NHỮNG BỨC XÚC CỦA ĐGH PHANXICÔ TRONG TÔNG HUẤN NIỀM VUI PHÚC ÂM 2013

2/15/2016 9:10:51 AM
Lên ngôi giáo hoàng trong bối cảnh: Đức Bênêđictô XVI từ chức vì lý do sức khỏe, giáo triều Rôma trải qua hai vụ Vatileak I và II, thế giới đang xảy ra nhiều vụ khủng bố người Công giáo do nhà nước IS… Đức Phanxicô trong Tông huấn đầu triều giáo hoàng đã phác họa những gì ngài muốn tập trung để như “một bản đồ và một hướng dẫn cho việc Phúc Âm hóa”.

Pope-Francis-Evangelii-Gaudium.jpg  

Ngài kêu gọi các Kitô hữu đừng nhắm mắt làm ngơ trước những thách đố hiện nay, và ngài trình bày nhiều bức xúc lo ngại riêng, nhưng ngài không vô can mà còn tìm cách góp ý với tinh thần trách nhiệm.

 

1. Bức xúc thứ nhất: phải chấm dứt bộ mặt đưa đám (số 6).

 

“Có những Kitô hữu sống như chỉ có Mùa Chay, mà không có mùa Phục Sinh… vì gặp những hoàn cảnh sống đôi khi rất nghiệt ngã… những khó khăn nặng nề phải gánh chịu…những lo lắng tệ hại (số 6). Một người Phúc âm hóa (evangelizer) không thể lúc nào cũng giống như người vừa đi đưa đám về (số 10), có bộ mặt đưa đám” (căn bệnh số 12 trong 15 căn bệnh mà ngài đã nói đến).

 

Đức Phanxicô góp ý: “Một điều kiện để có niềm vui là phải rút ra từ nguồn mạch tình yêu của Thiên Chúa được bày tỏ ra trong Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu Kitô là Tin Mừng vĩnh cửu (Kh. 14,6), hôm qua, hôm nay và mãi mãi (số 11), là người Phúc Âm hóa đầu tiên và vĩ đại nhất (số 12). Chỉ có trở về với nguồn Tin Vui ấy thì ta mới có thể thực hiện được lời: “Hãy luôn luôn vui mừng trong Chúa. Tôi nhắc lại hãy vui lên” (Pl 4,4) (số 18).

 

2. Bức xúc thứ hai: phải ra khỏi biên giới (số 20).

 

Đây cũng là ưu tiên số 2 trong 9 ưu tiên mà ngài đã chọn để cải cách Hội Thánh, đó là: ra khỏi khu vực quen thuộc: phòng thánh (số 20), ra khỏi chính mình (số 27), ra khỏi giáo xứ (số 28), đó là đồng hành gần gũi với đàn chiên (số 44).

 

Đức Phanxicô góp ý: “Tôi muốn có một Hội Thánh gặp tai nạn, bị thương tích và dơ bẩn, vì ra ngoài đường hơn là một Hội Thánh bệnh hoạn vì đóng cửa kín và thỏa mãn bám víu vào những an toàn riêng tư của mình”. Tôi không muốn một Hội Thánh chỉ lo để mình trở nên trung tâm và rốt cuộc lại giam mình trong sự rối mù của những cái cố định và những thủ tục của mình” (số 49).

 

3. Bức xúc thứ ba: về sự quá chênh lệch trong xã hội về kinh tế và tài chính (số 53).

 

“Có nơi thức ăn dư thừa bị đổ đi, trong khi nhiều người bị đói” (số 53. “Lợi nhuận của một thiểu số đang gia tăng theo cấp số nhân, còn lợi nhuận của đa số lại càng ngày kém xa lợi nhuận của thiểu số “sung sướng” (số 56), do tham quyền và tham của vô giới hạn” (số 56).

 

Đức Phanxicô đã dành cả chương IV của Tông huấn này để trình bày giáo huấn của Hội Thánh về các vấn đề trên. Nguyên nhân chính là do phân phối của cải và lợi tức một cách tồi tệ (số 29). Ngài ước mong “những người may mắn hơn nên khước từ một số quyền lợi của họ để đặt của cải của họ cách quảng đại hơn vào việc phục vụ những người khác” (số 190).

 

4. Bức xúc thứ bốn: về tiền bạc (số 55, 57)

 

Tiền bạc đã trở thành ngẫu tượng cai trị con người. Con người phải tôn thờ phục vụ tiền bạc (thờ bò vàng). Tiền bạc cũng là một trong 9 điều phải tránh mà tôi đã được 3 giám mục Việt Nam giảng tĩnh tâm hằng năm cho các linh mục nói đến:

 

- 3 Đ là độc tài, độc đoán, độc tôn.

- 3 L là làm sang, làm biếng, làm phách.

- 3 T là nô lệ: tiền, tình, tửu.

 

Tông huấn chỉ không nói gì đến 2 T là tình và tửu, còn coi 7 cái kia là những bức xúc ta không thể vô can.

Đức Phanxicô có nhắc đến một lời kêu gọi xưa, là “Không chia sẻ của cải cho người nghèo là ăn cắp của cải của họ và là tước đoạt sinh kế của họ” (Thánh Gioan Kim Khẩu).

 

5. Bức xúc thứ năm: về thói ươn lười (số 81)

 

Ươn lười phải hiểu theo nghĩa chuyên môn của Tông huấn, nghĩa là không phải chỉ lười về phần xác, về trí khôn, mà còn là lười về đức tin, về lòng đạo đức với Chúa (acedia). Tông huấn nói: “Có những người lo quá mức cho quyền tự chủ tự trị riêng của mình ...và bị chìm đắm trong tình trạng ươn lười về đạo đức nên họ bị tê liệt (số 81). Cái đe dọa lớn nhất cho họ là họ sống đời sống hằng ngày trong Hội Thánh theo đúng thói quen thực dụng, và họ cho như thế là chuyện bình thường, nhưng thực ra đức tin của họ đã phai lạt và bị thoái hóa thành chuyện trẻ con nhỏ nhen... họ sống với tâm trạng đang ở trong nấm mồ và dần dần trở nên giống như cái xác ướp trong viện bảo tàng” (số 83).

 

Đức Phanxicô chỉ góp ý về bức xúc này là: “Chúng ta đừng để niềm vui của việc Phúc âm hóa bị đánh cắp mất”. (số 83).

 

6. Bức xúc thứ sáu: về “thói sống trần tục về mặt tôn giáo” (số 93).

 

Tông huấn giải thích rằng: “Thói sống trần tục về mặt tôn giáo cốt tại việc núp sau cái vỏ bọc tôn giáo để kiếm tìm không phải vinh quang cho Thiên Chúa, mà là tìm kiếm vinh quang loài người và tìm kiếm cuộc sống dễ chịu cho bản thân mình” (số 93). Cái thói sống trần tục này được biểu lộ trong nhiều thái độ:

 

- Chăm lo chỉ nhằm để khoe, để phô trương về phụng vụ, về giáo thuyết, về uy thế của Hội thánh.

- Say mê tạo nhiều thành tích về xã hội, chính trị, như du lịch, hội họp, tiệc tùng, tiếp tân.

- Chỉ nhắm đến chuyện mình được thỏa mãn vì được coi là trung tâm (số 95).

Đây chính là thói làm sang, làm phách, độc tôn, độc đoán và “câu like” mà thôi.

 

Đức Phanxicô trước hết cầu xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi một Hội Thánh ham thế tục, chỉ núp sau cái vỏ bọc tôn giáo là làm mục vụ. Rồi ngài góp ý rằng cái thói quen gây ngạt thở này chỉ sửa chữa được nhờ hít thở không khí trong lành của Chúa Thánh Thần, có thế mới mong được giải phóng khỏi núp sau vỏ bọc tôn giáo để chỉ tìm vinh thân phì gia và để cho mình bị ăn cắp mất Phúc âm (số 97).

 

7. Bức xúc thứ bảy: về lối sống giáo sĩ trị (số (102)

 

Đây là vấn đề Đức Phanxicô đặt làm ưu tiên hàng đầu trong 9 ưu tiên để cải cách Hội Thánh, ngay khi mới làm giáo hoàng. Đó là phải “chấm dứt lối sống giáo sĩ trị” (cléricalism). Chữ “cléricalism” này, bài về 9 ưu tiên của Đức Phanxicô, đăng trong Tuần báo CGDT số 1929 ngày 11-10-2013 do Hướng Phương chuyển ngữ, dịch là chủ nghĩa giáo sĩ ; còn trong Tông huấn này thì Phaolô Phạm xuân Khôi dịch là chế độ giáo sĩ trị. Từ điển Pháp Việt của Viện Khoa Học Xã Hội dịch là chủ nghĩa tăng lữ. Từ điển Lạc Việt thì dịch là thuyết giáo quyền... Còn tác giả Jean Mercier viết về 9 ưu tiên của Đức Phanxicô, đăng trong google thì cho biết rằng Đức Phanxi cô muốn phải chấm dứt lối sống giáo sĩ trị là chấm dứt chuyện giáo sĩ trong Hội thánh lạm dụng quyền bính, xen vào quyền tự do của mọi người, là chấm dứt thói độc tài, độc đoán, độc tôn... Đây là những lối sống, cách sống (manière d’être) chứ không phải chủ nghĩa hoặc chế độ hoặc chủ thuyết. Vì thế tôi chọn dịch là lối sống giáo sĩ trị, tương tự như chữ gia đình trị vẫn quen dùng, có nghĩa là chia nhau giữa những người cùng một gia đình giành nắm mọi quyền hành, địa vị trong bộ máy nhà nước. Còn giáo sĩ trị là lối sống của giáo sĩ có xu hướng giành cho mình mọi quyền hành, địa vị, xen lấn can thiệp vào mọi chuyện xã hội, chính trị...cũng không muốn cho giáo dân tham gia cộng tác (số 102). Tôi thấy bức xúc này cần được Hội thánh tại Việt Nam đặt lên hàng ưu tiên phải chấm dứt, bởi vì xã hội Việt Nam đã từ lâu chịu ảnh hưởng của óc gia trưởng nghĩa là “có tư tưởng hoặc tác phong của người đứng đầu, người lãnh đạo, tự coi mình có mọi quyền hành, tự ý quyết định mọi việc, coi thường quyền dân chủ của người khác” (Từ điển tiếng Việt của Ủy ban Khoa học Xã hội).

 

Đức Phanxicô nhận xét rằng bệnh giáo sĩ trị này cũng như 15 bệnh mà ngài đã nêu ra chỉ có thể chữa trị được nhờ ơn Chúa Thánh Thần giúp, đồng thời nhờ mỗi Kitô hữu ý thức hậu quả của căn bệnh để, với tính cách cá nhân hay cộng đồng, tham gia cộng tác với nhau cách kiên trì và nhẫn nại (xem Diễn văn ngày 22-11-2014).

8. Bức xúc về Tuyển chọn ơn gọi làm Linh mục và sống đời thánh hiến.

 

Đức Phanxicô có nhận xét là “ở nhiều nơi ơn gọi làm Linh mục và sống đời thánh hiến trở nên khan hiếm”. Nhưng ngài bức xúc nhấn mạnh rằng “dù có khan hiếm, ngày nay chúng ta đã ý thức rõ ràng về sự cần thiết phải có một cuộc tuyển chọn các ứng sinh linh mục tốt hơn”. Rồi ngài đưa ra một tiêu chuẩn là: “không được nhận cho đầy chủng viện dựa trên cơ sở của bất cứ động lực nào, lại càng ít có thể dựa vào bất cứ một động lực nào gắn liền với một mối lo không có an toàn trong đời sống hôn nhân, với ước muốn tìm kiếm những hình thức có quyền thế địa vị xã hội, tìm kiếm vinh quang danh giá trước mọi người hoặc một cuộc sống sung túc về kinh tế”. Bốn hình thức giá trị này được coi là kém giá trị (số 107). Ngài đã nói rất cụ thể và còn mời gọi các cộng đoàn bổ sung và làm giàu thêm cho các quan điểm của ngài bằng cách tìm trong những dấu chỉ thời đại hôm nay, ngài khuyên nên học hỏi kinh nghiệm từ người già cũng như người trẻ. Người già nhắc nhớ cho ta những kinh nghiệm khôn ngoan để đừng lặp lại những sai lầm ngớ ngẩn trong quá khứ (giáo dục không khai phóng, chọn lựa theo con ông cháu cha…). Người trẻ mời gọi ta thức tỉnh và hy vọng vào những khuynh hướng mới (giáo dục khai phóng, sống chủ động và tích cực…) để đừng bám chặt vào những cơ cấu hay thói quen lỗi thời không còn sức sinh động nữa (107, 108). Động lực chính phải là để cứu rỗi các linh hồn, để Phúc âm hóa. Đây là dịp để những người đã đi tu cũng như mọi người có liên hệ xem xét lại động lực nào đã khiến mình đi tu, hay phải khuyên người khác đi tu.

 

9. Bức xúc về việc loan báo Phúc Âm.

 

Đức Phanxicô bức xúc là “không thể có việc Phúc âm hóa thật sự nếu không có việc loan báo rõ ràng Chúa Giêsu là Chúa” và nếu không đặt việc loan báo Chúa Giêsu vào trong mọi hoạt động Phúc âm hóa” (110). Đức Phanxicô phân biệt rõ ràng sứ vụ Phúc âm hóa với các hoạt động của Phúc âm hóa. Phúc âm hóa bao gồm việc: truyền giảng hay loan báo Phúc âm, mục vụ, bí tích, huấn giáo, mục vụ truyền giáo…về việc phân biệt này nhiều Kitô hữu Việt Nam, cả một số giáo sĩ vẫn còn lẫn lộn Phúc âm hóa với truyền giáo. Ngài nhấn mạnh Phúc âm hóa là sứ vụ của Giáo hội mà toàn dân Thiên Chúa là Giáo hội đều phải thực hiện trong các hoạt động của Phúc âm hóa trong mọi dân tộc, mọi nền văn hóa (110). Còn Giáo hội ở mỗi địa phương phải Phúc âm hóa bằng các việc đạo đức bình dân theo văn hóa của mình. Ngài nhắc lại lời Đức Phaolô VI nói: “đạo đức bình dân để diễn tả lòng khao khát Thiên Chúa mà chỉ những người đơn thường và nghèo hèn có thể hiểu biết được” (123).

 

Ở Việt Nam có nhiều hoạt động văn hóa như văn hóa hiếu thảo, văn hóa vay trả, văn hóa thi ơn và biết ơn… được thể hiện qua các lễ nghĩa, các cuộc hành hương đến “các nơi thiêng”, như chùa Bà, đền bà chúa Kho, các miếu Bà…Bên Công Giáo Việt nam có các cuộc hành hương linh địa La Vang, núi Đức Mẹ Bãi Dâu, Tà Pao…lễ giỗ cha Phanxicô Trương Bửu Diệp. Chính tôi được chứng kiến có những người lương đem heo quay đến cúng cha Diệp, có người ngồi sát mộ cha Diệp để chạm vào, có người đem thuốc chữa bệnh để trên mộ cha … và tôi thấy bức xúc khi nghe có Kitô hữu Việt Nam nói: sao để xảy ra chuyện mê tín dị đoan như vậy! Tôi bức xúc vì tôi nhớ trong Phúc âm Thánh Luca có kể chuyện về phụ nữ bị băng huyết 12 năm, dám đến gân Chúa để sờ tua áo Chúa, vì bà tin là sẽ được khỏi bệnh. Thế mà Chúa Giêsu khi biết được bà thì lại nói với bà “lòng tin của con đã cứu chữa con” (Lc 8, 43 – 48).

 

Đức Phanxicô còn nhắc tới những cử chỉ đạo đức của người bình dân như: bà mẹ ngồi trên giường cạnh đứa con bệnh tật, tay lần chuỗi, hay căn nhà nghèo đốt ngọn nến sáng để cầu xin Đức Mẹ, hoặc những đôi mắt nhìn ảnh chuộc tội với niềm trông cậy thiết tha (125). Ngài góp ý cần phải quan tâm suy nghĩ, giải nghĩa và phổ biến các hoạt động đạo đức bình dân để góp phần vào việc tân Phúc âm hóa (126).

 

10. Bức xúc về việc giảng lễ và soạn bài giảng.

 

Đây là vấn đề mà đức Phanxicô đã phải nghe nhiều bức xúc khiếu nại khiến ngài nói: “ngài không thể bịt tai được” (135) và ngài phải nói cho đầy đủ. Trước hết ngài nêu bật giá trị và địa vị của bài giảng trong bối cảnh của phụng vụ Thánh lễ mà người giảng lễ phải quan tâm. Ngài nhắc vắn gọn là: đừng nói những gì ngoài bối cảnh phụng vụ, và đừng nói dài hơn là việc cử hành phụng vụ. Nói cụ thể hơn là: bài giảng không phải là lúc trình diễn giải trí hoặc là bài diễn văn thuyết trình, bài giảng phải: hướng dẫn cộng đồng đến sự hiệp thông với Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể (138) – bài giảng phải giống như “mẹ giáo hội” nói chuyện với dân Chúa như với con (139) – phải nói chuyện bằng giọng nói ấm áp, bằng lời văn dịu dàng, bằng những cử chỉ vui tươi (140) – phải nói chuyện bằng trái tim, sao cho các trái tim vừa nóng cháy vừa sáng rực bởi lời mặc khải của Chúa, để dân Chúa cảm thấy như họ đang được sống giữa hai cái ôm siết của Chúa Cha, ôm siết lần đầu khi được rửa tội, là như đứa con hoang đàng trở về với Cha; ôm siết lần khác khi Cha đầy lòng thương xót đón ta vào vinh quang (144).

 

Còn việc soạn bài giảng Đức Phanxicô cũng bức xúc muốn nói nhiều hơn và mạnh mẽ hơn: “người giảng lễ là một công cụ của Chúa Thánh Thần, vì Chúa Thánh Thần tác động trong bài giảng, do đó một người giảng lễ mà không soạn bài giảng là người không có Chúa Thánh Thần, (bản tiếng Anh là no “spiritual” bản dịch Việt là không thuộc về tinh thần) họ là những người vô lễ và vô trách nhiệm đối với những ân huệ họ đã lãnh nhận” (145). Chính ngài đã khai triển việc phải có “Chúa Thánh Thần” trong chương V của Tông Huấn nói về Người Phúc âm hóa đầy Thánh Thần. Người giảng lễ phải có và đầy Thánh Thần bằng cầu nguyện Chúa Thánh Thần, rồi trải qua nhiều bước: trước hết là chú ý tìm hiểu đúng ý nghĩa và sứ điệp của bản văn Thánh Kinh (146, 147) – nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng để lời Chúa nhập thể trong chính mình, đổi mới mình bằng cầu nguyện, lắng nghe để nội tâm hóa lời Chúa (149, 152) – lắng nghe dân chúng để tìm ra những gì mà các tín hữu cần nghe (154) – tìm ra cách khai triển bài giảng bằng “tóm lược, nói ít mà giúp hiểu nhiều” (Hc. 32, 8) (156) – sử dụng hình ảnh có tác động hơn là thí dụ (157) – lời giảng đơn giản, rõ ràng, trực tiếp, thích hợp (158) – dùng cách nói tích cực nghĩa là đề nghị những gì có thể làm tốt hơn chứ không thể chỉ dừng lại ở than phiền, chỉ trích, hối hận (159). Do đó người giảng thế nào cũng phải có giờ cầu nguyện, nhập định, đọc Thánh Kinh với Chúa Thánh Thần thì mới có cơ hội để Chúa gợi hứng, giúp sáng kiếng (152).

 

11. Bức xúc về người nghèo.

 

Kitô hữu không chỉ bắt chước chỉ ba không để không nhìn đến tình cảnh người nghèo, không nghe tiếng kêu của người nghèo, không lên tiếng bênh vực bảo vệ người nghèo. Đức Phanxicô đã nhắc nhớ Kitô hữu là: Chúa chúng ta đã sinh ra trong cảnh nghèo, sống suốt đời gần gũi người nghèo và người bị xã hội loại bỏ ngoài lề (186). Ngài bức xúc nên mượn lời phát biểu mạnh mẽ của Hội đồng giám mục Brazil chia sẻ rằng: “Hằng ngày chúng tôi muốn mang lấy trong mình những niềm vui và hy vọng những lo âu và buồn đau của dân Brazil, nhất là những dân ở ngoại vi thành phố và vùng nông thôn – họ không có đất đai, không mái nhà, cơm bánh, sức khỏe – quyền lợi của họ bị vi phạm. Nhìn xem những khốn khổ của họ, nghe thấy những tiếng kêu và biết được đau khổ của họ, chúng tôi công phẫn vì biết rằng: có thực phẩm đầy đủ cho mọi người, còn cái đói là do phân phối của cải và lợi tức cách xấu xa tồi tệ. Vấn đề còn trầm trọng hơn do thói quen hoang phí một cách phổ biến” (số 191).

 

Đức Phanxicô kêu gọi chúng ta phải chọn lựa giúp người nghèo và những người bị xã hội loại bỏ ra bên lề (195), và góp ý rằng “Tôi muốn có một giáo hội nghèo cho người nghèo” (198). Ngài không muốn theo chính sách mỵ dân được gọi là “dân túy” (populism) nghĩa là lừa gạt cho dân say sưa cách vô trách nhiệm (204) mà nghèo vẫn nghèo.

 

Ngài còn bức xúc về những hình thức mới của nghèo khổ và của tình cảnh yếu thế dễ bị tổn hại, đó là điều xấu đang xãy ra hôm nay mà chúng ta ít biết và quan tâm, như: tình cảnh người vô gia cư, người nghiện xì ke ma tuý, người di dân, các thổ dân và dân thiểu số, người già bị bỏ rơi (210), phụ nữ bị loại trừ, bị bạo lực, bị lạm dụng (212), các thai nhi (213) . . . Ngài bức xúc về điều cả các thụ tạo đủ loại bị hủy hoại, như: đất đai bị sa mạc hóa, sông ngòi bị ô nhiễm, động vật thực vật bị tuyệt chủng (215).

 

Đức Phanxicô đã mở rộng mắt, tai để đi đến tận cùng nỗi khổ của nhân loại cũng như vạn vật … để tìm khách góp phần tân Phúc âm hóa.

 

12. Bức xúc về người phúc âm hóa với Chúa Thánh Thần.

 

Đức Phanxicô đã ca tụng Đức Giêsu Kitô là Người Phúc âm hóa tuyệt vời, và bản thân Chúa là Phúc âm (209). Trong giáo hội, người Phúc âm hóa trước hết là các tông đồ, các giáo sĩ, tu sĩ rồi giáo dân. Đức Phanxicô cũng nói mục tử mà không Phúc âm hóa với Chúa Thánh Thần thì là kẻ bất lương và vô trách nhiệm đối với các ân huệ đã lãnh nhận (145). Rồi ngài giải mã người Phúc âm hóa với Chúa Thánh Thần hay đầy Chúa Thánh Thần là người phải cầu nguyện và hoạt động: cầu nguyện lâu giờ, cầu nguyện bằng Lời Chúa trong Thánh Kinh, đối thoại với Chúa Giêsu. Đó là những dấu chỉ người Phúc âm hóa có hay đầy Chúa Thánh Thần. “Giáo hội không thể sống mà không có lá phổi cầu nguyện” (262). Có như vậy mới có thể gần gũi mọi người để: chia sẻ, lắng nghe mọi nỗi âu lo, cộng tác với họ cả về vật chất lẫn tinh thần trong mọi nhu cầu, vui với kẻ vui, khóc với người khóc (269). Ngài nhắc nhớ mọi Kitô hữu: chúng ta chỉ là những bình sành (2 Cr. 4,7), chúng ta phải trông cậy vững vàng vào Chúa Thánh Thần giúp đỡ sự yếu đuối của chúng ta (Rm 8, 26). Sau hết chúng ta phải nhờ lời kinh chuyển cầu của Chúa Thánh Thần, của các Thánh, của chính chúng ta nữa, như thánh Phaolô đã làm cho giáo đoàn Philip (Pl 1, 4. 7) cho giáo đoàn Côrintô (1 Cr 1, 4) (281, 282). Lời kinh chuyển cầu như “men” trong lòng Chúa Ba Ngôi biểu lộ sức mạnh của tình yêu người cho chúng ta (283).

 

Để Kết: Tôi cố gắng lượm lặt những bức xúc của đức Phanxicô trong Tông huấn đầu đời giáo hoàng của ngài để chúng ta cùng với ngài không bịt mắt, bịt tai, bịt miệng nhưng mở rộng mọi khả năng Chúa ban để loại bỏ mọi cái xấu và làm phát triển các điều tốt, góp phần Tân Phúc âm hóa nhân loại và vạn vật.

 

 

Linh mục Antôn Nguyễn Mạnh Đồng

Nhà hưu dưỡng linh mục Cần Thơ 2016
(WGP.Cần Thơ 13.02.2016)

Lên đầu trang