Mầu nhiệm Phục Sinh

4/27/2021 10:32:06 AM
Thánh Phaolo quả quyết với tín hữu Roma rằng: “Nếu Chúa Giêsu chết mà không sống lại thì lòng tin của anh em là hão huyền và anh em vẫn sống trong tội lỗi của mình”.

resurrection-christ-santi-di-tito-basilica-santa-croce-basilica-holy-cross-florence-resurrection-christ.jpg

Chúng ta tin vào Chúa Giêsu đã chịu đóng đinh, chịu chết và sống lại để cứu chuộc nhân loại. Người đã hoàn thành ý của Chúa Cha bằng cái chết trên thập giá; để rồi chưa đủ ba ngày Người ra khỏi mồ, phục sinh vinh hiển và hiện ra tại nhiều nơi, nhiều lần với nhiều người bằng xương, bằng thịt như họ đã thấy Người khi Người còn sống giữa họ. Làm nên một màu nhiệm quan trọng của đức tin mà các Tông đồ là những người đầu tiên đón nhận biến cố phục sinh của Chúa Giêsu và Mầu Nhiệm Phục Sinh trở nên mầu nhiệm trung tâm của Hội Thánh Công Giáo. Hội Thánh loan báo và làm chứng về Mầu Nhiệm Phục Sinh. Nhờ vậy, Mầu Nhiệm Phục Sinh mang một giá trị cao cả trong đời sống người Kitô hữu.

 

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, Chúa Giêsu đã phục sinh và vinh hiển đi ra khỏi mồ trước sự kinh ngạc của các lính canh mồ. Làm cho các Thượng tế và Kỳ lão phản ứng lúng túng và vô tình những người này đã là những chứng nhân sớm của biến cố Chúa Giêsu phục sinh. Cấp trên muốn che đậy sự thật nên cho họ tiền để họ đi phao tin là đang đêm ngủ, các môn đệ Chúa Giêsu đến lấy trộm xác Chúa Giêsu. Họ là những người chống đối, bắt giết Chúa Giêsu nên lời họ nói là bằng chứng xác thật rằng: Chúa Giêsu sống lại thật. Tảng sáng, vừa hết ngày Sabbat, các bà Maria vội vã ra thăm mồ Chúa Giêsu. Bốn Phúc Âm ghi nhận, chứng của các bà. Khi tới mồ, các bà ngạc nhiên thấy phiến đá che mồ đã được ai vần ra và mồ chôn Chúa Giêsu trống rỗng. Xác Chúa Giêsu không còn ở đây nữa. Ngay lúc đó, Thiên Thần trấn an các bà: “Giêsu Nagiaret đã sống lại rồi!” Các bà mừng vui nhưng vẫn hồi hộp chạy về báo cho các Môn đệ của Chúa Giêsu. Phêrô và Gioan vội chạy ra mồ, đã thấy và đã tin. Chúa Giêsu sống lại thì không còn chết nữa và không còn lệ thuộc vào không gian và thời gian. Còn Lazaro hay đứa con của bà góa thành Naim được Chúa Giêsu cho sống lại nhưng lại phải chết. Phục sinh là một mầu nhiệm siêu vượt, Thiên Chúa không làm trước mắt con người, nhưng qua sự kiện mồ trống cũng là một bằng chứng Chúa Giêsu sống lại. Chúng ta còn có những bằng chứng xác thực là Chúa Giêsu hiện ra, các chứng nhân và dấu vết để lại.

 

Qua lời thú của lính canh mồ và nhiều hoạt động công khai của Chúa Giêsu sau phục sinh trong suốt bốn mươi ngày sống lại, sách Kinh Thánh khẳng định Chúa Giêsu phục sinh và hiện ra nhiều lần với các phụ nữ và Tông đồ. Tuy các sách Kinh Thánh không kể những lần hiện ra với Thánh Mẫu Maria, nhưng chúng ta dám nghĩ rằng Ngài hiện ra trước hết với thân mẫu Ngài. Ngay trong ngày sống lại, Chúa Giêsu hiện ra: năm lần với Maria Madalena, bà tưởng người giữ vườn; với nhiều bà khác; Phêrô; hai mộn đê Emmaus; 11 tông đồ đang trốn trong phòng đóng kín cửa vì sợ người Do Thái, thiếu Toma. Thánh Gioan còn kể thêm là Chúa Giêsu lập Bí tích Giải tội và trấn tĩnh các ông là Người có xương thịt hẳn hoi chứ không phải ma quái. Người hiện ra với các Tông đồ có cả Toma và trách ông chậm tin. Người cho phép Toma xỏ ngón tay vào lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn Người và bảo ông đừng cứng lòng tin. Với các Tông đồ trên biển hồ Tiberia và trao quyền thủ lãnh cho Phêrô. Với các Tông đồ trên núi xứ Galilea. Với 500 tín hữu. Với Giacobe hậu. Trước khi thăng thiên và sau cùng với Phaolo trên đường Damas. Chúa Giêsu sống lại và hiện ra và chúng tôi làm chứng. Qua những lần hiện ra, chứng tỏ Người là Thiên Chúa làm người đã sống lại từ cõi chết và cũng là để củng cố niềm tin cho các Tông đồ.

 

Trước biến cố phục sinh của Chúa Giêsu, hầu hết các Tông đồ lúc đầu đều không tin điều này có thể xảy ra. Họ sợ sệt nên chẳng thèm tin lời các bà từ mồ về báo đã thấy Thiên Thần nói Chúa Giêsu đã sống lại. Họ trở nên cứng lòng tin và hèn nhát như thánh Toma khi nghe các Tông đồ thuật lại thì không tin. Hai môn đệ Emmaus, đi bên Chúa Giêsu mà không nhận ra Thầy, qua dấu hiệu và cử chỉ các Môn đệ nhận ra và tin. Hai ông quay lại báo cho các Tông đồ mình đã thấy Chúa Giêsu, họ cũng không tin. Họ chẳng hiểu lời Kinh Thánh đã báo trước Chúa Giêsu phải phục sinh. Khi Chúa Giêsu hiện ra, họ can đảm làm chứng Chúa Giêsu phục sinh, không hoài nghi không sợ sệt trước Hội đồng cộng tọa, không lùi bước trước đau khổ và cái chết nhưng cải hóa đột ngột này là chứng tích hùng hồn việc Chúa Giêsu phục sinh. Chúa Giêsu phục sinh khơi dạy đức tin cho các Tông đồ. Các ngài quả quyết nếu Chúa Giêsu không phục sinh thì không rao giảng. Các ông không những tin mà còn can đảm đi khắp nơi để loan báo Chúa Giêsu phục sinh. Các ngài đã chấp nhận tù đày và can đảm hy sinh mạng sống mình để làm chứng cho Chúa Giêsu phục sinh để xây dựng Hội Thánh Chúa ở trần gian này.

 

Hội Thánh vừa là thân thể mầu nhiệm, vừa là hiền thê của Chúa Giêsu phục sinh. Cả hai liên kết với nhau trong Chúa Giêsu. Nhờ Mầu Nhiệm Chúa Giêsu phục sinh, Hội Thánh, các chi thể được tham dự vào đời sống của Chúa Giêsu và được cứu rỗi. Mầu nhiệm phục sinh có tầm quan trọng trong đức tin của Hội Thánh, là trung tâm của các mầu nhiệm, là tâm điểm đời sống đức tin của Hội Thánh, là trung tâm điểm của Tin mừng cứu độ. Chúa Giêsu tuôn đổ nguồn ơn thánh xuống trên Hội Thánh qua Mầu nhiệm phục sinh. Mầu nhiệm phục sinh còn có ý nghĩa quan trọng khác đó là hoàn tất công trình cứu chuộc của Chúa Cha đối với Hội Thánh và mầu  nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu cũng mang ý nghĩa hoàn tất hiến tế dâng lên Chúa Cha và mang hiệu quả ơn cứu chuộc cho con người. Từ đó, Hội Thánh phát sinh từ ơn cứu độ bởi sự chết và sống lại của Chúa Giêsu. Hội Thánh phải cử hành và loan báo Chúa Giêsu phục sinh, Đấng chiến thắng tội lỗi và sự chết để đem ơn cứu độ cho chúng ta.

 

Hội Thánh cử hành Mầu nhiệm phục sinh trong thánh lễ, nghi lễ, trong Bí tích rửa tội và trong đời sống của Hội Thánh. Khi cử hành phụng vụ Thánh thể là tái diễn lại mầu nhiệm phục sinh, diễn tả sự chết và phục sinh của Chúa Giêsu. Nhưng đây không phải là diễn tả lại một sự kiện trong qua khứ mà vẫn còn sống động, có nhập thể, có chết và có đổ máu thật. Qua Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu nhập thể vào hình bánh, hình rượu làm hy tế và chính Người dâng lên Chúa Cha. Qua Bí tích Rửa Tội, chúng ta được dìm xuống tức là cùng chết với Chúa Giêsu, cùng được mai táng với Chúa Giêsu và khi đưa ra khỏi nước, chúng ta được sống lại với Người. Qua phép rửa, chúng ta được kết nạp vào Hội Thánh, hiệp thành một chi thể trong nhiệm thể Chúa Giêsu. Khi chúng ta bảo vệ đức tin vào Chúa Giêsu phục sinh và tử vì đạo là chúng ta được tham dự vào đời sống phục sinh của Chúa Giêsu và được cứu rỗi. Có ba loại tử đạo mà được coi như là một thập giá cho con người tức là: tử đạo trắng, tử đạo xanh và tử đạo đỏ.

-          Tử đạo trắng là sự từ bỏ mọi thứ của con người vì lòng yêu mến Chúa, mặc dù họ chịu sự ăn chay khắc khổ và đe dọa lao động.

-          Tử đạo xanh bằng cách ăn chay và lao động, các vị giải thoát chính mình khỏi ước muốn xấu xa; hay chịu đựng cực nhọc trong sự ăn năn sám hối và đền tội.

-          Tử đạo đỏ là chịu chết vì thập giá hay vì danh Chúa Kitô, như đã xảy ra với các tông đồ hay các thánh trong sự bắt bớ, bách hại của những kẻ xấu xa và nguy hiểm và trong lúc các ngài rao giảng dạy luật Chúa.

Tất cả gọi là cuộc tử nạn và phục sinh trong Chúa Giêsu. Hội Thánh cử hành không những để tưởng nhớ biến cố tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu mà còn tiếp nối cuộc tử nạn ấy nhằm sinh hiệu quả của ơn cứu chuộc cho con cái Thiên Chúa trong Hội Thánh.

 

Hội Thánh có trách nhiệm loan báo Mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu cho muôn dân: Đấng từ trong kẻ chết mà sống lại, Đấng chiến thắng tội lỗi và sự chết, Đấng đã hứa cho những ai tin vào Người thì được phục sinh với Người. Hội Thánh loan báo Mầu nhiệm phục sinh để quy tụ tất cả con cái Thiên Chúa khắp nơi thành một đoàn chiên và để nối tiếp cuộc tử nạn của Chúa Giêsu phục sinh. Hội Thánh loan báo một Thiên Chúa làm người đã chết và sống lại, để lấy lại ơn làm con Thiên Chúa cho chúng ta. Hội Thánh có trách nhiệm loan báo Mầu nhiệm phục sinh vì theo lệnh truyển của Chúa Giêsu “các con hãy đi rao giảng cho muôn dân làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa con và Chúa Thánh Thần: để “ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu rỗi”. Qua Mầu nhiệm phục sinh, Chúa Giêsu đã giải phóng chúng ta khỏi tội lỗi. Nhờ cuộc phục sinh của Chúa Giêsu mở lối cho chúng ta vào đời sống mới. Tin như vậy, các thánh Tông đồ đã đi khắp nơi để loan báo cho muôn dân biết và để họ tin mà hưởng ơn cứu độ và các ngài dám dùng mạng sống mình để làm chứng cho lời mình loan báo.

 

Mầu nhiệm phục sinh có ý nghĩa quan trọng trong đời sống người Kitô: sinh ta lại làm con Thiên Chúa, bảo đảm lời hứa cho thân xác ta ngày sau được sống lại, đền mọi khía cạnh của tội lỗi mà tội nguyên tổ đã xúc phạm đến Chúa Cha, ban nguồn ơn thánh nuôi dưỡng các Kitô hữu. Vì vậy, người Kitô hữu sống làm chứng và loan báo Mầu nhiệm phục sinh cho mọi người. Thánh Phaolô là một nhân chứng rất quan trọng cho Chúa Giêsu phục sinh vì ngài rất hăng say bắt bớ những ai tin vào Chúa Giêsu phục sinh. Nhưng sau khi được Chúa Giêsu hiện ra trên đường Damas thì ngài hăng say rao giảng Tin Mừng phục sinh của Chúa Giêsu. Và quả quyết nếu Chúa Giêsu không sống lại thì tôi rao giảng là phí công và cả đức tin của anh em cũng trở thành vô ích và cuộc sống của chúng ta khổ hơn mọi người. Mầu nhiệm phục sinh còn mang lại vinh quang trong tâm hồn kẻ tin.

 

Mầu nhiệm phục sinh có giá trị quan trọng đối với người Kitô hữu: được tái sinh làm người mới, được thánh hóa làm con Thiên Chúa, được gọi Thiên Chúa là Cha, được thông phần vào bản tính Thiên Chúa, liên kết với nhau làm một nhiệm thể trong Chúa Giêsu. Nhờ Mầu nhiệm phục sinh mà người Kitô hữu được phục hồi hết tất cả các ơn làm con Thiên Chúa mà Adam đã đánh mất và cho bất kể ai muốn hưởng ơn cứu độ phục sinh. Ai cậy trông vào Chúa Giêsu phục sinh thì đều được tha tội và được hưởng phúc vĩnh cửu trường sinh. Nhờ cái chết của Chúa Giêsu, ta được hòa giải với Chúa Cha và nhờ sự sống phục sinh của Chúa Giêsu, ta sẽ được cứu rỗi. Người cũng vô hiệu hóa quyền lực tữ thần đối với loài người đã được Người cứu chuộc và đảm bảo thân xác những ai tin vào Người cũng được liên kết với Người trong cùng một cái chết giống như Người để được phục sinh với Người. Nhờ Người mà chúng ta được nên công chính và sau này thân xác chúng ta được phục sinh. Mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu là nguyên lý sự phục sinh của chúng ta trong ngày sau hết. Thánh Kinh kể cho chúng ta biết Chúa Giêsu sống lại qua những dấu chứng mồ trống, những lần Chúa Giêsu hiện ra và đời sống của Hội Thánh: các Tông đồ, và các Kitô hữu là những bằng chứng xác thực và hùng hồn. Cuộc phục sinh của Chúa Giêsu là hoàn tất Mầu nhiệm nhập thể và cứu độ nhân loại. Người sống lại để vâng phục hoàn toàn ý Chúa Cha. Vì vậy trách nhiệm của Hội Thánh là phải rao giảng và cử hành Mầu nhiệm phục sinh để qui tụ con cái Thiên Chúa khắp nơi vể sống trong ơn cứu độ của Thiên Chúa. Các Kitô hữu đã được đón nhận hồng phúc từ nơi Chúa Giêsu phục sinh thì cũng phải làm cho vinh quang của Đấng phục sinh được chiếu sáng tới những ai chưa biết, để tất cả chúng ta cùng được phục sinh thân xác mình như chính Chúa Giêsu là người thật đã phục sinh. Mầu nhiệm phục sinh đã giải phóng chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết, đồng thời đem đến cho ta một đời sống mới trong Chúa Giêsu phục sinh.

 

Thiên Ân

Lên đầu trang