Người Công Giáo... đọc "Mười bức tranh chăn trâu"

4/21/2022 9:05:33 PM
Trong bài báo có tựa: “ Hành trình tâm linh như đi tìm trâu”, linh mục Phan Tấn Thành sau khi trình bày mấy quan điểm về “ Mười bức tranh chăn trâu” tức Thập Mục Ngưu Đồ của các thiền sư và sau đó đã nêu lên hai điểm khác biệt lớn với Ki Tô giáo như sau:

1/- Sự khác biệt nhất ở chỗ hành trình huyền bí không đưa đến sự kết hợp với Thiên Chúa ( Theo quan điểm của Ki Tô giáo ) nhưng đến chỗ VÔ. Đây là sự khác biệt về tận điểm.

2/- Một sự khác biệt nữa nằm ngay ở hướng đi của hành trình không phải từ Hữu đến Vô nhưng là đến chỗ khám phá ra Phật Tính ở ngay trong mình. Hai loạt bức tranh của Quách Am  và Kyotetou nêu bật điều đó: Mục đồng đi tìm con trâu lạc tức là đi tìm chân lý ( Hay Phật Tính ). Anh tưởng  rằng chân lý ở mãi tận đâu đâu  nhưng nào ngờ lại ở ngay trong chính mình. Vì thế cần phải trở lại với chính mình” ( Nguồn: TTHV Đa Minh – 01/2/2021 ). Phan Tấn Thành – Hành trình tâm linh như đi tìm trâu ).

Nói rằng cuộc hành trình tâm linh như đi tìm trâu là đúng. Tuy nhiên trong cuộc hành trình ấy thật ra không có gì gọi là khác biệt  với việc tìm trâu qua từng giai đoạn, nếu chúng ta biết gạt bỏ đi những giới hạn của ngôn từ để cùng nhau khám phá ra chân lý Kinh Thánh mà bấy lâu đã bị thần học duy lý làm cho khuất lấp.

Sau đây lần lượt xin trình bày về Mười Bức Tranh Chăn Trâu dưới nhãn quan Thiền Tông:

Bức Tranh Thứ Nhất

Tìm Trâu

Sống đời tâm linh là sống một cuộc tìm, thật vậy Đức Ki Tô nói: “ Hãy xin sẽ được. Hãy gõ sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì được. Ai tìm thì gặp. ai gõ sẽ được mở cho” ( Lc 11, 9 -10 ). Chúa nói hãy xin sẽ cho, hãy tìm sẽ gặp. Điều ấy có nghĩa nếu không xin thì sẽ không cho, không tìm thì sẽ không  thể gặp. Cuộc khủng hoảng trong giáo hội hiện nay cũng như từ thuở xa xưa trong thời Cựu Ước chính là vì đã không có sự tìm kiếm Thiên Chúa như đáng phải tìm:

“ ĐCT từ trên trời ngó xuống con loài người, đặng có ai thông sáng tìm kiếm ĐCT chăng ? Chúng nó thay thảy đều lui lại cùng nhau trở nên ô uế. Chẳng có ai làm điều lành, dẫu một người cũng không” ( Tv 53, 2 -3 ).

Với cách diễn tả của Kinh Thánh ( Cựu Ước ) dường như cho thấy có một đấng Thiên Chúa…ngoại tại ( Ở trên trời ) nhưng không phải vậy, Đấng cần tìm kiếm  ấy theo tiên tri Isaia đó là Đấng Thiên Chúa Ẩn Giấu ( Deus Abconsditus – Is 45, 15 ).

Trong suốt cuộc hành trình tìm kiếm của Dân Chúa cho thấy đó là cuộc tìm về với Đấng Thiên Chúa Ẩn Giấu và sự…giấu ẩn đó chỉ có thể  giấu ở trong Tâm mỗi người chứ chẳng thể ở bất cứ nơi nào khác: “ Cốt để họ tìm kiếm ĐCT  hầu mong gặp được Ngài dẫu Ngài chẳng ở xa mỗi một người trong chúng ta” ( Cv 17, 27 ).

Thiên Chúa chẳng ở xa là để cho chúng ta không ngại trong việc tìm kiếm. Thế nhưng Đấng ấy  chẳng những chẳng ở xa mà đó chính là Bản Tâm là cái Tâm Chân Thật hằng hữu ở nơi mỗi người. Ở đây có một vấn đề hết sức nan giải mà đối với thần học duy lý không bao giờ có thể chấp nhận. Thế nhưng đây lại là chân lý Thánh Kinh không thể không giải đáp. Nếu Thiên Chúa là Đấng…nội tại trong ta thì tại sao lại phải đi tìm ? Nói tìm kiếm Thiên Chúa thì chẳng lẽ ta là kẻ đi tìm còn Thiên Chúa là đối tượng của việc tìm kiếm ấy hay sao ?

Trong bức tranh thứ nhất “ Tìm Trâu” chúng ta thấy chỉ có một mình mục đồng với cảnh núi rừng, non nước bao la chẳng thấy bóng dáng …trâu đâu ? người Công giáo nói chung sở dĩ không tìm kiếm Thiên Chúa là do ảnh hưởng  của thần học chỉ tìm cách chứng minh sự hiện hữu của Đấng Tạo Hóa. Thế nhưng Thiên Chúa vẫn luôn mong mỏi con người tìm kiếm Ngài để được sống: “ Hễ ai tìm được Ta thì gặp sự sống” ( Cn 8, 35 ).

Bức Tranh Thứ Hai

Thấy Dấu

Đối với thần học thì việc tìm kiếm chẳng những không bao giờ được đặt ra mà còn đang tâm…khai tử Thiên Chúa bằng một thứ thần học gọi là thần học về cái chết của Thiên Chúa “ Theologie de la mort de Dieu”. Đang khi đó cả Cựu Ước lẫn Tân Ước đều chủ trương việc tìm kiếm. Đức Ki Tô nói: “ Nhưng trước hết hãy lo tìm kiếm Nước ĐCT và sự công chính của Ngài thì mọi điều ấy sẽ được thêm cho các ngươi” ( Mt 6, 33 ).

Người đời chỉ biết lo cơm ăn, áo mặc, công danh sự nghiệp, còn người có đạo mà cũng chỉ biết lo toan những thứ đó thì chẳng xứng đáng là  con cái Chúa. Là con thì phải biết, phải nhớ đến Người Cha Thiên Chúa của mình. Thế nhưng để có được cái sự biết, sự nhớ đó thì cần có người chỉ cho mới biết. Người …chỉ cho tức mạc khải ấy chính là Đức Giê Su Ki Tô: “ Ngoài Cha không ai biết Con. Ngoài Con và những ai Con muốn mạc khải cũng không ai biết Cha” ( Lc 10, 22 ).

Chỉ nhờ vào mạc khải chúng ta mới có thể…biết về Cha và chính Cái Biết ấy là một dấu chỉ cho thấy về Tâm. Thực tế cho thấy trong Đạo Công Giáo từ các em giáo lý khai tâm cho đến các nhà thần học đều không hề được học hỏi về Tâm. Đang khi đó toàn bộ Kinh Thánh  từ Sách Sáng Thế cho đến sách Khải Huyền đều nói rất rõ về Tâm.

Thật vậy, trong câu chuyện sa ngã của nguyên tổ, chẳng phải đã nói về Tâm đó sao ? Vườn Địa Đàng ám chỉ cho Bản Tâm Vô Phân Biệt. Ông A Dong, bà Eva chỉ cho hai nguyên lý Âm và Dương. Con rắn tượng trưng cho Lý Trí. Từ Vườn Địa Đàng tức Bản Tâm Vô Phân Biệt, nguyên tổ vì nghe theo cám dỗ của rắn Sa Tan …ăn trái cấm phân biệt thiện ác mà đã bị đuổi  tức đọa vào chốn gian trần khổ ải.

Trong câu chuyện mang tính minh triết đặc thù ấy cho thấy có ra đi thì cũng có trở về và sự trở về ấy chúng ta chỉ có thể thực hiện bằng cách dứt bỏ cái tâm phân biệt thiện, ác. Thiền tông luôn chủ trương phá bỏ cái niệm hai bên tức cái niệm phân biệt ( Tội nguyên tổ ). Tuy nhiên đây chỉ là nghe và tin Lời Chúa trong Kinh Thánh thôi thế nên chỉ là…thấy dấu, không còn bơ vơ trên đường tìm kiếm.

Bức Tranh Thứ Ba

Thấy Trâu

Bao lâu còn trên đường tìm là còn chưa thấy. Tuy chưa thấy nhưng do mạc khải của Đức Ki Tô, chúng ta tin rằng Đấng Cha ấy chẳng ở đâu xa nhưng  vẫn hằng hữu ở nơi mình tức Đấng ấy là một không khác với Bản Tâm. Vấn đề quan trọng đặt ra ở đây, nếu Đấng Cha quả thật là Bản Tâm ta thì Bản Tâm ấy đích thực là gì ? Xin thưa đó chính là Tánh Biết cũng gọi là Nguồn của những  cảm biết không xa rời nhau.

Ở nơi mỗi người đều có sáu loại cảm biết khác nhau:

1/- Mắt thấy sắc sinh cảm biết phân biệt lớn nhỏ, cao thấp, xanh, đỏ, tím vàng…

2/- Tai nghe âm thanh sinh cảm biết tiếng bổng, tiếng trầm…

3/- Mũi ngửi mùi sinh cảm biết thơm, thúi…

4/- Lưỡi nếm vị sinh cảm biết, ngọt bùi, đắng, cay…

5/- Thân đụng chạm sinh cảm biết trơn, láng, thô nháp…

6/- Ý, Do nơi các cảm biết của năm thức trước ( Tiền Ngũ Thức ) sanh lòng nhớ tưởng phân biệt. Vì vậy sẽ sanh các thứ cảm biết của tư tưởng như tham muốn, mong cầu, tiếc giữ, giận hờn…Nói tóm lại đó là các tình thức của tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến…ở nơi mỗi con người.

Con người vì vô minh che lấp nên cứ một mực chạy theo 06 thứ cảm biết vừa nêu cho nó là thật có  mà quên đi Tánh Biết  vốn có ở nơi mình.Tánh Biết hay Nguồn Cảm Biết ấy không bao giờ thay đổi, với một đứa trẻ sơ sinh hay một ông lão sắp lìa đời cũng vậy. Tánh Biết ấy được ví như nguyên liệu ( Bột ) để làm ra những chiếc bánh như  bánh mì, bánh đúc,bánh phở v.v…Những chiếc bánh ấy có đủ loại hình tướng, màu sắc khác nhau nhưng tất cả đều được làm bằng bột.

Thử hỏi không có bột làm sao có được những chiếc bánh ? Cũng vậy không có Tánh Biết thì làm sao có được những thứ cảm biết như vừa nêu trên ? Người nhận được Tánh Biết vốn hằng hữu ở nơi mình đó chính là…thấy trâu và mục đồng  có được niềm vui vì biết rằng trâu vẫn quanh quẩn ở đó chứ chẳng  mất đi đâu.

Đức Ki Tô mạc khải về Cha cũng là một với việc rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Người nghe và tin Nước Trời ở nơi mình đó thật là niềm vui khôn xiết.

Bức Tranh Thứ Bốn

Được Trâu

Người nào tin Nước Trời hiện hữu ở nơi mình thì có niềm vui lớn và vì thế càng ra công ra sức khai phá: “ Nước Trời ví như của báu chôn trong ruộng, có người tìm được thì yểm đi, vui mừng mà đi bán hết gia sản mình rồi mua lấy” ( Mt 13, 44 ).

Ruộng đây chính là Tâm là con trâu mà mục đồng nắm được bằng sợi giây. Tuy đã nhận biết về tâm nhưng hành giả vẫn còn nhiều tập khí, chạy theo trần cảnh tham, sân vì vậy con trâu Tâm ấy vẫn còn ngang ngạnh chưa thể khuất phục. Trong bức tranh thứ bốn này ta thấy mục đồng cố gắng ghìm chặt sợi giây nhưng con trâu  có khi vẫn lồng lộn muốn thoát ra khỏi.

Trong bức tranh thứ ba, dù đã thấy trâu nhưng để thực sự sống với nó thì còn rất khó khăn bởi vì Tâm chưa được chuyển hóa. Bởi đó dù có…thấy được Cha ( Kiến Tánh ) nhưng đây mới chỉ là bước khởi Tu. Từ khi bắt đầu con đường tu tập Thiền Tông cho đến khi chứng đạo, thiền sư Huệ Trung đã ở núi Bách Nhai 42 năm sau mới ra làm Quốc Sư.

Bức Tranh Thứ Năm

Chăn Trâu

Nhận biết Cha tức nhận  được Tánh Biết vẫn thường hằng ở nơi mình, đó là một niềm vui lớn nhưng cốt yếu phải làm sao giữ được nỗi vui ấy đừng để nó lụi tàn. Để giữ được niềm vui đó thì cần rất nhiều công phu nhà Thiền gọi là Bảo Nhậm. Sở dĩ khó là bởi vọng niệm rất nhạy bén và chỉ có  hành giả Thiền lâu năm mới có thể nhận ra điều ấy.

Trong khi chăn mà thấy trâu có ý tạt ngang muốn xâm hại lúa bắp ruộng người thì phải giật giây cho nó quay lại ngay. Trong khi Tu mà biết có vọng niệm khởi thì phải biết và dừng lại. Tổ Lâm Tế nói: Ông một niệm không thể dừng là cây vô minh. Trái lại ông dừng được niệm là Cây Bồ Đề.

Vọng niệm khởi rồi liền diệt, diệt rồi lại sinh cứ liên tu bất tận như thế. Tuy nhiên đối với hành giả, điều ấy thật không đáng sợ, chỉ sợ chậm,  không biết mà dừng “ Bất úy tham sân khởi. Duy khủng tự giác trì”.

Đối với người Công Giáo thì sợi giây thừng của người…chăn trâu đó chính là Tràng Chuỗi Mân Côi. Ai cũng biết Kinh Mân Côi truyền thống chia ra ba Mùa: Vui, Thương, Mừng. Mỗi Mùa có năm Thứ. Mỗi Thứ có mười Kinh Kính Mừng. Mục đích cần…chia ra như thế là để dừng lại các vọng niệm mà chúng ta vẫn gọi là chia lòng chia trí đó.

Kinh Mân Côi nếu được tụng đọc cùng với cộng đoàn hay trong gia đình cũng sinh nhiều ơn ích nhưng đó không phải là TU bởi vì TU chính là để dứt vọng. Đang khi đó nếu đọc cùng với cộng đoàn thì dù có chia trí vẫn…chẳng sao. TU ở đây chính là…chăn trâu. Con trâu Tâm ấy nếu không Tu thì nó mặc

tình rong ruổi để rồi sa đà vào các thứ tình chấp tham, sân mà không sao cưỡng lại được. Ngược lại với người kiên trì thực hành Kinh Mân Côi thì khi vọng khởi liền biết và một khi vọng được nhận biết thì nó không thể tác hại được nữa. Thực hành Kinh Mân Côi không khó chỉ cần lòng bền đỗ ( Mt 10, 22 ).

Bức Tranh Thứ Sáu

Cỡi Trâu  Về Nhà

Cỡi trâu về nhà là khi trâu đã thuần, mục đồng có thể cỡi trên lưng thổi sáo  mà về. Tâm  trên đường về gốc ( Bản Tâm ) tức vọng đã được nhận biết. Người không TU thì luôn bị cảnh duyên bên ngoài lôi kéo dẫn dắt, buồn, vui chợt đến chợt đi không thể kiểm soát. Đối với người Công Giáo khi đang trên con đường về Nhà Cha  thì cả ba nhân đức Tin, Cậy, Mến  đều đã nảy nở, phát triển, luôn tin rằng mình có Chúa có Đức Mẹ chở che, dìu dắt cả về vật chất lẫn tinh thần: “ Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi. Trên đồng cỏ xanh rì, Người  cho tôi nằm nghỉ…” ( Tv 23, 1 -2 )

Về nhà ở đây còn gọi là …tùy duyên có nghĩa tuy vẫn  tham dự Thánh lễ, nguyện ngắm, sinh hoạt cùng với cộng đoàn nhưng trong một tinh thần mới, Thiên Chúa không còn là Đấng ngoại tại nhưng đây thực là Người Cha Nhân Lành của mình.

Đứa con hoang đàng sau khi trải qua  những cảnh khổ đau, bầm dập đã tỉnh ngộ trở về Nhà Cha lòng đầy hoan hỷ: “ Ta sẽ đứng dậy trở về cùng cha mà thưa rằng: Cha ôi ! Con đã lỗi phạm với trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa, xin đãi con như đứa làm thuê vậy” ( Lc 15, 18 -19 ).

Bức Tranh Thứ Bảy

Quên Trâu Còn Người

Đến đây xem như trâu đã mất, chỉ còn người. Vì vậy trong bức tranh thứ bảy này chỉ thấy có chú mục đồng  ngồi dưới căn lều cỏ, trước mặt có bụi trúc phất phơ, trên trời  là mặt trăng tròn sáng không một vẩn mây…

Thiền Tông chủ trương…pháp không hai ( Lý Bất Nhị ). Trước đây khi còn TU thì thấy có người chăn và trâu nhưng đó chỉ là cái phương tiện. Đang khi đó ở nơi Bản Tâm thì không…có hai. Kinh Thánh quan niệm Thiên Chúa là Đấng Duy Nhất:“ Hay là ĐCT chỉ là ĐCT của người Do Thái thôi sao ? Há chẳng phải của cả dân ngoại nữa sao ? Phải, cũng là của dân ngoại nữa. Vì ĐCT vốn là duy nhất” ( Rm 3, 29 -30 ).

Sở dĩ Thánh Phao Lô phải nhấn mạnh đến tính duy nhất của Thiên Chúa lý do là vì trong quan niệm của người Do Thái cho rằng Thiên Chúa chỉ là riêng của họ đồng thời Ngài sẽ bảo vệ, nâng đỡ họ chống lại mọi quân thù nghịch. Thế nhưng trong thời Tân Ước, Đức Ki Tô mạc khải về một Đấng Cha hoàn toàn khác. Ngài là Đấng Cha của muôn loài vạn vật. Không những thế Thiên Chúa  ấy cũng chính là Bản Tâm mỗi người.

Sao có thể nói Thiên Chúa chính là Bản Tâm mỗi người đang khi hình như Chúa Giê Su lại nói về một Đấng Cha…ngự trên trời ? Ngài nói với Phê Rô: Si Mon con Giona ơi ! ngươi thật có phúc đó vì chẳng phải xác thịt bày tỏ điều ấy cho ngươi đâu bèn là Cha Ta ở trên trời vậy” ( Mt 16, 17 ).

Lần khác Chúa dạy chúng ta cầu nguyện: “ Lạy Cha chúng tôi ở trên trời…” Những lời Chúa nói đây chỉ là…tùy thuyết  dành cho những người chưa được giáo hóa mục đích để cho họ dễ  dàng trong việc quy hướng. Tuy nhiên đến một trình độ  được khai hóa  về tâm linh thì Đấng Cha ấy lại là Đấng…nội tại trong mỗi người. Chúa Ki Tô Phục Sinh nói với Madalena khi nàng đến viếng mộ và gặp Ngài: “ Ta lên cùng Cha Ta cũng là Cha các ngươi. Là ĐCT Ta cũng là ĐCT các ngươi” ( Ga 20, 17 ).

Thiên Chúa là Cha nhưng Ngài là Cha thế nào được một khi…ở tít trên trời cao xanh thăm thẳm ?Cũng chính do nơi quan niệm Thiên Chúa là Cha trên trời mà người ta đã đánh phá Đạo Công Giáo cách thậm tệ và tôn giáo đã thành ra một thứ thuốc phiện ru ngủ quần chúng !!!

Như đã biết Thiên Chúa Cha chính là Tánh Biết là Bản Thể của mỗi người. Trong việc tìm kiếm hiểu như là việc chăn trâu ấy, ban đầu còn thấy có mục đồng ( Hành Giả ) và trâu nhưng đến giai đoạn này ( Bức tranh thứ bảy ) thì phải quên trâu tức bỏ qua phương tiện để sống với thực tại Cha nơi chính mình. Nói thế không có nghĩa có thể bỏ  đi mọi thứ phương tiện như tham dự Thánh Lễ, nguyện ngắm, lần Chuỗi MC, Chuỗi Kinh Lòng Thương Xót v.v…

Vẫn thực hành nhưng trong tinh thần…vô vi, làm mà không thấy có người làm tức không còn thấy “ Cái Tôi” trong mọi việc.

Bức Tranh Thứ Tám

Người Trâu  Đều Quên

Trong bức tranh trước “Quên Trâu Còn Người” thì nay người cũng cần…quên luôn có nghĩa không còn thấy có mình. Đức Ki Tô dạy đạo lý Bỏ Mình: “ Ai muốn theo Ta thì hãy bỏ mình đi, vác thập giá mình hàng ngày mà theo” ( Lc 9, 23 ).

Bỏ Mình tức bỏ đi hai cái chấp về Thân và Tâm. Bỏ đi cái chấp về Thân tương đối dễ. Còn bỏ đi cái chấp về Tâm là điều cực kỳ khó. Lý do là phải bỏ đi tất cả những kiến thức từ trước đến nay. Nguyên nhân cần phải bỏ như thế là vì đó là những phát khởi của Tâm Phân Biệt. Bao lâu còn giữ Tâm Phân Biệt thì ngay cả Lời Chúa cũng trở thành…lời phàm.

Trên bước đường TU ( Thiền Tông ) thì đây là chỗ khó khăn nhất bởi vì không còn có chốn nào để…về. Người mục đồng trong bức tranh trước  còn thấy có nhà để về còn nay cả người cũng…quên thì…nhà  còn đâu để về ? Tuy nhiên chính cái Tâm Vô Phân Biệt ấy mới là chỗ chứng ngộ của người TU.

Đức Giê Su  Ki Tô đã chứng ngộ được điều ấy: “ Ngài vốn có hình thể của ĐCT nhưng chẳng coi sự bình đẳng với ĐCT là sự cần đoạt lấy. Trái lại Ngài đã tự làm cho mình ra trống không, lấy hình thể tôi tớ giống như hình dạng loài người” ( Pl 2, 6 -7 ).

Bức Tranh Thứ Chín

Trở về Nguồn Cội

Muôn vật đều trở về chỗ cội nguồn của nó. Một khi đã ra đi thì ắt phải trở về. Trong bài thơ của thi sĩ Tản Đà có câu: “ Non xanh đã biết hay chưa. Nước đi ra bể lại mưa về nguồn. Nước non hội ngộ còn luôn. Bảo cho non nước chớ buồn làm chi ?

Đối với người đời thì ai cũng buồn vì sự ra đi nhưng với hành giả Thiền thì việc trở về ấy là lẽ tất nhiên. Mặc dầu nguồn cội đối với Thiền Tông là VÔ nhưng cái VÔ ấy không phải là ngoan không là không có gì hết nhưng là Vô Ngã tức không còn có “ Cái Tôi”.

Theo thiền sư Quách Am thì  tranh chăn trâu trước đây chỉ có tám bức đến vòng tròn khép kín tức “ Người Và Trâu Đều Quên” là hết. Thế nhưng nếu ngưng ở đây thì có người sẽ thắc mắc: Như vậy thì chẳng còn gì nữa hay sao, TU như thế để được cái gì, chẳng lẽ tất cả chỉ là Không hay sao ?

Đây chỉ là cái thắc mắc của người đời còn của người TU đã chứng ngộ thì không phải như vậy. Vì khi chưa TU chúng ta thấy núi sông là núi sông nhưng đó là cái thấy trong sự vô minh chấp trước nên thấy núi sông là thật có, cái chi cũng thật có theo tình chấp của mình. Còn khi đã chứng ngộ thì núi sông vẫn là núi sông  nhưng tất cả đều trong sáng bình dị vì không còn có bóng dáng của “ Cái Tôi” trong đó.

Không còn có “ Cái Tôi” tất cả không còn có sự phân biệt gì nữa: “ Bấy giờ muông sói sẽ ở chung với chiên con. Beo nằm chung với dê tơ. Sư tử với bò nuôi mập” ( Is 11, 6 ).

Bức Tranh Thứ Mười

Thõng Tay Vào Chợ

Hành giả khi đã chứng ngộ được cái “VÔ” thì coi như đã vào được Niết Bàn, thế nhưng Niết Bàn hay Nước Trời không phải là nơi để an nhàn hưởng thụ. Đó chỉ là trạng thái siêu việt của tâm thức  khi đã vượt khỏi “Cái Tôi” ích kỷ, tham đắm. Cuối cùng, hành giả cần có cái Tâm nhẫn nại, yêu thương  hầu cứu độ quần mê trong  mênh mông bể khổ.

Chợ ở đây là…chợ đời chứa đầy nhóc tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, ố…Cũng vì các chúng sinh tội khổ ấy mà các Đức Phật đã xuất hiện nơi đời. Đức Giê Su Ki Tô nói: “ Bởi Con người đến để cứu kẻ bị hư mất” ( Mt 18, 11 ).

Chúng ta sinh ra được làm người đó là điều vạn phúc nhưng còn có phúc lớn lao hơn đó là ở trong Hội Thánh, được làm môn đệ Chúa Ki Tô. Là môn đệ thì phải làm việc Chúa nhưng làm việc Chúa thì phải lấy lòng vâng phục, khiêm nhượng mà làm:“ Cũng vậy, khi các ngươi làm xong mọi việc đã truyền cho  thì hãy nói: Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi chỉ đã làm việc phải làm đó thôi” ( Lc 17, 10 ).

Qua Mười Bức Tranh Chăn Trâu này cho thấy Kinh Thánh nói chung và Đạo Công Giáo nói riêng chứa đựng những chân lý  tương đồng với Phật Đạo  hoàn toàn không có chi trở ngại, chỉ cần buông bỏ mọi chấp trước về ngôn từ…thật mong thay./.

Phùng  Văn  Hóa

Lên đầu trang