Một kinh nghiệm trở lại

7/6/2020 1:20:59 PM
Mình vừa mới tham dự Thánh Lễ Truyền Chức Linh Mục của Phê Rô Đoàn Đức Thăng, cháu gọi bằng cậu tại nhà thờ chánh tòa Xuân Lộc. ngồi dưới nhìn lên Gian Cung Thánh, nhác thấy có đức ông Đinh Đức Đạo, có cha Đinh Nam Hưng, quản hạt Phú Thịnh. Cả hai vị này là lớp trên, lớp dưới, còn mình thì lại thuộc…cả hai lý do chỉ tại…học dốt nên phải từ lớp cha Hưng xuống lớp đ/ô Đạo !

Tâm trạng khi ấy thật khó diễn tả, vừa nô nức trong một toàn cảnh rực rỡ cờ hoa, nhạc trống rộn ràng  lại vừa dâng lên trong lòng một niềm tri ân lặng lẽ: Vô cùng cảm tạ Ơn Chúa đã cho trở lại. Cách đây đã trên năm chục năm, chính xác là năm  1956, mình được cha bố Phê Rô Dư Tác Thiện nay đã ngót 90, hiện đang nghỉ  tại nhà hưu dưỡng Chí Hòa, lo liệu cho nhập chủng viện di cư Bùi Chu Phan Xi Cô. Nói là nhập nhưng cũng phải  qua một buổi thi, còn nhớ là diễn ra trên tầng 3 trường Nguyễn Bá Tòng vừa xây mới toanh mà sau này trở thành lớp B six…lừng danh. Đề thi lần đó còn nhớ mài mại: Hãy nói lý do tại sao lại đi tu ?

 

Chẳng biết đề bài có đúng…phóc vậy không và mình đã luận giải như thế nào nhưng quả thật mãi về sau, từ trong tâm tưởng mình vẫn khắc khoải  với mục đích sống ở đời. Xuất tu vỏn vẹn chỉ sau có 03 năm, một năm đệ thất ở Huyện Sĩ, hai năm Phước Tỉnh. Ra đời, cố nhiên là vẫn tiếp tục đi học và vẫn …cứ dốt như thường. Dẫu vậy, duy có một môn không…dốt đó là  luận văn, ngay từ năm đệ tứ trường Hưng Đạo đường Cống Quỳnh của cha Trần Đức Huynh làm hiệu trưởng mình đã mày mò dịch thơ tiếng Pháp. Học các môn Toán, Lý, Hóa thì không cách nào…vô nhưng cái món Văn  thì rất chi là mê. ở bất cứ lớp nào mình cũng được tuyên dương, có khi được thầy đọc cho cả lớp nghe…

 

Điều khiến cho có sự…mê Văn như thế, giờ đây mình nhận ra rằng  đó chính là do bởi  nỗi khát khao tìm kiếm ý nghĩa  cuộc đời. Ngay từ thuở thanh niên mình đã đọc đủ thứ,,,khó nuốt như  Hố Thẳm Tư Tưởng của Phạm Công Thiện, thơ Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền v.v…Triết luận của Hồ Hữu Tường, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Mạnh Côn….Đọc nhiều nhưng không tiêu hóa nổi và xét  cho cùng chúng cũng chẳng có gì để mà…tiêu, mà hóa !

 

Giữa năm đệ nhị trường Nguyễn Bá Tòng, buổi chiều trên đường đi học về bị trúng mưa cảm lạnh, sau vài ngày sốt bị ho ra máu, nám phổi phải nghỉ học, ở nhà chữa bệnh, hàng tuần đều đặn ghé trạm y tế Nam Hòa chích strep đến ù cả tai. Hết bệnh đi làm công chức ngạch phù động gần một năm tại Nha Công Binh ( Liên kho C Gò vấp ) rồi bị động viên khóa 10 HSQ năm 1962, hết ba tháng quân trường Quang Trung ra Vũng  Tàu học tiếp 03 tháng chuyên môn Truyền Tin  tốt nghiệp được gắn lon trung sĩ, cánh gà trắng trên vai.

 

Bị thuyên chuyển mãi ra tận Phei Ku ( QĐ II ) rồi xuống Ban me thuot ( SĐ 23 )một năm, Quảng Đức 03 năm. Trong thời gian mấy năm  ở Quảng Đức ( Thị xã Gia nghĩa ) suốt ngày dong chơi, ngày thì thơ thẩn bên suối, tối thì lai rai quán xá, làm thơ viết lách công quả cho tờ BNS Tinh Thần của Nha TUCG, cha Đinh Cao Thuấn, chủ nhiệm, cha Trần Học Hiệu chủ bút, Lý Minh Tuấn chủ biên.

 

Chắc cũng có …duyên nợ gì với  Tuấn thế nên mãi sau 1975 cả hai lại về sinh sống tại Hố Nai, gặp gỡ nhau thường xuyên. Đó là câu chuyện về sau, bây giờ trở lại với thời sự nhiễu nhương ngày đó, sau 05 năm quân dịch, giải ngũ vừa đúng một tháng lại bị gọi tái ngũ vì biến cố Tết Mậu Thân năm 68. Cầm SVL về SĐ 5 Phú Lợi gần một năm, ngày làm tạp dịch, tối dẫn một tiểu đội đi kích ngoài vòng rào sư đoàn, cuộc sống như chơi vơi giữa sống và chết.

 

Thật tình khi ấy cũng chẳng  lo gì chuyện sống chết, cả làng cả nước đều vậy , sống chết có số mà ? Rút cục chẳng chết, được ưu tiên đổi về Bộ TTM gần nhà. Mấy tháng sau  lấy vợ, đậu nốt tú tài phần hai, thi vào lớp HSQ Tùy Viên Quân Sự, biệt phái sang BNG làm việc tại sứ quán VNCH tại Phnom Pênh  cho đến ngày Lon Nol sụp đổ. Chính trong cái  khoảng thời gian gần bốn năm với công việc nhàn tản này mà mình luôn ở trong cái ranh giới giữa  sa đọa và ý thức muốn vươn mình lên. Trà đình tửu quán hết ngày này, tháng khác, chán quá lại mò tới các chùa Miên mà chùa ở đây thì nhiều vô kể, mùi hương  lãng đãng, ngột ngạt.

 

Có những buổi chiều tà, một mình ngồi trên ghế đá, lơ đễnh dõi mắt theo những con thuyền ngoài xa trên khúc sông Tông lê sáp mênh mông trước công viên hoàng cung, lòng lặng đi với nỗi buồn vô cớ, chốc chốc lại giật mình  bởi vài tiếng rao lanh lảnh mời mua mía ghim của những đứa trẻ cởi trần, da đen xám, đầu đội một cái thúng nhỏ  càng làm cho lòng thêm chĩu nặng.

 

Học tiếng Pháp với ông bạn  nhân viên địa phương của Phòng Kiều Vụ, rồi lân la tìm hiểu Thiền, Yoga. Ông ta  tu theo Thiền Minh Sát của Thái  đã lâu, tuy sống độc thân trên một căn gác nhỏ nhưng ở nơi con người trầm lặng đó mình thấy  toát ra một sức sống điềm đạm và rất dễ gần…

 

Dòng đời cứ trôi, mình vẫn như cánh lục bình  dập dình trôi trên sông nước, hay cũng có thể nói như thi sĩ Vũ Hoàng Chương: “ Lang thang từ độ luân hồi. U minh nẻo trước, xa xôi dặm về”.

 

Sống chẳng biết tại sao sống, chết cũng chẳng hiểu về đâu. Giờ đây khi đã…ngộ được phần nào cái lẽ…sống chết ấy, mình mới thấy…sợ cho cái đêm Lễ Phục Sinh năm 1972, cùng mấy người bạn chơi đi ngang qua nhà thờ chính tòa ( nay đã bị bọn Khmer đỏ  đặt mìn đánh sập ). Có một tên đòi xuống để đi lễ và có ý rủ  nhưng mình từ chối. Đến nhà hàng Paradis ( Thiên Đàng ) vừa ngồi  uống hết một tuần rượu  xem người ta ôm nhau nhảy  thì bỗng  có mấy tiếng súng chát chúa  vang lên, đèn đóm tắt phụt tối thui, bàn ghế xô đẩy rầm rầm, tiếng người la hét hoảng loạn, cả bọn hú vía lồm cồm bò ra lên xe về nhà, riêng mình chợt nghĩ  Thiên Đàng chẳng thấy đâu mà Hỏa Ngục thì cầm chắc vì cái tội…bỏ lễ trọng !!!

 

Hỏi han tin tức, phòng trực Phái Bộ QS cho biết có mấy ông SQ trẻ…nổi hứng bắn  vỡ bộ đèn chùm của quán, may mà không có ai việc gì…Cái chết luôn gây một ấn tượng sâu đậm nơi mình nhất là những cái chết thảm khốc bất ngờ.

 

Lần kia đèo thằng con trai út mười tuổi vào thăm  chùa sư Liêm ở Trảng Bom, trên đường về  vừa đến ấp Quảng Biên thì gặp một tai nạn kinh hoàng diễn  ra  ngay trước mắt. Một thằng bé cởi trần trùng trục từ trong ngõ phóng  thục mạng  qua đường, đằng sau là một người đàn bà  cầm cây roi miệng la bải hoải. Bỗng một chiếc xe tải  phóng tới cán nghiến, thằng bé nát vụn giống như người ta cầm chiếc búa ta  giáng xuống một chiếc bánh kem rồi cứ thế mà miết đi. Vết thắng lết của  các bánh xe để lại trên đường một màu hồng nhờ nhờ của thịt xương và máu. Cát bụi lại trở về với cát bụi, một thoáng nữa đây, các bánh xe  một cách rất vô tình sẽ chà đi sát lại cái vệt máu ấy, xóa nhòa đi trong cát bụi. Dẫu vậy con người đâu chỉ là cát bụi, nó còn là một cái gì  đó, cái đó là cái gì ? Câu hỏi này luôn dằn vặt và quả thực mình cũng chẳng muốn lẩn tránh và  có muốn cũng chẳng được !

 

Sau 30 tháng 4/75 bị đuổi khéo nhưng cương quyết ra khỏi Khu Cư Xá BTTM, mình đem vợ con về Hố Nai, nơi ông bà nội đã về ở cách đó mấy tháng. Được ông anh kết nghĩa cho tiền  mua 05 sào rẫy trồng mì sinh sống. Hàng ngày hai vợ chồng dậy từ mờ sáng, lo giặt dũ cơm nước, mình đi bộ ra rẫy cách nhà  chưa tới 01 CS, vai vác cuốc trên đó  toòng teng  bình nước 04 lít  cùng với chiếc điếu cày. Còn bà vợ gầy gò trước làm thư ký riêng cho đại tá William trưởng phòng nhân viên  quân lực Mỹ, phi trường TSN lo cơm nước  cho 03 đứa con, đứa lớn nhất mới  có tám tuổi rồi đạp x e ra sau.

 

Cuộc sống chẳng những  vất vả dầm mưa dãi nắng mà còn lo đói, lo cho tương lai mờ mịt, rất chi là khổ. Chẳng có tiền thuê mướn, hai vợ chồng cứ  làm sạch cỏ được đầu này thì  cỏ tranh đã phất phơ tới ngang đầu gối. Chỉ có rẫy ruộng thôi thì chẳng làm sao mà có đồng ra đồng vào chi cho mắm muối, cá khô…

 

Bà vợ vốn dĩ là dân văn phòng, thể tạng yếu đuối lại mang chứng thần kinh tọa. Một tuần hai lần mình phải đạp xe  chở bà ấy  đến CS 6  đường  vào Cây Gáo để châm cứu. Chính trong thời gian này mình đã mang duyên nợ với Thiền. Đã  quen với ông thầy châm cứu  có một danh xưng rất kêu: Châm Y Sư Lưu Được, từ lâu hồi anh ta còn là trung úy ngành truyền tin cùng đơn vị: Tiểu đoàn Truyền Tin BTTM. Anh vốn là người Công Giáo…một nửa, mẹ Công Giáo, bố Phật giáo, học trường Dòng, có rửa tội nhưng lớn lên thì không lễ lạy, nhà thờ nhà thánh gì cả. Trước khi bị động viên khóa 19 Thủ Đức  đã có học châm cứu và sau khi ra trường về BTTM  thì được phép ở luôn trong Niệm Phật Đường BTTM, ăn chay trường  chỉ chuyên việc châm cứu. Phải công nhận tướng mạo của vị…châm y sư này khá kỳ vĩ, mặt mũi phương phi, tay dài quá gối, lúc nào cũng mặc bộ quần áo mầu mỡ gà trông ra dáng một  ông…Phật sống !

 

Quanh vùng người ta đồn thổi về anh râm ran, có người còn tặng  một bức hoành phi lớn, khảm ba chữ đại tự: Đức Lưu Phương. Thầy chỉ chữa bệnh  ba buổi sáng trong tuần. Những ngày còn lại anh dùng để… tọa thiền theo pháp môn Thiền Vô Vi  của minh sư Lương Sĩ Hằng, chủ trương xuất hồn lên các cõi trên để học…đạo mầu.

 

Cũng trong khoảng thời gian này mình còn làm quen với  nhóm…tu tiên của Sáu Quán và Tư Hon, chuyên nghiên cứu về Dịch và nhịn đói uống nước lã. Có lần cùng với Lý Minh Tuấn đến gặp Tư Hon, anh ta chính cống người Tàu, trạc trên dưới năm mươi làm nghề sạc bình acquy, nghe anh diễn giảng và bàn về triết lý của sự nhịn đói. Trước khi kiếu từ ra về, chúng tôi còn nghe anh nói với theo: Tu là không có …chết, tu mà chết thì đâu có ra chi ?

 

Rất phấn khởi, cách hai tuần sau hai  chúng tôi lại đến để được nghe  cái lý phải làm cách sao để  đạt trường sinh bất tử, lần gặp này có lẽ đã bước vào…tâm giao. Lý Minh Tuấn thành thực mời ra quán lộ thiên bên đường…chén thịt chó. Anh ta có vẻ hơi ngần ngại nhưng cuối cùng tặc lưỡi nói: Tu là không có chấp, tu mà chấp là…chưa cao ? Thế rồi chỉ khoảng một năm sau, nghe tin anh  ta chết vì sơ gan cổ chướng do bị nhiễm độc chì, đúng là sinh nghề tử nghiệp !

 

Tháng ngày vẫn chầm chậm trôi qua với những vất vả lo toan đời thường. Làm rẫy trồng mì quá vất vả mà chẳng thể sống, bà vợ ra ngồi chợ bán bánh mì và mấy năm sau  thì  mua được một lô đất  làm nhà trên Chợ Mới ( Trà Cổ ). Ở lại một mình trên mảnh vườn tại Dốc Suối Đỉa, mùa nắng trồng hoa, mùa mưa bán cá giống cũng đủ sống qua ngày.

 

Trong khoảng thời gian này mình vẫn liên hệ với châm y sư Lưu Được, vừa ăn gạo lức muối mè, có khi nhịn đói cả tuần lễ để tập Thiền Vô Vi. Cho đến một đêm kia, khi đã nhịn đói tới ngày thứ chín đang quạt Pháp Luân thì bị hắt hơi sổ mũi giống như súng băn liên thanh. Tuy rất khó chịu, đầu thì nhức như có hàng ngàn mũi tên châm chích nhưng vẫn cố gắng cho đến khi không chịu nổi, quỵ xuống bên giường, lòng hoang mang lo lắng e sợ đã bị …tẩu hỏa nhập ma rồi chăng ?

 

Nhìn ra ngoài khung cửa sổ, trời đã mờ mờ sáng, cảnh vật tuy còn nhạt nhòa  nhưng cũng khiến  an tâm phần nào: Đêm sắp qua, ngày đang tới và  nữa, tiếng mưa rào  rạt trên mái lá khi ấy cho mình một  cảm giác rất lạ như được chở che, vỗ về…Chợt nhớ đến  một câu đã được đọc ở đâu đó: Thà thắp lên một ngọn đèn còn hơn là ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối. Mình mò được bao diêm đốt lên ngọn đèn và lê bước tới bên tủ sách với ý nghĩ  cầm lấy một cuốn sách bất kỳ và  lật rat rang nào, nếu còn …đọc được thì vẫn còn có cơ cứu vãn.

 

Chẳng biết động lực nào đã khiến lôi ra ra cuốn Kinh Thánh toàn bộ của Tin Lành. Cuốn này mình  nhặt được tại  đống rác đang cháy dở bên ngoài bờ tường BTTM trong Khu Gia Binh đúng buổi sáng ngày 30/4/1975. Giữa một đống nào là quân phục, giày bốt đờ sô, quân phục, lon ngù  băng đĩa đủ thứ và cuốn KT sắp bị ngọn lửa liếm tới. Lấy cuốn sách về và từ đó đến khi ấy chưa bao giờ  giở ra đọc một trang. Rất ngẫu nhiên, giở ra và đọc thấy lời này trong Tân Ước: “ Lạy Cha, con cảm tạ Cha vì Cha đã giấu những điều này cho kẻ khôn ngoan thông sáng mà bày tỏ cho con trẻ. Phải ! Cha ơi như vậy thì đẹp lòng Cha” ( Lc 10, 21 ).

 

Như chợt bừng tỉnh, vậy hóa ra từ trước tới giờ mình đã hoài công  kiếm tìm chân lý. Sự thật tối hậu chỉ có thể có được với việc…Bỏ Mình, bao lâu còn thấy… có mình thì chân lý không bao giờ tỏ lộ, nó giống như mặt trời bị mây đen che lấp. Nhịn đói, tầm nghiên sách nọ, vở kia chỉ khiến cho Sự Thật ở nơi mình bị che lấp chẳng ích lợi chi cả.

 

Bỏ Mình theo Chúa đó là cái quyết định tức thời khi ấy cùng với một động tác thiết thực là quỳ ngay  xuống với lòng ăn năn, sám hối tội lỗi mình bấy lâu. Tuy không có nước mắt rơi nhưng đây quả thật là sự trở về chớp nhoáng. Mặc dầu đầu vẫn còn nhức râm ran  nhưng tâm hồn đầy phấn khích. Nhóm bếp bỏ nắm gạo vào nồi nấu cháo lấy nước húp.

 

Rất nhanh, mình  có quyết định chờ trời sáng rõ sẽ lên trình cha xứ xin xưng tội. Cha xứ Nghi gx Tân Bình là bạn đồng khóa với cha bố Thiện và trước khi về đây mình đã có xin giấy giới thiệu. Húp hết tô nước cháo, mình khoác áo mưa ( Trời còn đang mưa bão ) lên gõ cửa phòng, cha hỏi ai đó  và mở cửa mời vào. Thưa cha con muốn xưng tội, cha tưởng mình…ấm đầu, chạm thần kinh gì đó nhưng khi thấy tính cách khẩn trương của mình cha  chỉ ghế sa lông bảo cứ ngồi đó mà xưng đi. Mình không chịu, bèn quỳ xuống trước mặt cha, giống như người con hoang đàng  trở về thưa: Con đã mắc tội với trời và với cha, không xứng là con cha nữa….

 

Kể từ đây, cuộc đời thật sự đã sang trang mới và trong suốt bao năm qua  không khi nào mình có sự nghi ngờ  về tính chất chân thật của sự trở về ấy. Tất cả là hồng ân, ngay cả những ngày còn lang bạt trên  những nẻo đường tăm tối, Đấng Cha nhân lành có khi nào  dù chỉ trong phút giây rời mắt khỏi đứa con tội nghiệp  là mình ! Không một ai  Chúa lại không đoái nhìn, thế nhưng có được sự trở về ấy lại là chuyện khác.

 

Với mình thì đây là bàn tay của Mẹ Maria, Mẹ đã từng bước, từng bước như bà Rebecca sửa soạn cho Gia Cop được nhận lãnh sự chúc phúc của cha già Isaac. Cảm nhận tức thì được ân ban của Mẹ, thế nên sau khi xưng tội về, lòng sạch bong, mình hứa với Mẹ  sẽ lần hạt Mân Côi để trả ơn Mẹ cho đến khi được về trời. Thế nhưng có trở ngại..nho nhỏ là không thuộc bất cứ một ngắm nào, phải sang nhà ông  bạn  vong niên bên cạnh nhà là ông trùm Nam mượn cuốn sách Kinh  về lẩm nhẩm học mấy ngày mới thuộc.

 

Sự sắp đặt của Mẹ tưởng chừng như ngẫu nhiên nhưng  quả thật đó là sự diệu kỳ, mình gặp lại đại úy Lợi trước cùng ở Khu  Gia Binh, anh Lợi trước đây là TTV của Senatus Sài Gòn. Sau buổi hàn huyên tâm sự anh đưa cho cuốn Thủ Bản Legio bảo  cầm về mà đọc, hay lắm. Về nhà lật thử vài trang và đọc được đoạn này: “ Theo ý legio, sự trọn lành của HV không dựa vào chỗ tự mãn vì những kết quả thực sự hay bề ngoài nhưng chỉ căn cứ vào  lòng trung thành từng nét với phương pháp Legio. Hội viên chỉ xứng đáng với danh xưng  khi họ biết tuân phục quy chế” ( TB chương 11 câu 142 ).

 

Con đường trọn lành, nên Thánh không ngờ lại dễ dàng đến  vậy, chỉ cần tuân giữ  quy chế và thực hành đúng phương pháp là có kết quả, chẳng cần chi đến suy tư tìm kiếm những lẽ cao xa làm gì ?. Càng hoạt động Legio, trung thành từng nét với Thủ Bản, người ta càng thấy sự chắc thật của nó bấy nhiêu vừa …dễ lại vừa chắc chắn bỏ được mình.

 

Được ơn trở lại, mình vẫn tiếp tục nghiên cứu Thiền và đây là Pháp Môn Thiền Tịnh Độ với những tác phẩm quan trọng của đại sư Ấn Quang, Tuyên Hóa, Quảng Khâm, Thích Thiền Tâm, HT Thích Trí Tịnh v.v…Mình say mê tìm hiểu Tịnh Độ Chân Tông của đại sư Pháp Nhiên và thấy rằng pháp môn Trì Danh Niệm Phật  rất ám hợp với Kinh Mân Côi ở chỗ là cứ lập đi lập lại Thánh Danh Giê Su và  Mẹ Maria.

 

Trong một khoảng thời gian khá dài, mình thực hành Kinh Mân Côi cả ba thời sáng, trưa, và  ban tối trước khi ngủ nhưng về sau vì quá bận cũng vì đã đi sâu vào Định nên mình chỉ lần một chuỗi vào lúc 12 giờ đêm thôi. Mỗi thời như thế lần đủ cả ba chuỗi trong chánh niệm. Mỗi năm hai lần nhập thất tại chùa Sư Liêm ( Đà La Ni ) chuyên việc lần chuỗi Mân Côi. Ngoài ra mình sống đích thực là một tín hữu ngoan đạo, tham dự Thánh Lễ hàng ngày, hoạt động hội đoàn cách tích cực, lòng  tôn sùng Thánh Thể, Đức Mẹ ngày càng tăng trưởng…

 

Con đường phía trước còn dài, chắc hẳn cũng chẳng ít chông gai, vấp phạm nhưng mình vững tâm vì có Mẹ. Lẽ nào Mẹ lại nỡ lòng bỏ rơi đứa con  Mẹ đã chăm bẵm từ thuở còn chưa lọt lòng ? Càng cậy trông nơi Mẹ, mình càng quý trọng biết bao Ơn Trở Lại này. Ước chi con không sa ngã để buồn lòng Mẹ. Nhưng nếu có trót ngã sa,  xin Mẹ đỡ nâng con ngay. Lạy Mẹ yêu dấu, con yêu Mẹ biết bao./.

 

Phùng  Văn  Hóa

Bài này đã viết cách đây hơn mười năm, vì thế có  vài chi  chi tiết không còn phù hợp ….

Lên đầu trang