Liệu “câu chuyện” sáng tạo trong Sách Sáng thế là giống như thuyết sáng tạo không?

11/3/2013 3:59:08 PM
Giải đáp thắc mắc Cựu Ước của Lm Roland E. Murphy, O. Carm. (Dòng Cát Minh).

Đáp: Không, hoàn toàn không. Trước tiên chúng ta hãy xem xét cách mô tả việc sáng tạo trong St 1. Đó thực sự là một chương gây ấn tượng, được gán cho truyền thống tư tế. Có một sự tuyệt diệu thật sự trong cách thức lời nói và việc làm phối hợp với nhau. Chúa phán và việc gì đó xảy ra ngay. Rồi đến lời phán quyết “thế là tốt đẹp” đi theo sau. Cần lưu ý rằng St 1 có thể diễn dịch trong nhiều cách. Sự biểu hiệu thời gian đi theo cách hiểu của sách Bảy Mươi, “Lúc khởi đầu…”. Nhưng cũng có thể biểu hiện cách khác như các phiên bản hiện đại làm “Khi Chúa bắt đầu tạo thành…trái đất liền có…”. Điều đi tiếp theo được mô tả tùy theo sự hiểu biết thế giới, như tác giả (và độc giả) hiểu nó phải xảy ra vào lúc ấy. Không trung xanh trải dài từ chân trời này đến chân trời kia được đặt ra để phân chia nước ở trên (nơi Chúa trú ngụ cùng với triều thần thiên quốc của Ngài) và  nước bên dưới. Công việc phân chia các loài đã bắt đầu, và có sự lặp đi lặp lại của lời phán quyết “thế là tốt đẹp”. Hơn nữa, nó đi sau chuỗi sự việc của ngày thứ nhất, ngày thứ hai, ngày thứ ba…Tất cả được mô tả như một công việc không cần cố gắng của Thiên Chúa, vì Ngài chỉ phán, mà các việc diễn ra ngay. Sau ba ngày đầu tiên (và mỗi ngày hình như được hiểu như là diễn ra cho cảm nghiệm của con người, với một buổi chiều và một buổi sáng), việc trổ sinh hoa trái của các thảo mộc đã bắt đầu – đây là một sự sắp xếp nhân tạo, vốn đã được ghi nhận từ lâu, chẳng hạn nơi thánh Tôma Aquinas. Mọi sự tiếp diễn cho đến khi Chúa đi đến một đỉnh điểm (St 1, 26), khi Ngài tham khảo ý kiến của triều thần thiên quốc, “các con cái của Chúa”, các vị chúc tụng và phục vụ Ngài (xem Tv 29; Is 6): “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta” – hình ảnh chúng ta, đó là giống như Chúa: “Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ”. Con người được sáng tạo theo hình ảnh của Chúa, nghĩa là, con người phần nào chia sẻ trong sự bá chủ của Chúa trên mọi loài, và con người được chúc phúc với “việc sinh sôi nảy nở thật nhiều” (1, 28). Toàn thể việc tạo thành được tuyên bố là tốt đẹp, và Chúa nghỉ ngơi ngày thứ bảy, ngày sabbath thánh thiện.

            
Trình thuật sôi nổi này bị người ta nhạo báng là rẻ tiền, chẳng hạn làm sao có ánh sáng vào ngày thứ nhất, trong khi mặt trời chỉ được sáng tạo vào ngày thứ bốn – một câu hỏi được đặt ra ít là vào thời ông Origen (qua đời khỏng năm 254). Câu hỏi này và các câu hỏi tương tự không được nhắm tới, bởi vì chúng không nhìn nhận văn thể đặc biệt được tác giả sử dụng. Đây không phải là một trình thuật mắt thấy tai nghe của dạng thức tạo thành; nói đúng hơn, nó ghi nhận sự kiện sáng tạo, và tất cả được xếp đặt theo cách thức mà trong đó người Israel thực hiện trong thế giới cổ xưa; họ làm việc sáu ngày và nghỉ ngơi ngày thứ bảy, tuân theo lệnh truyền của Chúa.

            
Như thể không lẫn lộn bất cứ sự giải thích văn chương nào của St 1, có một quan niệm khác về sáng tạo trong St 2 (thường được gán cho nguồn tài liệu Gia-vít Yahwist hoặc J), vốn đặt sáng tạo vào một ánh sáng khác. Trình thuật này được tập trung nhiều hơn vào con người. Trái đất mới được dựng nên, chưa được trồng trọt gì, thì Chúa dựng nên người nam từ bụi đất (adam phát sinh từ chữ adamah trong tiếng Do thái cổ), và thổi hơi cho nó để nó trở nên một sinh vật. Hãy ghi nhận rằng lúc ấy chưa có khái niệm về thân xác/linh hồn, như chúng ta dùng hiện nay; một con người là vật chất có hơi thở. Chúa quyết định cung cấp cho người nam một trợ tá (“con người ở một mình thì không tốt”). Nhưng mọi động vật Chúa đã dựng nên không thể làm trợ tá cho con người, vì thế Chúa dựng nên người nữ - làm sao để cho người nữ có cùng bản tính như người nam? – từ một xương sườn của người nam. Sự khám phá hân hoan của người nam – “xương bởi xương tôi,…” – cho thấy sự thán phục về kỳ công Chúa làm. Cũng thật quan trọng để ghi nhận làm thế nào hai trình thuật sáng tạo đã được đặt cạnh nhau một cách tự do bởi một người (người biên tập sau đó chăng?), vì người này không thấy có lý do để đặt trình thuật này cao hơn trình thuật kia. Cả hai đều là “thật” cả. Không có sự bắt buộc để nói “vâng, đó là cách thức chuyện đã xảy ra!”. Có một khả năng thích hợp trong các sách cổ để sống với điều không biết về cách thức diễn tả, miễn là các việc quan trọng đã được mô tả rõ ràng: sự can thiệp của Chúa, việc sáng tạo muôn loài, và nỗ lực đặc biệt tiếp theo trong việc tạo dựng người nam và người nữ.

            
Thuyết sáng tạo, và có nhiều hình thức của thuyết này, không có một thái độ thoải mái như thế đối với việc sáng tạo muôn loài như Kinh thánh trình bày. Sách Sáng thế cho chúng ta hai sự trình bày tưởng tượng, nhưng thuyết sáng tạo được hiểu theo nghĩa đen không thể hài lòng, cho đến khi nó chụp được một hình ảnh của sự hoạt động của Chúa, mà nó đòi hỏi để  thấy điều được mô tả trong bản văn. Về cơ bản, người ta có thể tóm tắt trường hợp (ngay cả nếu có nhiều luận lý được đưa ra) trong hai câu. (1) Trong Kinh thánh, không có một sự mô tả đơn nhất của hoạt động sáng tạo của Chúa. Thật ra, có nhiều trình bày trong các sách khác của Kinh Thánh, vốn khác với các trình thuật Sáng thế (ví dụ, Tv 89, 5-11). (2) Từ điều này, người đọc có bổn phận bỏ qua các xác tín có trước, nếu cần, và tự cho phép đặt mình vào cấp độ của bản văn, vừa đơn giản vừa phức tạp.

 

Hỏi: Liệu có các câu chuyện sáng tạo khác ở miền Cận Đông cổ có thể so sánh với trình thuật sách Sáng thế không?


Đáp: Có đấy. Đặc biệt có ba tác phẩm để đọc như là nền tảng cho trình thuật trong Sáng thế 1-11. Có lẽ tác phẩm nổi tiếng nhất trong ba là Enuma Elish (Khi ở trên cao), vốn được gọi là sử thi của việc tạo dựng ở Babylone, và có niên đại là khoảng năm 1200 trước Công nguyên. Tuy nhiên, thật sự nó không liên quan đến việc tạo dựng; nó là chuyện kể về cách thức thần Marduk trở thành thần chính yếu của đền thờ Babylone. Trong sự thăng tiến của mình, thần Marduk đánh bại nữ thần Tiamat (Hải vương) trong cuộc chiến lớn và tạo nên vũ trụ với xác của nữ thần. Vì một thần nhỏ khác là Kingu đã giúp cho nữ thần, do đó Marduk thấy cần phải giết chết thần này và tạo nên con người từ máu của thần ấy. Chức năng của con người là phục vụ các thần. Khi tác phẩm này được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1876, nó tạo nên một sự xôn xao lớn do sự tương đồng bề ngoài với St. Nó cần được đọc và được hiểu vì lợi ích của nó (bản dịch trong ANET, 60-72). Truyện này mượn yếu tố của nhiều tác phẩm khác.

            
Một trong các tác phẩm này là thẩn thoại Atrahasis; nó nổi tiếng vì có một trình thuật về cơn lụt lớn, và các khám phá trong thế kỷ ấy đã biến nó thành một trình thuật đầy đủ hơn. Đó là câu chuyện về mối tương quan của các thần với nhau và với con người. Lúc đầu, có sự chia rẽ giữa các thần: có các vị thần nghỉ ngơi và có các vị thần kém hơn phải làm việc để cung cấp cho các thần kia những gì họ cần. Điều này dẫn đến một cuộc nổi loạn và kết quả là một sự thỏa hiệp. Vị thần cầm đầu nhóm nổi loạn bị giết chết và máu thần này được trộn với đất bùn, và loài người được xuất hiện: có bảy người nam và bảy người nữ. Công việc của họ là trồng trọt để nuôi sống các vị thần. Tuy nhiên, giải pháp này không kéo dài. Các con người nầy la hét om sòm và khóc than lớn tiếng đến nỗi Enlil, thần chúa tể, không thể ngủ được. Các biện pháp trừng phạt (dịch bệnh, đói khát…) không có tác dụng. Các thần quyết định làm trận lụt lớn, nhưng một trong các thần báo tin này cho Atrahasis (có nghĩa là “Đấng rất khôn ngoan”), và gợi ý cho ông này làm một con tàu để tự cứu mình, gia đình và súc vật của mình. Sau trận lụt, các của cúng được dâng cho các thần (xem St 8, 20-21). Kết quả sau cùng là không rõ ràng trong bản văn, nhưng nếu người ta có thể nhận định từ phần song song trong sử thi Gilgamesh, Atrahasis và vợ ông trở thành bất tử, nhưng con cái cháu chắt của họ thì không. Tuy nhiên, “tiếng ồn”, vốn gây ra bao xáo trộn trong phần thứ nhất, đã được cất đi. Nhiều giải thích của câu chuyện Atrahasis được đưa ra, chẳng hạn, sự lo lắng về nạn nhân mãn trên trái đất. Việc này có thể là có, nó chắc chắn giải quyết với sự trừng phạt (bằng trận lụt) loài người, và câu chuyện trận lụt lớn được đưa vào trong  tác phẩm cổ đại ở Lưỡng Hà Địa, sử thi Gilgamesh.

            
Thiên sử thi này là sự chắp vá của các truyện thời đầu của truyền thuyết Lưỡng Hà Địa về một vị vua có thật của vùng Uruk trong nửa đầu của thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Nó là văn học cổ điển và đáng được đọc vì lợi ích của nó (trong ANET, trang 72-79). Ở đây chúng ta chỉ muốn đề cao một số điểm song song mà nó chia sẻ với sách St. Trong hình thức cuối cùng của nó (một bản văn bằng tiếng Assyria khoảng thế kỷ thứ 7), chúng ta có thể đọc truyện Gilgamesh đi tìm kiếm sự bất tử. Đây là một lo âu quan trọng sau cái chết của Enkidu, mà ông cùng chia sẻ nhiều cuộc mạo hiểm. Ông đi tìm kiếm ông Utnapishtim và vợ ông ấy, ông này được biết đến dưới tên Ziusudra (trong phiên bản Sumeria về trận lụt lớn), và ông đã trở thành bất tử sau trận lụt – giống ông Noê trong Kinh Thánh. Ông Gilgamesh được một đầy tớ gái nói rằng việc tìm kiếm của ông là vô ích, rằng các thần phân chia cái chết như là số phận con người – do đó ông nên hưởng các điều đơn giản của cuộc sống, như nhảy múa, vui chơi, ca hát, và niềm vui của đời sống gia đình. Nhưng lời khuyên thực tế này không được ông lắng nghe, và ông tiếp tục đi tìm cho đến khi ông gặp các người sống sót sau trận lụt. Ông nghe họ kể chuyện trận lụt và ân ban sự bất tử. Nhưng lời cảnh báo của đầy tớ gái đã trở thành sự thật: Gilgamesh không thể thức cả ngày lẫn đêm được; giấc ngủ (biểu tượng của sự chết) thắng ông, và buộc ông ngủ hoài. Cuối cùng Utnapishtim nói cho ông biết một cây giúp bất tử. Tiếc thay, khi Gilgamesh ngưng tắm trong một cái hồ, một con rắn đã đánh cắp cây thuốc ấy!

            
Một sự giống nhau rộng lớn giữa các sự nổi bật của truyền thuyết Lưỡng Hà Địa và thời tiền sử trong St 1-11 là rõ ràng. Nhưng người ta nên thận trọng khi cố gắng giải thích vì sao truyền thống Kinh Thánh lại đưa thế giới ấy vào trong sự hiểu biết của truyền thống. Không chắc rằng các người viết Kinh thánh có các bản sao của nhiều bản văn trên lá hình nêm (cuneiform), và chỉ đơn giản chuyển chúng vào trong trình thuật Kinh Thánh. Không, dường như các thần thoại ấy được lưu truyền truyền khẩu khá phổ biến trong nền văn hóa của Vùng Trăng Lưỡi Liềm (tức Trung Đông) trù phú, và chúng được người Do Thái biết đến. Khi người Do Thái muốn diễn tả sự hiểu biết của mình về sự tạo thành và tình trạng của con ngưởi, họ đã chịu ảnh hưởng bởi các câu chuyện ấy. Họ nhận thấy chúng là hữu ích cho việc phản ảnh của mình về thực tại, và họ diễn tả thực tại theo tài năng và niềm tin của họ.

            
Chỉ có một lỗi để hạn chế phong cách thần thoại về suy tư trong các chương đầu của sách St. Chủ yếu là trong thi ca Kinh Thánh. Chẳng hạn, việc tạo dựng được mô tả như một trận đánh với quyền lực của hỗn mang, được nhân cách hóa trong Biển, Thuồng luồng, Giao long, trong nhiều đoạn khác nhau. Do đó chúng ta đọc trong TV 74, 13-14: “Chính ngài đã ra oai xé đôi lòng biển, trên làn nước biếc, Ngài đập vỡ sọ thuồng luồng; chính Ngài đã nghiền nát bảy đầu con giao long, vứt nó làm mồi cho thủy quái” (xem thêm Tv 89, 9-12).

Trong Is 27,1 chúng ta biết rằng giao long là một thủy quái có bảy đầu, và trong Tv 104, 26 chúng ta thấy việc tạo dựng thủy quái là một trò tiêu khiển của Chúa, và biều lộ quyền uy của Ngài, khi chơi với chúng, cho con ngưởi biết. Các học giả đã tìm được một từ ngữ tiếng Đức thích hợp cho chủ đề này: Chaoskampf – Chúa chiến đấu với hỗn mang. Quyền uy của Chúa tiêu diệt hỗn mang trong khi tạo dựng và gìn giữ tạo thành.

Nguyễn Trọng Đa dịch
Theo “Responses to 101 questions on the Biblical Torah”, Manila, St Pauls, 1999, trang 13-17)

Lên đầu trang