn như da thịt con nít.

g- Khi đã được lãnh nhận ơn Chúa, ta quyết không thờ thần nào khác, ngoài Thiên Chúa Ba Ngôi ngự trong Hội Thánh là Đất Israel mới, hơn ông Naaman sau khi khỏi cùi, ông chỉ muốn tôn thờ Thiên Chúa trên đất Israel. Đó là lý do ông xin ngôn sứ Êlysa một ít đất Israel đem về nước để lập bàn thờ và dâng của lễ kính Chúa trên đó, là cách ông biểu lộ lòng tin  chỉ tôn thờ Thiên Chúa của Israel cũng là Chúa của ông mà thôi.

Vậy ta phải khiêm tốn và mau mắn thực hành Lời Chúa do Hội Thánh dạy, như Lời Tung Hô Tin Mừng ta vừa đọc : “Mong đợi Chúa, tôi hết lòng mong đợi, cậy trông ở Lời Người ; bởi Chúa luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa” (Tv 130/129, 5-7), và  cầu nguyện : “Linh hồn con khao khát Chúa Trời hằng sống, bao giờ con được đến vào bệ kiến Tôn Nhan (Tv 42/41,3 : Đáp ca).

THUỘC LÒNG

- Đức ái phủ lấp muôn vàn tội lỗi (1 Pr 4,8).

- Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới con người cũ qua đi, con người  mới được thành sự (2 Cr 5,17).

 

Linh mục GIUSE ĐINH QUANG THỊNH

Lên đầu trang