Những nghịch biện trong công cuộc cứu độ của Thiên Chúa

7/2/2015 10:44:14 AM
Một Vấn Đề Phức Tạp: Cuộc Song Đấu Giữa Sự Lành và Sự Dữ

 

 

Có nhiều cách thức khác nhau để suy tư về tình  trạng song đấu xảy ra trong trí óc và trong tâm lòng  con người, giữa sự lành (thiện) và sự dữ  (ác). Có thể dựa theo những cách thể nó biểu hiện rõ  ra nơi nhiều lãnh vực của cuộc sống xã hội mà  miêu tả cuộc song đấu ấy. Cũng có thể dựa theo những  cuộc khảo nghiệm tâm lý mà nghiên cứu về bản  chất của nó, bằng cách gia công xác định cho rõ hơn  đối với cách thức con người quan niệm về chính mình khi  đối diện với sự lành và sự dữ, đối với những  cảm ứng mà những lúc đó con người nghiệm thấy  từ trong tâm lòng sâu kín của mình, đối với phương  cách con người dùng đến để giải quyết những  vụ xung đột đang khuấy động bản thân của mình, cũng  như đối với những cảm thức mà thái độ xử  sự của con người sẽ khơi dậy tại trong nội tâm  cá nhân mình. Hoặc cũng có thể dựa theo các nguyên tắc  luân lý hiển nhiên đối với lương tâm, để nghiên cứu vấn  đề; vì đó là những nguyên tắc có khả năng giúp  nhận ra con đường cần phải đi, khi phải dọ dẫm  giữa vô số những trạng huống riêng biệt rất khác  biệt nhau, tức là trong những lúc mà không sao  thấy rõ ngay được đâu là sự dữ cần phải tránh,  và đâu là sự lành cần phải làm. Và  cũng còn có thể dựa theo phương thức nghiên cứu triết  học về con người, để thử xác định cái gì là lành  và cái gì là dữ đối với con người, cũng  như để có được một quan niệm siêu hình về vận mệnh con người  với tất cả những hệ lụy có ảnh hướng đến  thái độ sống của mỗi người.

 

Tuy nhiên, có nhờ đến ánh sáng của mạc khải thì  mới có được một tầm nhìn bao hàm trọn hết mọi khía cạnh  của vấn đề. Vì chính mạc khải đã vén mớ cho  thấy về thảm trạng tội lỗi độc hại mà loài  người sống qua ngay từ đầu, cũng như về công trình  cứu độ giải phóng nhân loại và đưa dẫn con người  đến một bậc sống cao siêu hơn. Ánh sáng ấy -- ánh  sáng do mạc khải ban cho chúng ta -- vượt quá hẳn tất  cả những gì khả năng khảo nghiệm dựa theo tâm  lý hay xã hội học có thể phát hiện được, cũng như  vượt quá tất cả mọi dự kiến của khoa triết học luân  lý. Ánh sáng ấy làm cho thấu hiểu được chiều kích  lưỡng cực của tội lỗi: nguồn gốc phát sinh từ  ảnh hướng của thần dữ, và tác động dội  lại gây xúc phạm đến chính Thiên Chúa; hai khía cạnh ấy minh  họa cho thấy về một cuộc xung đột, đấu tranh diễn ra ớ  một bình diện cao hơn bình diện thuần túy con người, nhưng  lại tỏ hiện ra ngay ớ chính trong tâm lòng con người  hằng chịu ảnh hướng giành giật của hai lực  lượng thiêng liêng đối nghịch.

 

     Trước hết, mạc khải mớ đường dẫn lối đưa chúng  ta vào trong mầu nhiệm công cuộc cứu độ , vì có  đi vào trong khuôn khổ của phương án (kế hoạch) Thiên  Chúa đề ra hầu giải cứu con người cho khỏi quyền  lực của sự dữ, thì mới được vén mớ cho thấy các  chiều kích độc hại của tội lỗi. Và duy một mình  Thiên Chúa mới có thể vén mớ cho con người biết về  phương án ấy. Cho dù có sâu sắc đến mấy, thì không một  mức thấu hiểu nào của trí tuệ đơn thuần nhân loại  về con người và về các mối quan hệ giữa con người  với Thiên Chúa, có đủ khả năng phát hiện ra được  hoạt động của Thiên Chúa toàn năng trong công trình  thực hiện phương án cứu độ loài người. Đây là  một hành động hoàn toàn nhưng không, xuất phát  từ một quyết định tuyệt đối tự do. Chỉ khi tác nhân của  hành động vén mớ cho thấy, thì mới có thể biết về  hành động ấy được: vén mớ bằng một hành động  mạc khải, có tính cách ân huệ nhưng không, hệt như chính  hoạt động cứu độ vậy.

 

Nhờ mạc khải ấy, con người nhận ra rõ được  diện mạo đích xác và tầm hướng thật sự của cuộc  song đấu giữa sự lành và sự dữ. Cuộc song  đấu này biểu hiện dưới những khía cạnh khác nhau,  cần được cân nhắc tất cả, không trừ một khía cạnh  nào. Có thể chúng ta gặp phải cám dỗ đi tìm một  thể trạng thống nhất đơn giản hơn bằng cách chỉ ghi nhận  những khía cạnh tác động đến chúng ta nhiều hơn cả:  bới vậy, nhiều tác giả đã nhấn mạnh đến tình  thương Thiên Chúa thể hiện qua công trình cứu độ, nhưng lại  giữ thái độ lặng thinh không đề cập gì tới, hoặc loại  trừ hết đi bất cứ hình thức khẳng định nào về hy lễ  thục tội (sacrifice expiatoire) mà, xem ra, họ cho  là đi ngược lại với tính chất hoàn toàn nhưng không  của tình thương. Nhưng, dù sao thì cũng cần phải  tôn trọng và bảo toàn hết mọi nhân tố gặp thấy  ớ trong giáo lý của Kinh Thánh, với nguyên vẹn tình  trạng phức tạp của chúng, vì có như thế, mới tránh khỏi  được ngõ cụt của một thể trạng thống nhất què  quặt vì bị cắt xén.

 

Sẽ nhầm lẫn lớn, nếu cứ nuôi tham vọng thấu triệt  cho được mầu nhiệm cứu độ bằng một lối giải thích thiên  vị hoặc một chiều. Và nếu có thấy là khó mà  hòa hợp được các khía cạnh khác nhau nói trên, thì cần  phải nhớ lại rằng Thiên Chúa luôn luôn khác với tất  cả những gì con người có thể nghĩ tướng ra được;  vì thế, nhất thiết hành động của Người sẽ  làm cho con người ngỡ ngàng, chưng hửng;  và do đó, không thể đơn thuần dựa theo các tiêu chí thường  được dùng để đánh giá sinh hoạt loài người, mà  nhận định về hành động của Thiên Chúa được. Chỉ còn  một cách là lo mớ rộng lòng ra mà khiêm tốn  đón nhận tính chất siêu việt của công trình cứu độ Thiên  Chúa đã thực hiện.

 

Như vậy, để có thể thấu hiểu về tình thương Thiên Chúa thể  hiện qua công trình ấy, thì cần phải tránh đừng đóng  khung giam hãm nó lại ớ trong khuôn mẫu hạn hẹp  của tình yêu nhân loại, cũng như đừng dựa theo  những cảm ứng và thái độ của con tim loài  người mà suy đoán về cảm ứng và thái độ của  tình thương nơi Thiên Chúa. Tình thương ấy biểu hiện qua những  thể cách mạc khải nào, thì cần phải biết đón  nhận những thể cách biểu hiện ấy đúng như vậy, tức là  đúng như đã được mạc khải, cho dù một phần nào  đó, chúng có khó hiểu đối với đầu óc con người.

 

Ngoài ra, mọi cố gắng để tìm hiểu về mầu nhiệm cứu độ,  cũng còn cần phải lưu ý đến tính chất tiệm tiến  của mạc khải nữa. Các trình thuật trong Cựu Ước  về cách thức Thiên Chúa ứng đối với tội lỗi, cần phải  được hòa nhập vào trong phối cảnh quảng mạc  bao quát hơn của Tân Ước. Chẳng hạn, những gì các  trình thuật ấy nói về thái độ thịnh nộ của Thiên Chúa,  đều cần phải được đặt vào trong ánh sáng của  một viễn ảnh bao quát và đầy đủ hơn về thái  độ của Thiên Chúa, một viễn ảnh có khả năng  bổ sung và hiệu chính các điều đã nói trước kia. Vô  số những trình thuật về các tai họa giáng xuống trên  dân chúng như là bao nhiêu hình phạt vì những lỗi  phạm, không thể được hiểu cách nào khác hơn là một  lối diễn đạt giai đoạn mớ đầu trong quá trình mạc  khải về ý nghĩa của khổ đau mà duy chỉ thảm  kịch thập giá sau này mới nói lên hết được tầm trọng  yếu thực sự. Nhiều lần, Đức Giêsu đã đích thân lên tiếng  chống lại cách thức giải thích coi khổ đau con người  phải chịu, như là một thứ hình phạt phải gánh lấy  vì lỗi phạm của mình (xin xem Ga 9, 3); hành động  như thế là Ngài muốn cho mọi người hiểu rằng Tin  Mừng Ngài loan báo, vượt quá hẳn nhiều văn đoạn trong Cựu Ước, làm chúng trớ thành quá thời. Duy  một mình Ngài mới có khả năng giúp cho con người  khám phá ra được kế hoạch cứu độ trong toàn bộ tầm cỡ  và trong hết mọi chiều kích của nó. Thế nên, không  thể đặt các văn bản của Cựu Ước trên cùng một  bình diện với các văn bản của Tân Ước; cả hai  loại văn bản đều đã được linh ứng, nhưng là theo  một quá trình tiến phát nhằm đạt tới một tình trạng tuyệt  đối mới mẻ, đạt tới một ánh sáng mới làm đổi thay  hết tất cả các viễn cảnh cũ.

 

Dựa theo các nguyên tắc nói trên đây về thái độ đón nhận mầu nhiệm, tức là đón nhận những thực tại siêu việt  vượt quá lên trên khả năng nhận thức của con người,  chúng ta có thể đặc biệt lưu ý đến ba nghịch biện sau đây,  là những nghịch biện nói lên rõ nhất đặc tính  của công trình Thiên Chúa cứu độ, và đồng thời  còn giúp cho hiểu về quá trình diễn biến của cuộc  song đấu giữa sự lành và sự dữ để đi tới  chỗ trớ thành một cuộc đối chọi tuyệt đối dứt  khoát.

 

NGHỊCH BIỆN THỨ NHẤT: YÊU BẰNG  MỘT TÌNH YÊU LỚN HƠN, ĐÓ LÀ CÁCH  THIÊN CHÚA ỨNG ĐỐI VỚI TỘI LỖI  LOÀI NGƯỜI

 

Nghịch biện thứ nhất này mang một tầm trọng yếu chủ  chốt, vì nó quan hệ đến chính thái độ của Thiên Chúa  đối với toàn bộ phương án cứu độ: nghịch lý là ớ  chỗ biểu dương một tình yêu to lớn hơn để ứng đáp hành  động xúc phạm của tội lỗi.

 

Con người xúc phạm đến Thiên Chúa, là Đấng toàn  năng. Tính chất trầm trọng của tội lỗi là một  trong những chủ đề cốt cán Kinh Thánh thường bàn  đến. Kinh Thánh trình bày tội lỗi dưới khía cạnh một  tác động dội lại gây xúc phạm đến chính Thiên Chúa: chính  Người đã nói lên điều này, và đã nêu  rõ cho thấy tội lỗi gây xúc phạm làm cho Người  phật lòng đến chừng nào: phật lòng vì tình  Người yêu con người bị thương tổn. Những hình ảnh  được dùng để minh họa thảm cảnh chịu lăng nhục  -- chẳng hạn như là cảnh một người cha sầu muộn  vì thái độ vô ơn của người con, hay cảnh một người  người chồng bị lăng nhục vì vợ mình thất tín thất trung  đối với mình -- nêu bật cho thấy chiều sâu của vết  thương lòng do hành động xúc phạm gây ra. Như vậy,  một cách nào đó, tội lỗi mang một chiều kích vô hạn,  do bới sự việc đã thực sự xúc phạm đến một Đấng  Vô Biên.

 

Lắm khi thái độ Thiên Chúa phản ứng đối với những  hành động xúc phạm đến Người, đã được miêu họa  như là một vụ "nổi trận lôi đình." Bị lăng nhục  trong chính tình Người thương, Đấng Chủ Tể toàn năng  phản pháo "báo thù" hành động lăng nhục  và trừng phạt kẻ cả dám xúc phạm đến mình.  Hành động trừng phạt ấy biểu hiện qua hình thái của  những tai họa ghê gớm giáng xuống đầu tội nhân, với  mục đích là làm cho tội nhân nhìn nhận lỗi lầm của mình, cũng như để tạo cho tội nhân có cơ hội thống  hối mà quay về với đường ngay nẻo chính.

 

Chủ tâm mang lại ơn cứu độ cho tội nhân, qua con đường  sám hối, chứng tỏ rằng ớ trong thái độ phẫn nộ,  có tiềm ẩn một ý định của lòng nhân hậu. Thật  thế, thái độ phẫn nộ phát sinh từ chính tình yêu của  Thiên Chúa, của Đấng hằng ước mong làm sao thay đổi  được lòng dạ con người hầu giải thoát con người  khỏi vòng tội lỗi. Một số dấu chứng trong Kinh  Thánh còn nhấn mạnh rõ hơn nữa đến sự việc dành  bước ưu tiên cho tình yêu cứu độ, tức là đặt tình yêu  này lên trên các hình phạt tội nhân phải chịu. Đoạn  trình thuật về sự kiện Ađam và Evà sa ngã, cho  thấy rằng phản ứng đầu tiên chủa Thiên Chúa là  nghĩ đến số phận của loài người, là nói lên  lời hứa ban ơn cứu độ: lời hứa thường được gọi  rất chí lý là "Tin Mừng Đầu Tiên": " Ta  sẽ đặt hận thù giữa ngươi và người phụ  nữ, giữa dòng giống ngươi và dòng giống  người ấy; dòng giống người này sẽ đạp  đầu ngươi, còn ngươi thì sẽ táp lại gót chân" (St  3, 15). Dù có được biểu đạt dưới hình thức một cuộc phục  thù nhắm vào tác nhân cám dỗ, thì những lời  Giavê nói như thế với con rắn, cũng chủ yếu loan báo  rõ về một mối giao ước được tức khắc phục hồi với người  phụ nữ, và về cuộc chiến thắng đánh bại Satan, mà  sau này, con trai của người phụ nữ sẽ dành  được. Như thế, trước khi kê ra các hình phạt tương ứng với  tội phạm, Thiên Chúa đã thoáng cho thấy cả một phương  án cứu độ, phương án đưa dẫn loài người vào  trong một trạng huống tốt hơn trước lúc sa ngã .[2]

 

Còn trên diện mạo Đức Giêsu, quyết tâm "để tình yêu  thắng thế phẫn nộ" lại hiển hiện càng rõ  ràng hơn nữa. Đối với điểm này, trình thuật Phúc  Âm về vụ chữa lành người bị tay khô bại, là  một đoạn hàm súc nhiều ý nghĩa: muốn chữa trị cho  người bại tay, nhưng Đức Giêsu lại nhận thấy là những  người chống đối đang nhìn Ngài với những cặp mắt  xoi bói, chỉ cố rình rập xem Ngài có hành động trong  ngày Sabát hay không để mà bắt bẻ, chứ không  chịu thẳng thắn đối thoại. Ngài bèn phẫn nộ đưa  mắt nhìn họ, thánh Marcô ghi lại như vậy (Mc 3, 5). Trong ánh  nhìn ấy, hẳn là cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đã  thoáng lộ ra, như thường thấy miêu tả thời trước,  trong những lần Người tỏ thái độ đối với lòng  dạ ngoan cố của dân tội phạm. Tuy nhiên, ngay cả trong  ánh nhìn phẫn nộ ấy, cũng nhận ra được một cách nhiệm  mầu, một tâm trạng yêu thương, vì thánh sử ghi thêm rằng  Đức Giêsu cảm thấy "đau lòng trước thái độ chai  đá của tâm hồn họ." Vị Thầy động lòng xót thương  cho tâm trạng sôi sục với những cảm nghĩ thù nghịch  đầy ấp chống lại Ngài[3]. Như thế,  Ngài chỉ lấy tình thương mà đáp trả thái độ hận  thù kia, để cho thấy rằng thái độ phẫn nộ là  cách biểu đạt một tình yêu bị trói tay, không trao tặng được  những gì muốn cống hiến, bới các tâm hồn đóng kín  cửa lòng mình lại, khước từ đón nhận. Tình thương  ấy càng tỏ hiện sáng chói hơn trong hành động  chữa lành: đối lại với một thái độ thù nghịch  cố làm cho lòng quảng đại của Ngài tê  liệt đi trong ngày Sabát, Đức Giêsu đã phản ứng  bằng cách làm một phép lạ. Ngài chứng tỏ cho  thấy là tình Ngài thương thì mạnh hơn mọi lực lượng  sự dữ.

 

Tổng quát hơn, qua thái độ khoan dung đối với các tội nhân, Ngài vén mớ cho thấy lòng nhân từ của  Thiên Chúa dành cho họ. Thái độ khoan dung ấy đã  làm cho những người chống đối Ngài lấy làm  công phẫn, khó chịu, để tố cáo cho rằng Đức Giêsu kết  bè "kết bạn với quân thu thuế và phường tội  lỗi" (Mt 11, 19; Lc 7, 34). Theo não trạng của  họ, những người tội lỗi là những người  thù nghịch của Thiên Chúa, chỉ đáng cho Ngài ghét  bỏ, và vì thế, mọi giao tiếp thân thiện với loại  người này đều là những hành động biểu  thị thái độ bất đồng ý kiến với chính Thiên Chúa. Trong một  số Thánh Vịnh, các tội nhân bị coi như là những kẻ  thù mà sớm muộn gì rồi cũng sẽ bị quyền lực  toàn năng của Thiên Chúa hủy diệt đi. Vì vậy,  trong thời Đức Giêsu, những người thề nguyền sống  gắn bó với Thiên Chúa, tiếp tục giữ thái độ thù  nghịch đối với các tội nhân, và coi những ai kết thân  nên "bạn các tội nhân" như là những người  công khai tỏ lập trường chống đối Thiên Chúa. Điều  mà Đức Giêsu muốn nêu rõ qua tình thân hữu của  Ngài, là thái độ đích thực của chính Thiên Chúa  đối với các tội nhân, thái độ của một tình thương lớn  hơn. Qua sự việc phái gửi Con mình " đi tìm và  cứu chữa những gì đã hư mất " (Lc 19, 10),  Thiên Chúa Cha đã muốn cho mọi người hiểu về lòng  thương đặc biệt Ngài dành riêng cho những ai xúc  phạm đến Ngài.

 

Đó chính là chiều kích sâu thẳm của mầu nhiệm.

 

Ứng đối với tội lỗi, Thiên Chúa Cha đã biểu dương  một tình yêu lớn hơn. Người đã yêu thương cách riêng  tất cả những ai lăng nhục Ngài, đến độ đã  phái gửi Con Một của mình làm Đấng Cứu Độ đến  với họ. Lẽ ra tội lỗi chỉ đáng cho Thiên Chúa phẫn  nộ. Nhưng không hiểu vì sao những tội nhân lại được yêu  thương với một tình yêu sâu đậm đặc biệt đến thế: Thiên  Chúa thật đã nêu bật lòng nhân hậu của mình bằng  một thái độ vô vị lợi lạ lùng, làm cho trí óc loài  người phải chưng hửng, không sao hiểu nổi.


Trớ lại với bối cảnh câu chuyện sa ngã: dù  đã từng lưu ý trước cho Ađam và Evà về mối  nguy phải chết nếu vi phạm huấn lệnh của Người,  thì lập tức ngay sau hành động sa ngã lỗi phạm,  Thiên Chúa cũng vẫn loan báo về một vận mệnh cao  cả hơn dành cho người phụ nữ mà Người  thiết đặt làm đồng minh của mình, và cho con trai  của bà, là người sẽ đạp nát thần dữ;  làm như thể Người nói với các tội phạm rằng: "Bới các ngươi đã xúc phạm đến Ta, Ta sẽ ban  cho các ngươi Con của Ta, để người Con này làm  con của người nữ. Bới các ngươi đã rơi vào  tình trạng đáng phải chịu khổ đau và án chết, Ta sẽ  đích thân gánh lấy khổ đau và án chết ấy thay cho các  ngươi, bằng cách phái gửi Con Ta đến làm lễ vật  hy tế."

 

 Trước tấm lòng quảng đại khôn tả ấy, làm  sao mà khỏi bỡ ngỡ sửng sốt! Phải là  Thiên Chúa mới có thể phản ứng cách ấy. Ai mà không  thừa biết rằng trong quan hệ giữa loài người  với nhau, khuynh hướng thường nhật là lấy oán báo  oán, và luôn tìm cách để trả đũa hay báo thù.  Đường lối của Thiên Chúa thì không phải như thế,  nhưng là đi theo một hướng chiều ngược lại: đem một lòng  nhân hậu rộng lượng hơn để ứng đáp cho hành động xúc  phạm.

 

Phản ứng bằng cách yêu thương nhiều hơn như thế, không  mảy may có nghĩa là làm cho tội lỗi bớt xấu  xa đi, hoặc dễ dung thứ hơn. Đã là tội lỗi  thì luôn luôn bị lên án, và luôn luôn vẫn là  một hành động xấu xa làm cho Thiên Chúa ghê rợn.  Không phải tội lỗi, nhưng chính tội nhân là kẻ  được Thiên Chúa yêu thương, và nhờ được yêu thương  như vậy mà tội nhân được cứu thoát cho khỏi tội lỗi.  Mãi mãi chủ tâm của Thiên Chúa vẫn là  hủy diệt tội lỗi, tuy nhiên, chủ tâm ấy lại cũng  luôn luôn hòa nhịp với ý định cứu vớt tội nhân. Sự kiện  Thiên Chúa trao ban chính Con Một mình để thực thi ý định cứu  độ ấy, càng làm cho thấy rõ hơn tính chất trầm  trọng của tội phạm. Thế nên, không thể viện cứ vào  lòng nhân hậu của Thiên Chúa mà giảm nhẹ  tội lỗi đi, cũng như để quên đi rằng mọi tội phạm  đều là một hành động xúc phạm thực sự đến Thiên  Chúa, và đồng thời gây thiệt hại cho cả chính  tội nhân lẫn những ai liên đới với tội nhân.

 

Còn sự kiện hiện thực và tính chất trầm trọng của  tội phạm thì làm cho thấy càng rõ hơn lòng  quảng đại của Thiên Chúa Cha, tỏ hiện mồn một  ra ớ trong hành động cứu độ, và đồng thời  còn nêu bật tính chất dứt khoát của tình yêu "to  lớn hơn" kia, là tình yêu mà một khi đã vượt  thắng chướng ngại ngăn cách của tội lỗi, thì nhất  quyết tiếp tục tồn tại cùng triển dương, không chần chừ  đắn đo, không thay lòng đổi dạ, không nuối tiếc thụt  lùi.

 

NGHỊCH BIỆN THỨ HAI: CẦN PHẢI CÓ HY LỄ THỤC TỘI

 

1. Vấn đề và vấn nạn

 

Nghịch biện thứ hai nằm ớ sự việc cần phải có hy  lễ thục tội (chuộc tội). Thông thường thì cứ tướng  rằng tình yêu "to lớn hơn" kia, một khi đã được  Thiên Chúa biểu dương ra nhằm cứu thoát nhân loại khỏi  vòng tội lỗi, thì tự nó đã đủ và sẽ  không còn đòi hỏi phải có một hy lễ cứu  chuộc nào khác hầu đem lại ơn tha thứ cho các hành  động xúc phạm của tội lỗi. Tự trong khái niệm của  nó, tính chất tuyệt đối nhưng không của tình yêu ấy đã  chẳng loại bỏ hết mọi thứ đòi hỏi đền bù  ra ngoài rồi sao?


Gần đây, cả một trào lưu thần học đã lên tiếng  chống lại giáo thuyết cổ truyền về hy lễ thục tội. Đành  là không có vấn đề phủ nhận Đức Giêsu đã chịu  khổ nạn; nhưng có một số tác giả đã đặt vấn đề  cho rằng để giải thích sự kiện chịu khổ nạn như thế, chẳng  cần gì phải "đề ra những khái niệm như là công  nghiệp, chuộc tội, đền tội, thay thế" cả.  [4]Họ kết tội cho các khái  niệm kia là đã cổ xúy một lối nhìn nặng mùi pháp  lý về công cuộc cứu độ, là đã xây dựng giáo thuyết  trên cơ sớ của định đề chủ trương rằng công lý  của Thiên Chúa phải được đền bù cho thỏa đáng:  cần phải trả cho hết món nợ; thế nên, Con Thiên Chúa  làm người đã đứng ra thế chân những tội nhân,  "để chuộc tội, để đền tội, để đền bù, để lập công  thay cho họ." .[5]

 

Trong lời tựa của một tác phẩm trình bày về thái  độ của Thiên Chúa đối với khổ đau, một thần học gia  đã nhấn mạnh đến đường hướng chủ yếu của  văn bản, nói rằng: vì đã chọn đứng về phía quan điểm  cho rằng đức tin và tôn giáo thì đối lập nhau, nên "tác giả áp dụng quan điểm ấy không những vào trong  các cách thức quan niệm về Thiên Chúa, mà còn vào  cả trong sinh hoạt của Kitô giáo nữa, đặc biệt  là vào trong những gì làm nên cốt tủy của  cơ cấu Kitô giáo, tức là vào trong kinh nghiệm sống  công cuộc cứu độ như là một công trình đền bù thỏa  đáng. Với một lối biện giải chí lý, tác giả trình  bày cho thấy hậu quả tác hại mà lối sống theo  quan niệm đền bù vừa nói -- quan niệm coi khổ đau  là cần thiết cho công trình đền tội -- đã gây ra  cho Kitô giáo: lối quan niệm ấy là một phần lớn, lý  do giải thích hiện tượng mất cảm tình [đối với Kitô  giáo] như đang thấy."[6] Tác phẩm còn trưng dẫn một câu của R. Girard  nói rằng: "ÀKhông những Thiên Chúa đòi phải  có một hy tế vật mới, nhưng hơn nữa, còn đòi hỏi  hy tế vật quý báu nhất và đắt giá nhất, tức là  chính Con của Người.' Dĩ nhiên, hơn tất cả những  gì khác, định đề này đã làm cho Kitô giáo mất  uy tín đối với những người thiện tâm thiện chí sống  trong thế giới tân thời ngày nay." [7]

 

Những người phản ứng chống lại giáo thuyết về  sự việc một hy lễ đã có sức mưu cầu ơn cứu độ cho  toàn thể nhân loại, không còn coi Đức Giêsu là  Đấng Cứu Thế theo nghĩa đen của từ này nữa.  Đức Kitô được coi như là Đấng mạc khải ơn cứu độ  do Thiên Chúa ban ra; Ngài đơn thuần là một mẫu  gương về ơn cứu độ mà loài người nhận được. Ngài  là con người đầu tiên được cứu độ [8]Ngài không làm nên ơn cứu độ ; Ngài  chỉ giảng dạy về ơn cứu độ và làm mẫu gương  về ơn ấy, rồi để lại cho loài người noi theo.

 

Trước những giả thuyết như thế -- những giả  thuyết cố ra sức đề xuất một quan niệm sao cho hợp lý (logíc)  hơn về công trình cứu độ, sao cho phù hợp hơn với nguyên  tắc về tính chất tuyệt đối nhưng không của tình yêu cứu  độ -- tất cần phải trớ về lại với các cứ liệu  chủ yếu của mạc khải, vì có như thế mới phát  hiện ra được tính chất nhất quán siêu việt nơi toàn bộ  các khía cạnh của hoạt động mà Thiên Chúa triển khai  và biểu thị ra giữa trần thế.

 

2. Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ

 

Cần lưu ý ngay là tuyệt nhiên không có một lý do nào  thực sự có nền tảng để có thể dựa theo đó mà loại  bỏ đi tư cách làm Đấng Cứu Độ của Đức Giêsu.

 

Đôi lúc, quan điểm phủ nhận ấy được gắn liền với lối  quan niệm về Đức Giêsu như chỉ là một con người đơn  thuần thế trần, không hơn không kém, như là một con người  làm công cụ để Thiên Chúa hoạt động và mạc khải;  chứ không phải như là một con người kết hiệp làm  một với ngôi vị Thiên Chúa để mang bản chất làm Con  Thiên Chúa, làm Ngôi Lời Nhập Thể. [9]Phải thú nhận rằng nếu quan niệm  Đức Giêsu như là người đầu tiên được cứu độ, thì  khó mà còn có thể xác nhận được Ngài là  Thiên Chúa. Và như thế, hầu như tất yếu phải đi đến  chỗ bỏ quên chân lý đức tin về ngôi vị thần linh  nơi Người Con.

Vả lại, quan niệm như thế kia thì tất sẽ đụng chạm  và đi ngược lại với thâm tín mà cọng đoàn kitô  sơ khai đã tuyên xưng một cách quyết liệt. Trong tuyên  ngôn phát biểu trước Thượng Hội Đồng Do Thái, Phêrô đã  khẳng định Đức Giêsu là "Đấng Cứu Độ," và  nhờ Ngài mà ơn tha thứ tội lỗi đã được  ban xuống cho toàn dân (Cv 5, 31). Trước đó, thánh nhân  đã tuyên bố cũng với chính cử tọa ấy rằng: "Ngoài  Ngài [Đức Giêsu] ra, không còn có ơn cứu độ nơi một  người nào khác nữa. Vì đưới gầm trời này,  không có một Danh nào khác đã được ban xuống cho nhân  loại để phải nhờ vào đó mà nhận được ơn cứu  độ" (Cv 4, 12). Chính với ý nghĩa đó, ý nghĩa duy nhất  và chuyên nhất, Đức Giêsu đã được tuyên xưng là  Đấng Cứu Độ nhân loại. Những lời kia, những lời  nói lên do vị thủ lãnh "đầy ơn Thần Linh" (Cv  4, 8) của các tông đồ, làm nên một công thức tuyên  tín cơ bản, tức là làm nhân tố cấu thành trường  cửu của bản chất và của sứ điệp Giáo  Hội.[10]

 

Các lời ấy dựa trên nền tảng những huấn thị Đức  Giêsu đã từng ban cho các môn đồ nhằm chuẩn bị cho  sứ mạng rao giảng Tin Mừng đã được trao phó cho  họ; họ có nhiệm vụ "nhân danh Ngài" mà loan  báo cho muôn dân biết là cần phải hoán cải để  được tha tội (Lc 24, 47), và "bới danh Ngài"  họ nhận được quyền để trừ khử ma quỷ, để mớ  lối dẫn đến với ơn cứu độ (Mc 16, 16-17). Đề cập đến  vấn đề giải phóng, Đức Giêsu đã phải ngỏ  lời như sau với một cử tọa không mấy ý thức về sự  việc họ đang thiếu tự do thực sự: "Quả thật, quả  thật, Ta bảo các người, hễ ai phạm tội, thì làm  nộ lệ cho tội...Nếu Người Con giải phóng các người,  thì các người mới thực sự là những người tự  do " (Ga 8, 34-36). Qua lời khẳng định ấy, Đức Giêsu  tự giới thiệu như là mẫu gương của một mức độ  tự do cao cấp hơn theo tư thế không những là Con Thiên  Chúa, mà còn là tác giả của công cuộc  giải phóng, là chính Đấng giải phóng nữa. Ngài  ý thức là mình đóng giữ một vai trò chủ động:  chính Ngài là Đấng thực sự giải phóng con người  khỏi ách nô lệ của tội lỗi, chứ không phải  ai khác cả. Vậy, mọi hoài bão, mọi cao vọng, mọi  ý đồ mà con người có thể hình dung ra được để mong  tự giải phóng chính mình cho khỏi vòng ảnh hướng  của sự dữ, đều chỉ là những mộng mơ hão  huyền.

 

Thay vì tự giới thiệu như là mẫu gương của người  đã được cứu độ, thì Đức Kitô đã khẳng định mình là  Đấng Cứu Độ, tức là Đấng giải phóng loài người,  trong tư cách là Người Con, bằng cách thông ban cho  con người bản chất làm con của mình với trọn  quyền tự do đặc thù của bản chất ấy. Nếu có  là mẫu gương của loài người, thì Ngài  là mẫu gương theo cương vị là Người Con, là  nguyên lý của bản chất làm dưỡng tử được  ban tặng cho mọi người. Nhưng không thể nào Ngài  chỉ là mẫu gương của người đã được Thiên  Chúa giải phóng khỏi tội lỗi; không thể là  như thế được: không những bới vì Ngài là Thiên  Chúa, mà còn bới vì không bao giờ có một bóng  dáng tội lỗi nào ớ trong Ngài cả. Có lần  Ngài đã từng thách đố :" Ai trong các ngươi  bắt lỗi Ta được về một tội gì ?"( Ga 8, 46). Nếu  Ngài là nguồn cội ơn cứu độ, thì chính là vì Ngài  đã đích thân thực hiện cuộc giải phóng cứu độ.

 

3. Cuộc Tự Hiến

 

Đức Giêsu đã ý thức rõ là mình cần phải thực  hiện công cuộc giải phóng ấy bằng con đường tự hiến. "Con Người đến không phải để được kẻ hầu  người hạ, nhưng là để hầu hạ và hiến dâng mạng  sống mình làm giá chuộc muôn người" (Mc 10, 45;  Mt 20, 28). Tuyên ngôn ấy minh họa rõ về sứ mạng cứu  độ của Đức Giêsu, và còn có thể minh xác cho  thấy rằng đó là những lời mà chính Đức Giêsu  lịch sử đã đích thân nói lên; quả thế, chúng ứng  đáp trọn vẹn các tiêu chí mà kỹ thuật khảo sát  về tính chất xác thực lịch sử sử dụng để xác định  những ipsissima verba Jesu :[11] ứng đáp bới một đàng,  là vì dạng thức biểu đạt của chúng mang trọn tính  chất văn thể Sêmít, rất hợp với loại văn đối thoại như  thế, và đàng khác, là vì chúng chứa đựng một  nội dung mới, độc đáo, khó mà có thể bịa đặt ra được.  Tính chất mới mẻ chưa từng thấy ấy là ớ chỗ  Con Người trước kia đã từng được ngôn sứ Đanien  tiên báo cho thấy như là người sẽ được mọi dân  nước phụng sự, thì nay lại tự giới thiệu theo một tư thế  hoàn toàn đảo ngược, tư thế phục vụ.

 

Mức độ cùng tột của phục vụ là hy sinh, là  tự hiến chính mình: "trao ban chính mạng sống mình," hoặc để nói cho sát nghĩa đen hơn: "trao ban linh hồn  mình," với chủ tâm nhấn mạnh đến chiều kích thiêng  liêng của hiến vật. Cả về mặt này nữa, còn  có thể phát hiện thêm một tính cách mới mẻ khác so với  truyền thống Do Thái, vì trong truyền thống này thì việc  phụng tự chỉ biết dùng đến các loài vật để làm  tế vật trong các hy lễ. Còn ớ đây, chính Con Người,  và đồng thời cũng là một Đấng thần linh, lại  tự nguyện trao hiến thân mình làm tế vật trong một hy  lễ. Ngài phải chu tất sứ mạng giải phóng của  mình, không chỉ bằng những lời giảng dạy mà  thôi, nhưng còn bằng cả cuộc hiến dâng linh hồn, bằng  một cuộc hy tế trong đó, những nỗi thống khổ tinh  thần là những khổ đau chua xót hơn cả. Đó là  cuộc hy tế bao hàm trọn vẹn tất cả mọi chiều kích  sâu thẳm trong cuộc sống làm người của Ngài.

 

Khi loan báo về cuộc hy tế nình sẽ thực hiện là Đức  Giêsu ý thức rõ rằng chủ yếu cần phải có hy  lễ ấy thì sứ mạng của mình mới thành tựu toàn  vẹn được: Con Người đến chính là để thực hiện công  tác ấy. Đức Giêsu cũng đã lặp lại điều đó trong  một trường hợp khác, tức là trong giờ phút kinh  hoàng lắng lo: "Chính vì thế mà Con đã đến,  để cho giờ này" (Ga 12, 27).[12]  Ngài không coi cuộc tử nạn kết thúc cuộc  đời dương thế của Ngài như là một tai nạn xảy  đến bất ngờ, chặn đứng hoạt động và làm cho Ngài  không thể chu tất sứ mạng của mình: ngược lại, cái chết  ấy là chính con đường Ngài phải đi hầu chu tất  sứ mạng ấy, tức là sứ mạng hiến dâng chính mạng sống  mình hầu mang lại ơn cứu độ cho nhân loại.

 

Ngài nêu rõ cho thấy mạng sống Ngài là một  giá chuộc. Thời sự ngày nay thường nêu ra những  biến cố làm cho liên tướng đến ý nghĩa của giá  chuộc: chẳng hạn, ai lại không hiểu thế nào là phải  trả một giá để chuộc lại tự do cho một/những người  bị cầm giữ trong các vụ bắt cóc. Trong trường hợp  Đức Giêsu, giá chuộc đã được trả để chuộc tự do  cho "nhiều người," tức là cho mọi người  đang bị sự dữ cầm tù, để họ được giải phóng,  được hướng tự do đích thực.

 

Vì vậy, nếu đã chấp nhận lời Đức Giêsu giải thích  về ý nghĩa cuộc tử nạn của Ngài, thì không làm  sao có thể loại trừ hết mọi ý niệm về đền bù hay thay thế trong cách cắt nghĩa về thảm kịch cứu  chuộc được. Chính văn bản Phúc Âm cũng nhấn mạnh  đến việc thay thế, chẳng hạn như trong trường hợp thành  ngữ thường được dịch theo nghĩa đen là: "giá  chuộc thế chân cho nhiều người." Nhưng cũng phải  nói thêm ngay là được dùng theo cách thức như thế,  biểu tượng giá chuộc không mảy may thu hẹp hay hạn  chế tình yêu cứu độ; ngược lại, nhờ nó mà nhận rõ  được rằng để giải phóng loài người, Con Người  đã tỏ ra quảng đại đến như thế nào. Tình yêu  ấy phát nguyên từ Thiên Chúa, vì thật ra, khi tự giới  thiệu mình bằng danh xưng Con Người, là Đức Giêsu khẳng  định bản sắc đích thực của mình: Ngài xác định mình  là Con Thiên Chúa làm người.

 

Cũng không thể loại trừ hết mọi khía cạnh của  ý niệm thay thế hay thế chân được.

 

Quả vậy, biểu tượng hy lễ-giá chuộc thế chân cho  muôn người, muốn nói rằng chính Đức Giêsu đã đích  thân mang lấy gánh nặng tội lỗi của loài người  để thực hiện cuộc giải phóng. Hơn nữa, khi loan báo  cuộc hy tế và cho thấy đó là biến cố nối dài  hầu kết thúc công tác phục vụ của sứ mạng được trao  phó, Đức Giêsu đã gợi lên hình ảnh người tôi  tớ của Giavê , là người vô tội mà đã  đứng ra thay thế cho dân tội phạm, gánh vác những khổ  đau phải chịu vì những lỗi phạm (Is 53, 4-5). Ngay  từ thời sấm ngôn ấy, nghĩa cử thay thế đã  nói lên tính chất cao thượng của hành động hy tế,  và qua đó, làm cho hiểu về ý nghĩa của thành  quả do nghĩa cử ấy mang lại:

 

"Chính vì kiếp lao đao mạng ngài... người công  chính, tôi tớ ta sẽ giải án tuyên công nhiều người,  và chính ngài sẽ vác lấy tội vạ của chúng.  Cho nên, Ta sẽ ban nhiều người làm phần của  ngài... chính vì ngài đã thí mạng mình không màng  cái chết và đã bị liệt hàng những kẻ ngỗ  nghịch, là đã mang lấy tội lỗi nhiều mgười  và đứng ra bầu chữa cho những kẻ ngỗ nghịch." (Is 53, 11-12).

 

 Thay thế có nghĩa là Đức Kitô đã gánh lấy những  hậu quả do tội lỗi loài người gây ra, tức  là khổ đau và sự chết. Như vậy, Ngài làm cho  nhân loại thoát khỏi hình phạt mà đáng lẽ loài  người phải chịu vì lỗi phạm của mình. Tuy nhiên,  cần phải hiểu cho chỉnh ý nghĩa của việc thay thế:  thay thế không có nghĩa là Đức Giêsu đã bị phạt thay  cho con người. Ngài đã không và cũng không  thể bị phạt được, vì Ngài hoàn toàn vô tội. Là  hình phạt đối với chúng ta, khổ đau và sự chết đã  trớ thành một lễ vật tinh tuyền của hy  tế cứu chuộc trong thân phận làm người của  Đức Giêsu. Bới vậy, Đấng Cứu Độ đã biến đổi hẳn  ý nghĩa của các gian truân thử thách trong đời  người; chúng không còn phải là một hình phạt  con người phải chịu, nhưng là một công trình hợp  tác vào trong cuộc hiến tế cứu chuộc. Việc thay thế trong  công cuộc cứu chuộc không miễn cho chúng ta khỏi phải  ra sức hợp tác; tác động của nó là biến đổi bản  chất của nổ lực hợp tác ấy: có được giải phóng  thì mới có thể hợp tác, và hợp tác có nghĩa là mỗi  người đem phần hy sinh của mình hòa nhập vào  trong hy lễ của Đức Kitô.

 

Lời tuyên bố về sứ mạng của Con Người cũng  nêu rõ tính chất thục tội của hy lễ. Tương ứng  với biểu tượng giá chuộc phải trả để được  hướng tự do, còn có quan hệ quy chiếu về với người  tôi tớ khổ đau "trao hiến chính mình ("linh hồn")  làm hy lễ thục tội" (Is 53, 10). Đã đành,  đó chỉ là một cuộc hy sinh tạ tội có tinh cách duy nhất,  ngoại lệ, khác hẳn với các hy lễ thường thấy trong  lề lối phụng tự Do thái; nhưng trình bày một cách ngoại  lệ như thế là sấm ngôn về người tôi tớ đã  muốn miêu tả về một cuộc hy tế vượt lên trên mọi hy  lễ tế tự thông thường: cuộc hy tế dâng hiến chính  linh hồn/mạng sống làm lễ vật. Trong lời tuyên  bố của Đức Giêsu, còn phát hiện thấy một thái độ  trổi vượt triệt để hơn nữa: chính Con Người, tức là  Con Thiên Chúa trong cương vị làm người, sẽ đích  thân hiến dâng linh hồn mình. Ý nghĩa thục tội của  hy lễ đã được khẳng định, tức là dự kiến về việc hiến dâng tế vật nhằm nài xin và để nhận được ơn  tha tội, đã được nói lên. Nên lưu ý về điểm này:  hy lễ ấy chính là cuộc hiến tế một mạng sống vô  tội, tự nguyện đứng ra hy sinh cho những tội phạm, và  do đó, hành động đền tội thay như thế không mảy may  hàm ngụ một ý nghĩa trừng phạt nào cả, mà  chỉ nói lên hành động quảng đại dâng hiến mạng sống  mình để cho tha nhân được giải phóng.

 

Giá trị cuộc tử nạn theo ý nghĩa là lễ tế thục  tội, cũng đã từng được các công thức dùng  trong dịp thành lập bí tích Thánh Thể, để truyền phép bánh và rượu, xác nhận: "Này là mình Thầy, trao  hiến vì các con" (Lc 22, 19); "Này là máu  Thầy, máu giao ước, đổ ra cho muôn người được tha tội" (Mt 26, 28). Thức ăn và của uống Tạ Ơn đã được  trao phó cho các môn đồ như là hoa trái của hy lễ  cứu chuộc. Đó là lý do giải thích tại sao sau này,  công đồng Trentô đã minh định rằng trong Thánh Lễ,  thực sự có việc dâng tiến một hiến lễ thục tội. [13]Các lời truyền phép mà  các thế hệ cần phải không ngừng lặp lại để tướng  niệm Đức Giêsu, đã được chọn lựa một cách cẩn thận;  qua các lời đó, Đức Giêsu vén mớ cho thấy không những  ý thức Ngài có về việc hiến dâng một hy lễ thục  tội trên thập giá mà thôi, nhưng còn cả ý của  Ngài muốn cho hy lễ ấy hằng liên tục tái diễn  dưới hình thái bí tích, trong cuộc sống Giáo Hội nữa.

 

4. Phương án của Thiên Chúa Cha

 

Ý muốn kia của Đức Kitô là ý muốn của chính  Người Con hằng vâng ý của Cha mình. Nhiều lần, Đức  Giêsu đã xác định rõ về việc nhất thiết cần phải  có hy lễ cứu độ. Trong lời long trọng loan báo lần  đầu tiên về Cuộc Tử Nạn, Ngài không chỉ nói đến  biến cố mà thôi, nhưng còn muốn cho người nghe  ý thức được rằng mọi sự đã được ghi rõ ớ trong  phương án do Thiên Chúa Cha đề ra: "Con Người phải  chịu nhiều khổ đau, phải bị các kỳ mục, thượng tế  cùng ký lục ruồng bỏ, phải bị giết chết, và  sau ba ngày sẽ sống lại" (Mc 8, 31). Tất cả  các chi tiết diễn biến đều nhất thiết tiến hành theo  một chỉ thị duy nhất, đó là "phải".

 

Ngay khi tạo dịp để Đức Maria và thánh Giuse có cơ hội  cảm nghiệm trước về mầu nhiệm cứu chuộc, tức là  lúc Ngài ớ lại trong đền thờ, và ba ngày  sau cha mẹ Ngài mới tìm thấy, Đức Giêsu 12 tuổi cũng  đã đưa ra cùng một chỉ thị "phải" ấy  để minh giải về thái độ xử thế của mình: "Cha  mẹ không biết là con phải ớ nhà của Cha  con sao?" (Lc 2, 49). Sớ dĩ Ngài đã vượt ra  ngoài lề lối tùng phục cha mẹ như thế, thì chính là  vì Ngài phải vâng phục Cha của mình.

 

Nói lên phương án của Thiên Chúa như thế là Đức Giêsu  cho thấy rằng tầm nhìn của Ngài vượt lên trên và  ra ngoài tầm giới của mọi hoàn cảnh lịch sử,  là những hoàn cảnh rồi sẽ rốt cục gây  ra cuộc xử án giết Ngài. Đã đành là Ngài  tiên báo về hành động thù nghịch của những  người chống đối Ngài, của những người phần  nào có trách nhiệm cá nhân trong tấn thảm kịch tử  nạn; nhưng, trước tiên, Ngài nhìn nhận "trách nhiệm"  tối thượng và toàn quyền của Thiên Chúa Cha, là  Đấng dù hằng tôn trọng tự do của mỗi cá nhân,  thì cũng đã đưa dẫn các biến cố quy hướng về với  tiêu đích Người đã ấn định: không phải là cuộc  tử nạn, tiêu đích ấy chính là cuộc phục sinh.

 

Chính niềm thâm tín về ý muốn ấy của Thiên Chúa Cha,  là lý do giải thích vì sao Đức Giêsu đã phản  ứng mạnh lúc Simon Phêrô kiếm cách khuyên can Ngài nên  tránh con đường Tử Nạn. Trong thái độ can gián ấy,  Vị Thầy đã vạch rõ ra ngay ảnh hướng của  Satan, hành động cám dỗ của thần dữ (Mt 16,  23 và các câu song song). Cũng vậy, khi người môn  đồ rút gươm ra để dùng lúc Ngài bị bắt trong vườn  Cây Dầu, Đức Giêsu đã ra lệnh: "Hãy xỏ  gươm vào bao; chén đắng Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ  nào Thầy chẳng uống?" (Ga 18, 11). Khổ đau thập giá  là món quà của Thiên Chúa Cha, và vì thế,  sẽ không có chuyện từ chối mà không vui lòng  đón nhận.

 

Và đến đây thì vấn nạn về hy lễ cứu chuộc đạt đến  một mức sức sôi động cao nhất. Về phía Đức Giêsu, việc tự  hiến làm tế vật là hành động đơn thuần nói lên  tình yêu đối với loài người. Nhưng về phía Thiên Chúa  Cha, thử hỏi còn có thể quả quyết được như  vậy không? Nếu Người đòi hỏi phải có hy lễ  cứu độ, rồi mới ban ơn tha thứ cho nhân loại, thì làm  sao có thể nhận ra trong thái độ ấy tình thương nhưng không  hằng chủ trì công cuộc cứu độ được? Chẳng phải là  lòng quảng đại toàn vẹn thì tha thứ mà không  cần đòi hỏi bất cứ một điều kiện nào, và  như thế tức là tuyệt đối chẳng còn cần đến một hy  lễ nào nữa cả đó sao.

 

Nhiều nhà thần học đã thử gia công biện hộ cho  thái độ của Thiên Chúa Cha, với cách biện luận cho rằng  công lý của Thiên Chúa nhất thiết đòi phải có  hành động đền bù tội phạm, không làm sao tránh  cho khỏi được; vì không thể nào Thiên Chúa lại hành  động ngược với quy tắc công lý của chính mình. Đó là  định đề đã được nêu lên trong những dòng trước  đây, về một nền công lý nhất thiết cần phải được tôn  trọng trọn vẹn. Tuy nhiên, giải thích như thế thì không  thể nào chấp nhận được. Vì trong trường hợp hy lễ  thập giá, không phải là chính các tội phạm đứng ra  đền trả cho tội ác của mình. Mà Đức Giêsu vô  tội; và công lý thì chỉ trừng phạt những tội phạm,  chứ đâu có quyền trừng phạt một kẻ vô tội. Nếu  làm ngược lại, tất công lý sẽ trớ thành bất  công.

 

Chiếu theo công lý, thì không thể bắt Con Thiên Chúa thí mạng  thay cho các tội phạm được. Thế nên, tuyệt đối không phải  là vì để đền bù cho thỏa đáng công lý của  Thiên Chúa, mà Đức Giêsu đã hiến thân làm lễ  vật hy tế; cũng như không phải vì thế, mà Thiên  Chúa Cha đã đặt gánh hy sinh ấy lên trên vai của Con  mình. Và như thế có nghĩa là chỉ có tình yêu thì mới  giải thích đầy đủ được thái độ của Thiên Chúa  Cha. Để tránh cho khỏi luận phạt những tội nhân và  để giải phóng họ khỏi ách nô lệ sự dữ, Thiên  Chúa Cha đã phái gửi chính Con mình xuống thế trần,  và đã trao ban Con mình làm lễ vật hy sinh.

 

Chính thế, Thiên Chúa đã muốn biểu dương một lòng  thương mến rộng lớn bao la hơn nữa qua cách thức tha thứ  của Người: không thỏa lòng với cách dùng  quyền tối thượng mà tha bổng món nợ tội ác cho loài  người, Thiên Chúa đã muốn là phải ban cho con  người ơn tha thứ mà chính hy lễ Con của Người  mang lại, thì Người mới hoàn toàn hả dạ. Nếu  Người đã đòi phải có hy lễ ấy, thì chính  là vì Người sẽ đích thân ban cho loài người  Đấng Cứu Độ: trao hiến Con mình là Thiên Chúa ban tặng  món quà quý nhất Người có, và hành động này  cho thấy là Người yêu thương con người một cách  nhưng không đến mức tột độ. Vì thế, sẽ có thể nói là  Thiên Chúa không yêu thương loài người nhiều cho bằng  như vẫn thấy qua lịch sử cứu độ, nếu Người đã  không phái gửi Con mình đến để chịu khổ hình thập giá  để cứu độ loài người.

 

Ngoài ra, cũng nên lưu ý là qua sự việc phái gửi  Con mình, Thiên Chúa Cha đã đi bước đầu trên con đường  hy sinh tự hiến. Đó là điều thánh Phaolô đã muốn  nói lên khi ngài nêu rõ về cách thức -- một cách  thức thật phấn chấn ủi an cho các con cái người --  Thiên Chúa Cha yêu thương chúng ta :" Đến như chính Con  Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì  hết thảy chúng ta, thì một khi đã ban Con mình như thế,  lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban hết mọi thứ  ân huệ cho chúng ta?" (Rm 8, 32). Hơn cả Abraham, là  người đã sẵn sàng tế hiến con mình, không chút  do dự nương tay (St 22, 12-16), Thiên Chúa Cha đã trao phó  chính Con Một mình làm hiến vật hy lễ. Người đã  đem cả con tim của mình để trọn vào trong hy lễ  ấy; đây là điểm làm cho chúng ta suy về mầu nhiệm  khổ đau trong Thiên Chúa.[14] Trao phó Con Một dấu yêu của mình  là hành động cho thấy Thiên Chúa Cha yêu thương con  người đến tột độ: đó là món quà lớn lao cao quý  nhất mà Người có thể ban tặng cho chúng ta.


Cuối cùng, nếu có người hỏi là tại sao Thiên  Chúa đã chọn con đường khổ đau, thì câu trả lời  cũng sẽ là chính tình yêu của Người. Vì  tôn trọng tự do của con người -- được sử dụng  đến trong hành động phạm tội -- Người đã chấp  nhận những hậu quả khổ đau và chết chóc mà  tội lỗi gây ra; nhưng Người còn muốn là chính  mình đứng ra vác lấy gánh nặng khổ đau và chết chóc ấy  bằng cách quyết định tế hiến Con Một của mình. Đồng thời,  Người cũng muốn cho loài người dự phần vào  trong hy lễ duy nhất của Đức Giêsu, để nhờ đó  mà có thể hợp tác vào trong công cuộc cứu độ. Chính  nhờ có dấn thân hợp tác như thế, thì tâm lòng con  người mới có thể được giải phóng đến tận gốc rễ.  Vì yêu thương loài người, Thiên Chúa đã đề ra một  phương án, trong đó, mọi người đều được mời gọi để  hợp tác với Người, và đặc biệt hơn nữa là  hợp tác với Con của Người, nhằm đánh bại lực lượng  của sự dữ và phát huy đời sống ân sủng  giữa lòng nhân loại.

 

Thế nên, không thể có chuyện có hai nguồn cội hy lễ  cứu chuộc ớ trong Thiên Chúa: công lý tình yêu . Chỉ có một mà thôi: đó là tình yêu .  Hy lễ thập giá là lễ tế thục tội, bới được  dâng hiến vì lợi ích của loài người tội lỗi;  và lễ tế ấy đã được dâng hiến lên cho Thiên  Chúa Cha. Nhưng nghịch lý là ớ chỗ cũng chính  Thiên Chúa Cha đã trao phó Con mình làm lễ vật  hiến tế, và qua hành động ấy, Người chứng tỏ  cho thấy tình thương tột độ Người có đối với loài  người.

 

NGHỊCH BIỆN THỨ BA: SINH LỰC PHONG PHÚ CỦA HY LỄ

 

Nghịch biện thứ ba trong công cuộc cứu độ là nghịch biện  gặp thấy ớ nơi sinh lực phong phú dồi dào phát nguồn  từ hy lễ cứu chuộc. Đấng Cứu Độ đã dùng con  đường khổ đau và chết chóc mà thực hiện công  trình của mình và đạt đến đích chiến thắng khải  hoàn trên sự chết. Trong sự kiện ấy tiềm ẩn một ý định  của Khôn ngoan Thiên Chúa làm đảo ngược hết mọi  suy đoán của đầu óc con người. Vì thế mà thánh  Phaolô đã viết: " Những gì là điên rồ nơi  Thiên Chúa thì khôn hơn khôn ngoan của loài người,  và những gì là yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh  hơn sức mạnh của loài người" (1Cr 1, 25).

 

Có người sẽ nghĩ rằng đã là Thiên Chúa, thì  thế tất trong cuộc sống dương thế, Đấng Cứu Độ nhất định  phải nắm phần thắng khi vật lộn ớ giữa đời.  Nhưng thực sự thì ngược lại. Các trình thuật Phúc Âm đều  cho thấy Đức Giêsu đã gặp phải một thái độ chống  đối dữ dội đến thế nào từ phía những người  đáng lẽ ra là phải đón nhận Ngài, và đặc  biệt hơn nữa là từ phía những người lãnh  đạo tôn giáo. Thái độ chống đối ấy cứ mạnh dần thêm mãi  để trớ thành một mối đe dọa trầm trọng; và cuối  cùng, phe đối thủ đã thắng thế. Nếu chỉ nhìn kết  cục quá trình tác vụ của Đức Giêsu theo cặp mắt đơn thuần  nhân loại, thì những ai cho đến cùng đã từng  nuôi hy vọng là Thiên Chúa sẽ can thiệp để giải  cứu cho Ngài khỏi phải chết, sẽ không khỏi  cảm thấy thất vọng ê chề. Người cho rằng cái chết  kia cũng chẳng khác chi hồi kết cục thảm hại của  một công cuộc xướng xuất rầm rộ!

 

Tuy nhiên, chính Đức Giêsu đã tiên báo cho các môn đồ  của Ngài biết rằng cuộc tử nạn Ngài phải  chịu là một bước quá độ cần thiết phải có thì công  trình của Ngài mới mang lại được sức năng phong phú  mà sinh hoa kết trái. Trong các lần tiên báo về cuộc  tử nạn của Con Người, Ngài cũng đã  không quên nói tới biến cố sống lại sẽ xảy ra sau  đó ba ngày. Như thế nghĩa là Ngài chỉ coi cuộc tử  nạn như là một bước quá độ hầu tiến đến một đời  sống mới, như là một cuộc thử thách hẳn là khốc  liệt, nhưng sẽ chóng đưa tới cảnh vinh thắng.

 

Ngài đã dùng nhiều hình ảnh để giúp cho hiểu  về chân lý ấy. Hạt lúa minh họa rõ sự việc cần phải  chết để làm phát sinh một sức sống dồi dào hơn: "Thật,  Thầy bảo thật, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất  không chết đi, thì vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết  đi, thì nó lại sinh được nhiều hạt khác " (Ga 12, 24).  Đức Giêsu cũng đã gợi lên hình ảnh của những  cơn đau khi sinh đẻ. Còn trong cuộc đàm đạo về thời  cánh chung, Ngài đã dùng ngôn từ bí huyền mà  báo trước biến cố thương đau, và đó thực ra, chính là  cuộc tử nạn của Ngài; biến cố ấy được gọi là "hồi khới đầu của cơn đau sinh nớ" (Mt  13, 8). Ngài đã khai triển hình ảnh ấy rõ  ràng hơn khi Ngài tâm sự với các môn đồ trong bữa  Tiệc ly và báo cho họ biết về phần hợp tác mà họ  đóng góp vào trong thảm kịch cứu độ: "Khi sinh  con, người đàn bà cảm thấy lo buồn vì giờ  của mình đã đến; nhưng khi sinh rồi, thì không còn  nhớ đến cơn khốn quẩn nữa, bới được chứa chan niềm  vui, vì đã có một người sinh ra trong thế gian" (Ga  16, 21). Hai hình ảnh: hạt lúa và cơn đau sinh nớ,  có được cái lợi là nêu bật cho thấy rõ và làm  cho thâm tín thêm về sinh lực dồi dào của khổ đau  và sự chết, cũng như làm cho đảo ngược hẳn  đi quan niệm thường được coi như là hiển nhiên, về  tính chất nhất thiết độc hại của thực trạng khổ và  chết chóc.

 

Nhờ đâu mà có được sinh lực như thế? Đơn thuần là  do phương án nhiệm mầu của Thiên Chúa. Nhưng Đức Giêsu  cũng còn đưa ra một cầu trả lời rõ ràng  hơn và trực tiếp liên hệ với cuộc tự hiến sắp diễn  ra, khi Ngài xác định rằng: "Không có tình yêu nào  lớn hơn tình yêu của người dám hy sinh mạng sống mình  vì bạn hữu" (Ga 15, 13). Khổ đau và sự chết là  những hoàn cảnh giúp cho tình yêu có cơ hội và  phương tiện để đạt tới mức độ tận cùng trong cách thức  biểu đạt, cũng như để có thể biểu hiện trong một cách  thức hùng hồn nhất. Tình yêu ấy làm cho hy lễ  có một giá trị tối cao.

 

Như đã lưu ý trước đây, trong hy lễ cứu chuộc, Đức  Kitô gánh lấy hậu quả khổ đau và chết chóc do tội  lỗi loài người gây ra. Nhưng, chỉ những hậu  quả ấy thôi thì không đủ để giải thích cho trọn  vẹn về ý nghĩa của hy lễ. Các hậu quả ấy đã  được thu nạp vào trong ý định cứu độ; mà ý định này  thì không đơn thuần nhằm tới việc tha thứ tội lỗi mà  thôi, nhưng còn là để tuôn đổ xuống trong tâm hồn  con người một tình yêu mới. Có chủ đích đó làm  lý do, thì ý nghĩa của hy lễ mới trớ thành  sáng tỏ và trọn vẹn, tức là được hiểu như là  hành động biểu dương tình yêu trong một cách thức trọn  vẹn nhất. Đạt đến tột đỉnh trong cuộc thống khổ và tử  nạn, tình yêu cứu độ tiếp tục lan truyền ra cho thế giới, qua biến cố phục sinh vinh hiển .

 

Như vậy là ý nghĩa của cuộc giải phóng mà  Đấng Cứu Độ mang lại cho nhân loại, đã được sáng tỏ.  Qua hành động giải phóng loài người khỏi  ách tội lỗi, Đấng Cứu Độ nhóm lên trong lòng con  người một thể loại tình yêu cấp cao hơn, nhằm thiết lập  một tình huynh đệ chung giữa con người với Ngài,  trong cùng một mối liên hệ làm con đối với Thiên  Chúa Cha. Giải phóng trái tim con người hầu làm  cho nó có được khả năng yêu mến theo cách kiểu yêu thương  của Thiên Chúa: đó chính là tiêu đích mà Đấng  Cứu Độ nhân loại đã nhắm tới.

 

Giả dụ thực sự công lý là chủ đích mà công  cuộc cứu độ nhắm tới, thì lúc đó, thành quả của  hy lễ cứu độ sẽ là việc thiết đặt một trật tự  công lý. Nhưng đằng này, công cuộc cứu độ đã được  an bài hoàn toàn theo động lực của tình yêu;  vì thế, một thể chế tình thương đã thành hình. Tình  yêu thương thì cới mớ và khoáng đạt hơn công lý.  Trong lãnh vực đời sống xã hội, tình thương bao  hàm hết mọi yêu cầu của công lý xã hội, và  rồi cũng còn đòi hỏi nhiều hơn thế nữa.  Phúc Âm nêu cho thấy mẫu gương một tâm hồn con người  được giải phóng, mẫu gương của Giakêu: nơi con người  mới của Giakêu, tình yêu vượt quá hẳn những đòi  hỏi đơn thuần của công lý.

 

Những lời Đức Giêsu giải thích về sự cần thiết  phải có hy lễ cứu độ, và về sinh lực phong phú  của khổ đau, rọi chiếu ánh sáng làm cho ý nghĩa của  mọi nỗi thống khổ loài người tỏ rạng hẳn  lên. Đó chính là ánh quang mà Đức Kitô phục sinh đã  muốn chiếu soi vào trong tâm lòng các môn đồ đang  sống giữa cảnh ngỡ ngàng rối loạn tiếp theo  sau tấn thảm kịch Canvê: qua việc giải thích Kinh Thánh  để cho họ thấy phương án cứu độ đã được ghi rõ ớ  trong đó, Ngài mời gọi họ gắng tin cho mạnh hơn:; "Há  Đấng Kitô lại chẳng phải chịu đau khổ như thế, rồi mới  được hướng vinh quang dành cho Ngài sao?" (Lc  24, 26).

 

Qua sự việc sống lại, và với sự sống mới nảy sinh  từ sự chết, Đức Giêsu đã dứt khoát chứng minh cho  thấy sinh lực dồi dào của hy lễ mà Ngài  dâng tiến. Ngài cũng mang lại cho các môn đồ của  mình một niềm vui bền vững, mà họ cảm nghiệm càng  thấm thía hơn và càng đánh giá cao hơn, bới đã  nhận được ngay sau những ngày thống khổ vừa mới  trải qua. Trong ánh sáng phục sinh, toàn bộ những  khổ đau trong cuộc thử thách thập giá mang một ý nghĩa  khác hẳn. Khi gẫm suy về tiến trình diễn biến các  sự việc, cần phải ghi nhận điều này là nếu không  có cuộc tử nạn, thì cũng chẳng thế nào có được  biến cố phục sinh. Vì thế, biến cố phục sinh giúp cho hiểu  rõ hơn tại sao cần phải có cuộc tử nạn, và  giúp cho khám phá ra được thượng trí khôn ngoan trong phương  án cứu độ của Thiên Chúa.


Thế nhưng, nghịch biện vẫn còn nguyên đó: cố hữu,  nó gắn liền với mầu nhiệm về tính chất siêu việt của  cách thức Thiên Chúa hành động ớ trong thế giới.  Thảm kịch thập giá đã gây kinh ngạc cho chính những  người từng được Đức Giêsu báo cho biết trước là  sắp xảy ra. Thảm kịch ấy vẫn còn tiếp tục  gây kinh ngạc cho trí óc loài người hằng thắc mắc  tự hỏi tại sao những tai ương, thất bại -- xem ra  khốc hại đối với lợi ích của các cá nhân -- lại cứ  dồn dập xảy đến; thảm kịch ấy cũng vẫn còn  tiếp tục gây lay động cho con tim loài người, quá dễ  xao xuyến trước bất cứ một biến cố náo loạn rối ren nào.


Thập giá Đấng Cứu Độ là câu trả lời cho thái  độ ngỡ ngàng và những tâm trạng xao xuyến  ấy, trả lời bằng một ánh sáng tỏa ra hai phía:  một đàng, thập giá nhắc cho nhớ lại rằng thử thách  và thất bại là những dịp để giúp cho tình yêu  lớn mạnh lên thêm; mẫu gương của Đấng chịu đóng đinh  còn đó để làm hiện thân cho tình yêu lạ lùng  nhất mà con người đã hướng nhận được; và  đàng khác, thập giá làm chứng về sinh lực dồi dào  của khổ đau; thập giá đảm bảo cho chúng ta thâm  tín rằng nếu được đón nhận với tình yêu thương, thì không  một khổ đau nào lại không đem lại lợi ích cho thân phận  của từng cá nhân và cho vận mệnh của toàn  nhân loại.

 

KẾT LUẬN: NHỮNG NGHỊCH BIỆN CỦA  TÌNH YÊU

 

Ba nghịch biện trong công cuộc cứu độ, như đã trình bày  trên đây, đều quan hệ chặt chẽ với nhau. Tất cả đều  phát xuất từ tình thương nhưng không của Thiên Chúa,  là tình thường đã muốn biểu dương và thể hiện  chính mình ra đến tột mức trong một hy lễ cứu độ: hy lễ  có khả năng mang lại một sinh lực phong phú lạ lùng,  và do đó, có sức nêu bật ý nghĩa cùng giá trị của  tất cả mọi khổ đau trong nhân loại. Qua sự việc nhấn  mạnh đến sức năng lạ lùng của tình yêu được Thiên  Chúa thể hiện ra trong hành động giải phóng, mạc khải  đã đưa ra cho nhân loại lời cam đoan đầy khích lệ để  đảm bảo với mọi người rằng tình yêu ấy hằng tiếp  tục hiện diện và tiến hành cho đến cùng, bới  có thế, thì cuộc giải phóng mới thành tựu trọn vẹn,  và sự sống Thiên Chúa mới biến đổi đời sống con  người ngày càng sâu đậm hơn được.

Jean Galot, S.J. [1]

 

 [Felipe Gómez Ngô Minh trình dịch, HTTH SỐ 9, NĂM THỨ TƯ (1994)


[1] J. Galot là giáo sư thần học  tại Đại Học Gregoriana, Roma. Nguyên bản bài viết bằng  Pháp ngữ, mang tựa đề Les paradoxes de l'oeuvre divine  de salut. La complexité du problème de la lutte entre le bien  et le mal , đăng trong tạp chí Esprit et Vie , 37(10 Sept.  1992)481-488. Tác giả bài viết cũng là tác  giả của nhiều tác phẩm về Thần học nói chung, và  về Kitô học nói riêng

[2] Về  ý nghĩa của "Tin Mừng Đầu Tiên," xin xem S. Virgulin,  "Ricerche su Genesi 3,15 dal 1970 al 1977,” Marianum 40(1978)13-30;  J. Galot, Dieu et la femme , Louvain 1986, 39-43.

[3] Từ syllypoumenos (đau  lòng/khổ tâm) chỉ về một nỗi buồn trắc ẩn.

[4] Xem Cl.  Richard, Il est notre Pâque. La gratuité du salut en Jésus-Christ,  Paris, Éd. du Cerf, 1980, 263.

[5] Ibid. 279

[6] C. Duquoc, Préface de Fr. Varone, Ce Dieu censé aimer la souffrance , Paris, Éd. du Cerf, 1984,  7.

[7] Ibid. tr. 6  (R. Girard, Des choses cachées depuis la fondation du monde ,  Paris, Grasset, 1978, 206

[8] R. Haight, An Alternative Vision. An Interpretation of Liberation Theology ,  New York, Mahwah, Paulist Press, 1985, 129. Tác phẩm của Cl.  Richard, trưng dẫn trước đây, dựa vào quan điểm coi  Đức Giêsu như là một con người được cứu độ nhờ  đức tin.

[9] R. Haight, chẳng  hạn, cho rằng Đức Giêsu lịch sử là một con người,  và chính với tính cách đơn thuần là con người, Ngài  đã can thiệp vào trong công cuộc cứu độ (An Alternative  Vision... 118-127).

[10] E. Schillebeeckx cho rằng lời tuyên bố trên đây  đặt ra một vấn đề lớn; tuy nhiên, nếu ông đã đưa ra vấn  vạn như thế, thì "chính là vì hình thức trình bày  của nó mang tính cách quá chuyên nhất như thường thấy" (God is New Each Moment, Edinburgh, T.& T. Clark, 1983, 23)

[11] Xem A. Feuillet, Le  logion sur la ranẦon, trong Revue des Sciences Philosophiques  et Théologiques 51 (1967) 368-372

[12] Cách dịch "Chính  vì thế mà con đã đến vào giờ này" không  hoàn toàn lột đúng ý nghĩa của nguyên bản:  "để cho giờ này" lấy lại ý nghĩa của "vì  thế", và nói lên mục đích của sự việc đến; xin  xem J.Galot, Gesù Liberatore , Firenze, L.E.F. 1983, 146,  n.37

[13] Khóa 22, khoản 3; DS 1753.

[14] Xin xem J. Galot, Dieu soufre-t-il ?  Paris, Lethielleux, 1976.

Lên đầu trang