Maria Đồng Công Cứu Chuộc

9/15/2012 9:04:37 AM
Thứ Bảy sau Chúa Nhật XXIII Thường Niên - Lễ MẸ SẦU BI

theotokos.jpg 

Lời Chúa: Ga 19, 25-27
25Khi ấy, đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la.26 Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng: "Thưa Bà, đây là con của Bà."27 Rồi Người nói với môn đệ: "Đây là mẹ của anh." Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.

Suy niệm

Công Đồng Vat.II không dùng danh hiệu Đức Maria là “Đồng Công Cứu Chuộc”, vì không muốn tranh cãi với anh em Tin Lành, dù Đức Giáo hoàng Piô XI đã tuyên xưng Đức Maria là “Đấng Đồng Công Cứu Chuộc” vào ngày 28 tháng 04 năm 1935. Sở dĩ Đức Maria được danh hiệu trên, vì Eva được sinh ra bởi Adam, nên phải chịu trách nhiệm về tội bất tùng phục Lời Chúa do Eva gây ra ; thì Đức Giêsu được sinh ra bởi Đức Maria, nên được chia phần đau khổ và vinh quang với Con của Mẹ là Adam cuối cùng : đã vâng lời Chúa Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết nhục trên thập giá, để rồi sống lại trong vinh quang (x Pl 2,6-11).

Mặc dù Đức Giêsu đã chiến thắng mọi sự dữ, đánh gục thần chết, nhưng Ngài đến với các môn đệ trên Thân Thể còn mang thương tích (x Ga 20,27). Đó là dấu chỉ những người được Chúa cứu độ là các chi thể trong Thân Mình Mầu Nhiệm Ngài còn phải đổ máu. Thánh Phaolô nhận ra vết tử thương ấy là lời mời gọi các Kitô hữu phải chấp nhận gian khổ khi phục vụ Tin Mừng để bù vào những gì còn thiếu sót trong cuộc Tử Nạn của Đức Giêsu vì Thân Mình Ngài là Hội Thánh (x Cl 1,24). Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa cũng là Mẹ Hội Thánh đứng đầu trong việc cộng tác này. Bởi vì Mẹphải trả giá tiếng Xin Vâng trong ngày Truyền Tin không chỉ trên môi miệng, mà thể hiện trong suốt cuộc đời của Mẹ đi trong u tối của niềm tin, gặp đầy chông gai đau khổ. Hội Thánh quen gọi là Bảy Sự Đau Đớn của Đức Maria. Con số bảy ở đây không phải là con số toán học, nhưng là số biểu tượng về sự phong phú bất tận và hoàn hảo. Truyền thống trong Hội Thánh thường nhìn nhận Bảy Sự Đau Đớn của Đức Maria đó là :

1/ Ông Giuse định tâm bỏ Đức Maria.


Sau ngày Truyền Tin, ông Giuse chồng Đức Maria biết bạn mình có thai làm ông hoảng sợ. Sợ vì biết bạn mình công chính mà lại tố cáo nơi pháp luật? Bạn mình mang thai Con Thiên Chúa mà lại không được trao phó cho ông sứ mệnh làm cha nuôi Đấng Cứu Thế, làm sao ông dám nhận ? Bởi đó sự lo âu của ông Giuse cũng chính là sự đau khổ nơi Đức Maria (x Mt 1,19).


2/ Ngày Mẹ sinh Con không nơi nương nhờ.


Vì theo lệnh của hoàng đế Augusto, ông Giuse và Đức Maria phải trở vềBethlem khai hộ khẩu, thời điểm này Đức Maria đến ngày lâm bồn, cả hai ông bà đi tìm nơi sinh Con Thiên Chúa, nhưng vào thành gõ cửa xin ngụ nhờ, đều bị chối từ “không có chỗ cho ông bà” (Lc 2,7).


3/ Con Đức Maria bị vua Hêrôđê lùng giết.


Đức Maria vừa mới sinh Con, thì nghe một hung tin từ thiên thần đến báo mộng“phải đưa Con trẻ trốn qua Ai Cập, nếu không nhanh chân sẽ bị Hêrôđê giết Hài Nhi”. Thế là hai ông bà trong đêm khuya vắng lặng ầm thầm bồng Con chạy trốn! (x Mt 2,13t)

4/ Lưỡi gươm thiêng đâm vào tim Đức Maria.

Ngày Đức Maria dâng Con vào Đền Thờ, Mẹ đã nghe ông Simêon nói tiên tri : “Trẻ này làm cho nhiều người chỗi dậy,đồng thời nhiều kẻ bị bổ nhào, và một lưỡi gươm sẽ đâm vào lòng Bà” (Lc 2,34-35). Đức Maria nghe lời ấy, ba mươi ba năm suy đi nghĩ lại thấy đau đớn trong lòng. Quả thật ngày Thứ Sáu Tuần Thánh lời ông Simêon tiên báo đã ứng nghiệm : Mẹ đứng dưới chân thập giá nhìn Con đã chết, thế mà tên lính Roma không buông tha, chúng dùng gươm ngoáy nát tim Con, lúc ấy Đức Giêsu không biết đau vì đã chết, nhưng lòng Mẹ vô cùng tan nát ! (x Ga 19,33-37).


5/ Đức Maria lạc mất Con!


Đức Giêsu theo cha mẹ lên Đền Thờ Giêrusalem, sau buổi lễ Ngài trốn cha mẹ ở lại để sinh hoạt giáo lý với các bậc tấn sĩ. Cha mẹ Ngài ba ngày vất vả lo lắng đi tìm Con, dò hỏi khắp nơi nhưng không thấy, cuối cùng hai ông bà trở lại Đền Thờ mới tìm thấy Con. Đức Maria trách nhẹ Con : “Tại sao Con ở đây làm cho cha mẹ phải đau khổ đi tìm”. Đức Giêsu không xin lỗi lại thản nhiên thưa : “Tại sao cha mẹ lại tìm Con, cha mẹ không biết rằng Con hằng ở trong Nhà Cha Con sao?” Câu nói ấy làm Đức Maria suy đi nghĩ lại trong lòng (x Lc 2,41t).


6/ Thiên Chúa tráo đổi Con thật của Mẹ.

Xưa kia hai phụ nữ nằm chung giường với con của mình, một bà đã đè chết con rồi tráo đứa chết cho bà bên cạnh! Khi bà kia thức dậy biết xác đứa bé không phải là con mình, thế là hai bà cãi nhau, dành đứa sống là con mình! Vua Salômôn phân xử cho hai bà, ông nói : “Mỗi bà cầm một chân em bé, ta chẻ đôi mỗi bà một nửa”, người mẹ thương con, nên nhường con cho bà kia.Vua Salômôn thấy vậy liền lên tiếng xác nhận: “Bà nhường em bé đích thực là mẹ nó (x 1V 3,16-28).

Trong ngày Truyền Tin, Thiên Chúa hứa ban cho Đức Maria sinh Con Đấng Tối Cao (x Lc 1,32), thế mà ba mươi ba năm sau, ở đồi Sọ, Đức Giêsu lại nói “Gioan mới là con Bà ”(x Ga 19,25-27 : Tin Mừng). Như vậy vua Salômôn đã phân xử công bằng, không để chuyện tráo đổi con xảy ra. Thế mà Thiên Chúa lại tráo đổi “Con Đấng Tối Cao”là Con thật của Mẹ để nhận lại một phàm nhân yếu đuối là Gioan !?

7/ Vì tham tiền loài người tiếp tục chôn Con Mẹ đã Phục Sinh.


Lý do Con Đức Maria bị nộp cho kẻ ác chỉ vì Giuđa người môn đệ của Đức Giêsu tham 30 đồng bạc (x Mt 26,15). Nhưng chỉ ba ngày sau, Con Mẹ từ cõi chết sống lại là nguyên nhân làm cho mọi người thoát tay tử thần, để được sống dồi dào hạnh phúc như Thiên Chúa. Thế mà dân Chúa chọn lại nghe các chú lính tham tiền, đã nhận đút lót của các vị kỳ mục Do Thái nên phao tin đồn nhảm : “Chúng tôi có nhiệm vụ canh gác mộ ông Giê-su, khi chúng tôi ngủ, môn đệ của ông đến trộm xác đưa đi mất!” (x Mt 28,11-15). Như thế là họ làm vô hiệu hóa công ơn cứu chuộc của cả hai Mẹ-Con!


Sở dĩ Đức Maria đã cộng tác với Con, chia sẻ nỗi đau khổ trong sứ mệnh cứu đời, là vì cả đến Đức Giêsu từ lúc bắt đầu đi phục vụ cho đến chết, đã cần có Mẹ cộng tác (x Ga 2,1-11 ; 19,25t). Nghĩa là cả hai Mẹ -Con phải thể hiện đức vâng phục ý Chúa Cha, chấp nhận gian khổ để cứu loài người, như tác giả thư Do Thái viết : “Dầu là Con Thiên Chúa, Ngài cũng phải trải qua đau khổ dãi dầu mà học cho biết vâng phục. Và một khi thành toàn, Ngài nên nguyên nhân cứu rỗi đời đời cho tất cảnhững ai vâng phục Người” (Dt 5,8-9 : Bài đọc).

Suốt cuộc đời nghiệt ngã của Đức Maria chịu bao nỗi đau khổ, xem ra Thiên Chúa đã nói dối Mẹ. Lời than trách của bà Lớn thành Shunem nói với ngôn sứ Êlysê khi con bà chết : “Tôi đã chẳng nói với ông rằng : xin đừng đánh lừa tôi đó hay sao” (2V 4,28), chắc chắn sẽ dội vào tâm hồn Mẹ Maria, vì trong ngày Truyền Tin, Mẹ được nghe Chúa hứa ban phúc lành :

- Bà đầy ân sủng (x Lc 1,28).


- Người sẽ nên cao cả và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua David tổ tiên Người. (Lc 1,32).

- Người sẽ trị vì nhà Giacob đến muôn đời và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận (Lc 1,33).

- Bà là người có phúc hơn mọi người phụ nữ (x Lc 1,42).


Vì thế, Đức Maria cất tiếng ngợi khen Chúa : “Muôn đời khen tôi có phúc” (x Lc 1,48b).

Thế mà trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, những ơn phúc trên trở thành “thung lũng đầy nước mắt” (kinh Lạy Nữ Vương). Dù Thiên Chúa trắc nghiệm tiếng xin vâng của Mẹ qua sóng thần đau khổ ập đến, nhưng đã không quật ngã được Đức Maria. Trái lại Mẹvẫn ĐỨNG dưới chân Thập Giá như một dũng tướng đứng chỉ huy trận chiến giữa thiện-ác, và tin tưởng thiện phải thắng ác ; Mẹ đứng giữ bánh lái con thuyền Giáo Hội lúc gặp phong ba bão tố Đức Tin kinh hoàng nhất. Xưa kia, Chúa dạy ông Noe rất chi tiết về việc đóng tầu, thế mà phần quan trọng nhất của tầu là bánh lái không thấy Chúa bảo làm (x St 6-8). Bởi vì tầu Noe đó chính là Hội Thánh, bánh lái là Đức Maria sau này Chúa mới lắp vào con tầu!

Vậy lạy Mẹ Maria, xin cho chúng con được bú sữa Đức Tin của Mẹ, chúng con đang gặp thử thách gian nan, vì Mẹ là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc loài người với Con Mẹ, đúng như lời tuyên xưng của Hội Thánh : “Vinh phúc thay Đức Trinh Nữ Maria, Đấng không phải chết mà được lãnh cành thiên tuế Tử Đạo gần bên thập giá Chúa”(Tung Hô Tin Mừng), xin Mẹ cầu cùng Chúa “lấy tình thương mà cứu độ chúng con” (Tv 31/30,17b : Đáp ca).

THUỘC LÒNG

Dầu là Con Thiên Chúa, Ngài cũng phải trải qua đau khổ dãi dầu mà học cho biết vâng phục. Và một khi thành toàn, Ngài nên nguyên nhân cứu rỗi đời đời cho tất cả những ai vâng phục Người (Dt 5,8-9).


Linh mục GIUSE ĐINH QUANG THỊNH

Lên đầu trang