Lịch sử Dòng Tên (4): Những sứ mạng mới – cuối TK XVI đầu TK XVII

7/17/2015 5:13:31 PM
Dòng đã cho thấy có một khuôn mặt lưỡng diện thể hiện sức mạnh sự phục hồi: cuộc khủng hoảng trong nội bộ và sự mở ra với những giá trị nhân văn khác phương Tây.

china.jpg  
Thánh Phanxicô Xavier

Mục Lục
1. Những Ngày Tháng Đầu Tiên (1534-1556)
2. 15 năm đời Tổng Quản thứ nhất – Inhã
3. Dòng Tên nửa cuối thế kỷ XVI

I. TRIỀU ĐẠI TỔNG QUẢN AQUAVIVA


1. Bầu Tổng Quản


Sau khi Mecurian qua đời, Mannaerts được bầu làm tổng đại diện.


Tổng Hội IV được ấn định họp ngày 7/2/1581.Nảy sinh vấn đề “âm mưu nắm quyền” của tổng đại diện Mannaerts. Một uỷ ban 4 thệ sĩ được lập ra để cứu xét vấn đề. Kết luận: Mannaert không hoàn toàn vô tội; Mannaerts phản đối, tuy nhiên tự rút tên mình ra khỏi những đại biểu được bầu… Vấn đề được giải quyết.


Đại hội bầu Aquaviva làm tổng quản. Đại hội đã đưa ra 59 nghị quyết, trong đó đáng lưu ý là việc Tổng quản được phép giải thích Hiến Chương (mang tính hướng dẫn thực hành, không là lập luật), được phép chỉ định một Tổng Đại Diện để điều hành Dòng sau khi mình qua đời. Tổng quản không được phép giải thể một học viện nếu không có ý kiến thuận của nhiều người liên hệ.


Đây là đại hội cuối cùng có mặt các bạn trong nhóm đầu tiên .


Những việc mà Aquaviva phải đương đầu (thực hiện) trong hơn 33 năm làm Tổng quản của mình: gìn giữ thể chế của Dòng nguyên tuyền theo thánh Inhã (khi mà số GSH tăng vọt từ 5000 lên 13.000), ổn định việc học trong Dòng với việc ban hành Ratio Studiorum (Học quy) khi mà các trường tăng đột biến từ 144 lên 372) cũng như ổn định cơ cấu tổ chức khi các nhà tăng từ 33 lên 123, các tỉnh từ 21 lên 32, bên cạnh đó tiến hành việc thích nghi vào văn hoá bản địa trong truyền giáo (Ấn Độ, Trung Quốc), đẩy mạnh các sứ vụ nước ngoài.


2. Bảo vệ thể chế


a. Vấn nạn khởi đầu


Một số GSH TBN (số ít, nhưng có ảnh hưởng trên triều đình TBN) theo Antonio de Araoz tiếp tục khuấy đảo bầu khí bình an, họ muốn thay đổi Hiến Chương Dòng, hai trong số những điểm quan trọng họ muốn đổi:


Hạn chế quyền hành của Bề Trên Cả trong việc chỉ định các Giám Tỉnh và viện trưởng.


Trao việc chỉ định hai chức vụ trên cho công hội tỉnh (Provincial chapters).


Tiến trình giải quyết


Với mục đích trên, những người gây rối đã khiếu nại đến Toà Truy Tà ở Tây Ban Nha và Toà Thánh (hai đời GH Sixtus V và Clement VIII). Dưới áp lực của Phillip II (vua TBN), một chuyến kinh lược Dòng Tên ở TBN sẽ được thực hiện và vị kinh lược sứ (giám mục Jeronimo Marique – giám mục Cartagena) có quyền thay đổi HC Dòng.


Aquaviva thực hiện một cuộc vận động để huỷ chuyến kinh lược này: các giám tỉnh ở TBN và BĐN sẽ chống lại chuyến kinh lược này qua bản ký đồng thuận của các thệ sĩ có thế giá và đệ trình cho vua, bản thân của Aquaviva cũng giải trình với vua TBN và GH Sixtus. Chuyến kinh lược bị bỏ, thay vào đó, vị kinh lược mới sẽ là Anchieta.


Tuy nhiên, GH lại muốn Dòng đổi HC, nên trao cho Toà Truy Tà xem xét HC Dòng.Aquaviva chống lại bằng cách xin ý kiến của các Giám mục và công tước khắp nơi ở Châu Âu về hoạt động của Dòng – vốn dựa trên HC.


Vấn đề lại tập trung vào một vài điểm trong HC: GSH không làm việc đền tội, việc bày tỏ lương tâm, bản chất lời khấn của học viên..Tuy nhiên, Aquaviva trả lời ổn thoả, vì thế HC không thay đổi gì, trừ việc tên Dòng.Sixtus V không muốn Dòng được gọi là “Dòng CGS”.Tuy nhiên, trước khi ban một nghị quyết đổi tên Dòng, vị GH này đã qua đời.Vấn đề trôi vào quên lãng.


b. Ba vấn nạn thời ĐGH Clement VIII(1592-1605)


Vấn nạn 1: Những GSH thù nghịch ở TBN muốn truất phế quyền Tổng Quản nên đòi hỏi triệu tập một Tổng Hội. Vấn nạn này được khơi mào bởi Jose de Acosta – một tông đồ vốn nhiệt thành ở Peru nhưng vì sau đó không được chỉ định làm Giám Tỉnh. Với sự vận động của y, GH Clement đòi Dòng triệu tập một Tổng Hội. Tuy nhiên, những người chống đối không ai được quyền dự Tổng Hội cả, vì vậy họ gây áp lực ngang qua triều đình TBN để ĐGH phong hồng y cho Francisco Toledo (cũng là 1 GSH chống đối Aquaviva) để sau đó vị này chủ trì Tổng hội. Tuy nhiên, âm mưu này bất thành.


Tổng Hội họp bình thường, và đi đến nhất trí với cách quản trị Dòng của Aquaviva.Tổng Hội cũng khai trừ những người chống đối Dòng. Trong vụ này, vì có 25/27 GSH TBN ký tên vào bản chống lại HC Dòng là gốc Do Thái và Hồi Giáo, nên Tổng Hội cũng ra quyết định là từ này không nhận vào Dòng những ai có gốc Hồi Giáo hay Do Thái Giáo .


Vấn nạn 2: GH Clement VIII không đồng ý nhiệm kỳ Tổng Quản trọn đời.


Vì thế, ngài định chỉ định Aquaviva làm TGM Naples, tuy nhiên, các cha đã “tương kế tựu kế tung tin đồn xin phong Hồng y cho ngài, điều này làm cho Hồng Y Toledo lo sợ, vì vậy vị hồng y này đã xin để ĐGH rút bổ nhiệm.


Vấn nạn 3: Âm mưu tách ly Aquaviva khỏi Dòng


Vấn nạn khởi phát do Fernando Mendoza – một GSH có tương quan tốt với triều đình TBN nhưng lại có óc chống bề trên. Ông ta vận động Phillip II, Phillip II gây áp lực với Toà Thánh để triệu Aquaviva đi TBN, nhưng Aquaviva lâm trọng bệnh, thế là âm mưu lại một lần nữa thất bại.


3. Đời sống của Dòng trong những năm tháng thăng trầm


Song song với việc phải chống chọi với những cơn sóng lớn từ bên ngoài, Aquaviva cũng lo cải tổ, canh tân đời sống Dòng bằng những huấn thị theo sát tinh thần thánh Inhã: tính hiệu quả của công cuộc tông đồ của Dòng hệ tại ở sự liên kết giữa anh em GSH và giữa từng cá nhân với Chúa. Ngài đặc biệt nhấn mạnh điều này cho các bề trên trong hai cuộc gặp mặt năm 1604 và 1613.


8/5/1590, ngài gửi toàn Dòng một bức thư quan trọng bàn về mối tương quan giữa hai đặc tính tông đồ và “đan tu trong Dòng”, theo đó ngài nhấn mạnh đến đặc tính tông đồ với những lưu ý: các GSH đã hoàn tất huấn luyện thì tự do sắp xếp việc thiêng liêng sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ ngày sống, những ai đã có kinh nghiệm lâu dài trong đàng thiêng liêng thì việc cầu nguyện hãy để thuận theo tác động của Thánh Thần, sẵn sàng hiến tế vì mục tiêu tông đồ, có thói quen cầu nguyện giữa lao tác, điều độ trong việc đền tội, tránh xao nhãng hoặc thái quá.


Bận tâm của ngài còn được thể hiện trong quyển sách: “Helps to the Cure of Spiritual Sickness for the Use of Superiors in the Society”.


Tổng Hội năm 1593 cũng quyết định: thời gian nhà tập 2 năm.


Năm 1608, TH VI khai mạc (theo như đề nghị từ hội nghị đại biểu hai năm trước).TH tiếp tục bày tỏ sự tin tưởng đối với đường lối lãnh đạo của Aquaviva.Cũng năm này, cha Inhã được phong chân phước (bởi ĐGH Paul V).


TH 1608 cũng quyết định mỗi GSH hằng năm phải linh thao từ 8 đến 10 ngày.


Đối với những ai chưa khấn cuối, cần có triduum trước khi lặp lại lời khấn (2 lần 1 năm).Đồng thời, khuôn mẫu, nội dung của năm tập 3 cũng ra đời.


ĐH VI cũng chính thức chấp nhận việc mở những ĐH dành riêng cho giáo dân, thiết lập thêm vùng Pháp bên cạnh 4 vùng được thiết lập từ ĐH I (Ý, Đức, TBN, BĐN)

 

II. HỆ THỐNG GIÁO DỤC CỦA CÁC GSH


Một trong những bận tâm của Aquaviva là hệ thống giáo dục của Dòng.Rất nhiều nơi xin ngài lập trường, nhưng ngài liên tục từ chối (từ chối 150 đề nghị tính tới 1593).Cuối thế kỷ XVI, Dòng có 244 trường, cuối đời Aquaviva có 372 trường.


Song song với việc thành lập các trường, việc xây dựng học quy cũng dần hoàn thiện:


1584, ngài chủ trì một ủy ban soạn thảo “Plan and Arrangement of Studies” trên cơ sở những khảo cứu của Ledesma và Nadal. Nội dung chính nắm đến các phương diện triết học và thần học trong huấn luyện.
1586, gửi bản thảo này đến các tỉnh để lấy ý kiến, các tỉnh cho ý kiến và tổng hợp gửi lại BTC.


1591, một bản đúc kết mới được BTC gửi đến các trường để thí điểm trong vòng 3 năm.


1599, bản học quy ra đời: Ratio Studiorum. Có thể nói, đây là công trình tim óc của hiều thế hệ trong Dòng: những chất liệu khởi đầu mà Thánh Inhã cung cấp trong phần 4 của Hiến Chương, những bản thảo của Nadal ở Messina, của Ledesma ở Roman College, và cuối cùng của Aquaviva và các cộng sự.

Một ảnh hưởng khác cũng quan trọng không kém trường học của Dòng là Hiệp Hội Thánh Mẫu (Sodality of the Blessed Virgin Mary), thành lập năm 1584 tại Roman College. Tính đến 1773, Hiệp hội bao gồm 2500 hiệp hội thành viên, trong đó, Hiệp hội tại Roman College được xem như Hiệp Hội Mẹ. Đây là một dạng hiệp hội liên kết mọi người trong một phong trào đạo đức bình dân, tổ chức theo các giới, nhóm nghề…

 

III. TRÊN NHỮNG MIỀN SỨ MẠNG


1. Italy


1593 đánh dấu sự cắt đứt giữa thế hệ thứ nhất của Dòng với các thế hệ sau sau cái chết của Bobadilla.

Tại Ý, ơn gọi đông đảo, vì thế, trong suốt triều đại của Aquaviva, số GSH đã tăng từ 1689 lên 2763 người. Các nhà và trường tăng từ 42 lên 75.


Tuy nhiên, Dòng cũng đối mặt không ít khó khăn ở đây. Do sự đụng độ giữa Venetian Rebublic và Vatican, Dòng buộc phải rời khỏi Venice năm 1607. Lúc này, quan niệm “phá đổ Dòng sẽ khiến Rome sụp đổ” bắt đầu hình thành, khẩu hiệu này sẽ mạnh hơn, trở thành một chương trình hành động vào thời triết học ánh sáng với Volter. Mãi 50 năm sau, Dòng mới được trở lại Venice.


Đại học Roma vẫn là một điểm sáng nhất trong hệ thống giáo dục của Ý. Bên cạnh Christoph Klau, hai nhà thiên văn khác cũng đến làm việc ở đây: Greinberger và Scheiner. Cũng trong thời gian này, xảy ra vụ án Gallile (1656 – 1642).


Vụ án Galile


Trong vụ án này, chính yếu là sự khác biệt giữa quan niệm của Aristotle và Copernicus, Galile về trật tự vũ trụ. Aristitle cho rằng trái đất là trung tâm vũ trụ, quan điểm này vốn được các nhà thiên văn Dòng Tên lĩnh hội, tất nhiên họ đang trên đường tìm kiếm cái mới, trong khi Gallile hay Copernicus quan niệm ngược lại. Ban đầu, các nhà thiên văn Dòng Tên có cái nhìn khá cởi mở và đánh giá cao những khảo sát của Gallile, tuy nhiên, họ vẫn phải tìm kiềm một sự chắc chắn mang tính khách quan cho quan điểm Nhật tâm.


Vì những quan điểm của Galile ngược với Kinh Thánh, nên những nhà thần học vào cuộc, và hẳn nhiên Belarmine được mời tham vấn. Belarmine (chỉ là một thần học gia chứ không là một nhà thiên văn) đã tham khảo ý kiến của các GSH khác tại đài thiên văn Roma, và cuối cùng kết luận quan điểm của Galileo không có bằng chứng rõ ràng. Trước khi Tòa Thánh phán quyết lần I vào năm 1616, Bellarmine đã thuyết phục Galile từ bỏ quan điểm của mình.


Ngày 24/2/1616, Tòa Thánh kết án học thuyết của Galile (vốn dựa trên Copernicus). Gallile sau đó lui vào hoạt động lặng lẽ. Trong khi đó, năm 1621, Bellarmine đã qua đời.


Phán quyết lần II về vụ Galile xảy ra vào năm 1633 sau khi ông xuất bản quyển sách nhan đề: Dialogue Concerning the Two Chief World Systems (1632): Galile bị kết án lạc giáo, bị quản thúc đến trọn đời (1642), và tác phẩm của ông bị cấm .


Cũng trong giai đoạn này, Dòng Tên Ý đón một vị thánh khác: Alysius Gonzaga (chết năm 1591) và Bellarmine là cha giải tội của vị thánh trẻ. Bên cạnh đó còn có Bernadino Realino. Bellarmine sống những năm cuối đời tại Tập viện Saint Andrew ở Rome.


Dòng Tên Ý cũng có nhiều vị tử đạo trong giai đoạn này: Azevedo và các bạn tử đạo trên Đại Tây Dương, Rodolfo Aquaviva và các bạn tử đạo ở Ấn Độ, 3 tử đạo ở Nhật, Edmund Campion và các bạn tử đạo tại Anh Quốc…


2. Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha


Một nhóm GSH chống đối xuất hiện ở TBN, số lương họ tuy nhỏ nhưng có sức ảnh hưởng rất lớn trên chính quyền, vì thế hiểm họa họ mang lại không nhỏ. Đứng đầu là Dionisio Vazquez, Francisco Abreo, Gonalez, và Enriquez.


Lợi dụng Toà Truy Tà, những GSH này tìm cách làm khó dễ Dòng. Bởi cách trình bày sai lạc, họ vẽ nên một Tổng Quản của Dòng đầy quyền lực (qua việc chỉ định giám tỉnh và viện trưởng) như là một thực thể nguy hại cho giáo hội. Do thế, giải pháp nên theo là tước quyền chỉ định này của Tổng Quản và trao nó vào tay nhà cầm quyền. Bên cạnh đó, họ còn cho rằng các bậc sống trong Dòng là biểu thị của sự phân biệt đối xử; học quy của Dòng là sự chống đối học thuyết thánh Tô ma. Vì vậy, Toà Truy Tà đòi Dòng trao Hiến Chương để xem xét.


Giải pháp của Aquaviva:


Kiến nghị trực tiếp đến Toà Thánh, thẩm quyền phán quyết do thế không nằm trong tay Toà Truy Tà ở Tây Ban Nha.


Tình hình càng nghiêm trọng hơn khi một nhóm tu sĩ Dòng Đa Minh cũng vào cuộc phê phán Hiến Chương Dòng (trong suốt 10 năm từ 1582 đến 1592), tập trung chủ yếu vào phê phán các bậc sống trong Dòng (thệ sĩ mới là tu sĩ thực, còn các bậc còn lại thì chưa phải là tu sĩ đúng nghĩa). Lời khấn đơn cuối kỳ tập bị chỉ trích… Vấn nạn đến tai Gregory XIII, ngài ban trọng sắc Ascendente Domino (Chúa lên thuyền) ngày 25/5/1584 để chuẩn nhận thể chế Dòng.


Những xáo trộn này không làm giảm đi những ánh sáng rực rỡ của Dòng ở Tây Ban Nha, vì suy cho cùng, những người chống đối chỉ là một bộ phận nhỏ mà thôi.


Thành tựu tại Tây Ban Nha:


Tinh thần tông đồ sáng tạo, mạnh mẽ.


Suốt thời kỳ của Aquaviva, Dòng ở TBN mở thêm 31 nhà mới (hầu hết là trường). Đến 1615, TBN gồm 4 tỉnh với 2000 GSH trong 87 cộng đoàn.


Giảng thuyết là một việc tông đồ được chú trọng: tổ chức các nhóm nhỏ đi về miền quê (khuôn mẫu của Inhã và các bạn ngày xưa) để giảng dạy, nhất là giáo lý. Diego Ledesma đã xuất bản Christian Doctrine vì mục đích này.


Dòng cũng dấn thân mạnh mẽ trong lĩnh vực triết và thần học với những tên tuổi chói sáng như Suarez, Sanchez, Francisco de Toledo, Gregorio de Valencia, Gabriel Vazquez, Luis de Molina. Với những suy tư mang tính thực chứng và siêu hình, các GSH này đã mang đến nhiều đóng góp quan trọng cho lối suy tư vốn mang tính kinh viện trước đây .Có thể nói, công trình của các GSH ấy đã làm mới cách hiểu về các tác phẩm kinh điển của thánh Tô ma, của các giáo phụ…, mang đến một sự hoà hợp giữa các lĩnh vực siêu hình, lịch sử, kinh thánh và giáo phụ học. Đây có thể coi là khởi đầu cho sự phục hung triết và thần học ở Châu Âu vào thế kỷ XVII.


Đi cùng với những đóng góp to lớn về thần học và triết học của các GSH trên, một khuôn mặt khác của GSH ở TBN cũng được tỏ lộ: sự thánh thiện với những khuôn mặt như Alonso Rodriguez, Pedro Claver. Chính Rodriguez đã để lại tác phẩm nhiều ảnh hưởng trên đời sống thiêng liêng: The Practice of Perfection and Christian Virtues.


Riêng tỉnh BĐN, vì đang trong thời kỳ bị xâm lược bởi TBN nên hoạt động của các GSH tương đối lắng dịu, họ hết sức tránh những hình thức thể hiện một thứ chủ nghĩa yêu nước khiến có thể khuấy động một cuộc chiến. Vương triều TBN cũng dành cho Dòng ở BĐN một sự tôn trọng nào đó, nhưng suy cho cùng đó cũng chỉ là những cử chỉ ngoại giao chứ không hẳn là một tình thân thật sự.


Dòng tại BĐN vẫn tăng tiến đều: từ 484 người năm 1580 đã tăng lên 570 vào năm 1594 và 665 vào năm 1615. 1610 có 17 nhà, đại học ở Lisboa có khoảng 2000 sinh viên

3. Pháp


Trong suốt 30 năm này, Dòng bị giằng co giữa hai thế lực: vua Henry III và công tước xứ Guise, với cả hai bên, Dòng đều có liên hệ mật thiết, khó khăn chính yếu từ đó nảy sinh.


Chính sách của Aquaviva: giữ Dòng ở thế trung lập, nghiêm cấm các GSH ở Pháp dính bén đến chính trị…, và đồng thời rút hai GSH đang làm tham vấn cho công tước và Hoàng đế ra khỏi Pháp, cử đến đó một vị kinh lược sứ để ứng biến tình hình.


Thử thách lớn xảy ra vào năm 1588-1590, cả công tước Guise và hoàng đế Henry III đều bị ám sát, các GSH bị cho là chủ mưu. Khi vua mới lên ngôi (Henry Navarre), các GSH bị buộc phải tuyên thệ trung thành (1593) trong khi 9 năm trước ông đã bị Toà Thánh rút phép thông công. Vì thế, Aquaviva cấm các GSH thề trung thành với vua.Tuy nhiên, vị Giám Tỉnh ở đây đã cho phép các GSH thề, và thế là bị khiển trách.


Cuối năm 1594, lại thêm một vụ ám sát (hụt) hướng đến vua Henry IV (Henry Navara), lần này là Jean Chastel. Vì sinh viên này đã từng có thời gian học tại học viện Clermont, do thế học viện bị lục soát.

 

Trong phòng của viên thủ thư, người ta tìm thấy quyển sách bàn về chủ đề “giết bạo chúa” (Tyrannicide), thế là viên thủ thư bị thiêu. Và 1/7/1595, Dòng Tên bị buộc phải rời Paris.


Tuy đối mặt với những khó khăn khắc nghiệt như vậy, Dòng ở Pháp vẫn bám trụ vì chính sách ở các tỉnh không như ở Paris.Các trường ở Bourges, Nevers phát triển mạnh, triết và thần học được đưa vào giảng khoá ở các trường tại Rodez và Billom.


Tại Paris tám năm sau vụ mưu sát hụt của một sinh viên mà Dòng đã mang hoạ, Dòng bắt đầu quay trở lại. Tương quan giữa vua với Dòng bắt đầu hoà hảo hơn, đặc biệt với vai trò của Pierre Conton (một GSH Pháp). Đồng thời, Toà Thánh cũng giải vạ tuyệt thông cho Henry IV (17/9/1595).


1/9/1603, Henry ban hành Sắc lệnh Tái Thiết Lập (Edict Teestablishment), Dòng được công nhận ở Pháp, trở lại Paris.


Với sắc lệnh này, những ngày tháng huy hoàng của Dòng bắt đầu: chỉ 5 tháng sau đã có 32 thị trấn yêu cầu Dòng đến mở trường, và nhà vua đã chọn 18 địa điểm để thiết lập trường từ Caen và Rouen ở phía bắc đến Aix ở phía nam, từ Troyes ở phía đông đến Rennes ở phía Tây. Tuy nhiên, học viện Clermont vẫn chưa được phép mở trở lại (vì sự ảnh hưởng của Nghị viện Paris và Tin lành).Trong số những trường này, Henry ưu ái đầu tư cho trường ở La Fleche (gần Anger). Chỉ một năm sau (1604), trường đã thu nhận trên 1000 sinh viên, trong đó có Rene Descartes.


Dòng cũng phát triển mạnh về nhân số: năm 1605 mở thêm 2 nhà tập ở Lyons và Rouen. Năm 1608, vùng Pháp được thiết lập.Năm 1610 tổng cộng có 1300 GSH ở Pháp và phân bổ trong 45 cộng đoàn.
Dòng cũng dấn thân mạnh mẽ vào cuộc chiến chống Tin lành.Bên cạnh xuất bản sách, luận chiến, các GSH còn chú trọng mảng tông đồ mục vụ người nghèo – những người rất dễ trở thành mồi cho Tin Lành vì sự thiếu hiểu biết của họ. Vì thế, các GSH đã đi từ làng này sang làng khác để giúp những người bình dân: nâng đỡ họ về đức tin và giáo thuyết.


Các GSH cũng dấn thân mạnh mẽ trong công tác linh hướng, giúp nâng đỡ đời sống thiêng liên cho các cá nhân, hội đoàn cũng như Dòng tu: Linh hướng cho Dòng Ursuline , tương tự đối với Dòng Thăm viếng, Dòng Đức Bà Truyền Giáo


14/5/1610, Henry IV bị ám sát, Dòng không bị kết án là hung thủ nhưng sự kiện này đem đến không ít chống đối cho Dòng. Người ta vẫn cho rằng Dòng chịu ảnh hưởng của tác phẩm “Giết bạo chúa” Juan Mariana – một tác phẩm rất có ảnh hưởng ở TBN…


Trong hoàn cảnh khó khăn này, các GSH ở Paris đã làm một việc sai lầm: xin mở lại học viện Clermont. Điều này khuấy động sự chú ý của Nghị viện Paris. Hẳn nhiên, nghị viện từ chối, hơn thế nữa, họ xem đó là một cơ hội để tấn công Dòng: ép Dòng phải theo giáo thuyết của đại học Sorbonne, đồng thời chấp nhận quyền tối thượng của vua Pháp (chỉ sau Chúa), không lệ quyền ĐGH.


Các GSH Pháp phải sống giữa áp lực: tuyên thệ trung thành với vua và phục quyền ĐGH. Sức ép luôn đến từ hai phía: nghị viện Paris, đầu óc quốc gia Pháp – Dòng và Toà Thánh. Một số GSH Pháp đã dần dần xa học thuyết của Bellarmine (vốn bảo vệ quyền tối thượng của ĐTC). Trong tình huống này, bên trong Pháp thì anh em GSH bàn luận về hai thái cực trung thành, tuân phục, bên ngoài Pháp thì GSH ở các tỉnh khác viết các sách bảo vệ quyền tối thượng Toà Thánh (Bellarmine, Suarez) trước phong trào Tin Lành, Anh Giáo anh đầu óc quốc gia Pháp, và những sách này lại càng gây khó cho anh em GSH ở Pháp.


Cuộc tranh luận trở thành trong nội bộ Dòng, chất vấn học thuyết của Bellarmine về quyền tối thượng gián tiếp của ĐGH trên những vấn đề thế tục. Đây là một cuộc tranh luận dài hơi, có thể nói phần nào Bellarmine chưa hoàn toàn đúng trong học thuyết của mình, vì thời đại của ngài, tình thế chính trị đang dần khác đi: đó không còn là thời kỳ của một châu Âu thuần nhất một đức tin, một thể chế chính trị, nhưng đang trên đà phân mảnh và chuyển đổi về cơ chế chính trị. Về khía cạnh này, những GSH Pháp là những người đi trước Bellarmine.


4. Đức và Trung Âu


Ba sứ mạng chính làm nên dấu son của Dòng ở đây: Nghiên cứu, giảng thuyết và dạy giáo lý.


Về nhân sự, Dòng cũng phát triển hết sức mạnh: 1581 có khoảng 700 GSH ngụ trong 19 trường và nhiều nhà khác. Đến 1615, số GSH tăng lên 1700, số trường tăng gấp đôi (khoảng 40), số sinh viên thâu nhận vào các trường ngày một đông hơn.


Kịch nghệ, ca nhạc cũng phát triển và chuyên nghiệp hơn với những dàn hợp xướng, đồ đạo cụ, những nhà hát, đặc biệt các sinh viên đã dàn dựng một vở nhạc kịch hết sức hoành tráng với dàn nhạc 900 người và hàng trăm người khác tham gia dựng cảnh.


Trường học là cứ điểm đầu tiên để từ đó Dòng tạo nên những biến đổi sâu sắc trong đời sống văn hoá, xã hội và học thuật của đế quốc Đức.


Trong lĩnh vực triết và thần học: Diễn ra một cuộc phục hưng thần học với những tên tuổi như Gregorio de Valencia, Rodolfo de Arriage, Martin Van der Beeck. Những vị này đã đưa nền thần học Đức bắt kịp phong trào tri thức của các quốc gia khác trong vùng.Đây cũng là tiền đề để hoạt động chống Tin Lành được khởi sắc trong lĩnh vực tri thức, luận chiến. Những tác phẩm quan trọng được viết vì mục đích này: Chú giải bộ Tổng Luận của thánh Tô ma, Tổng luận thần học kinh viện.


Cũng như ở Pháp, các GSH ở Đức cũng chia nhóm đi về các miền quê để hướng dẫn người bình dân, đặc biệt chú trọng việc dạy giáo lý. Vd: năm 1590 một bản báo cáo từ học viện Heiligenstadt cho biết các lớp giáo lý được tổ chức trong 15 làng vào ngày chúa nhật và các ngày lễ, và hai lần một tuần trong mùa chay.. Bản báo cáo năm 1594 của Melchior Torites cho biết các GSH đã đến được 40 làng để dạy giáo lý.


Chính những cuộc luận chiến cũng như những hoạt động khác không mệt mỏi của các GSH (giảng thuyết, dạy giáo lý) đã đưa nhiều người Tin Lành trở về với Công Giáo. Tại Augsburg trong khoảng từ 1590 đến 1600, mỗi năm cải hoá được từ 29 đến 59 người, có nơi như Vienna, mỗi năm có hàng trăm người từ Tin Lành trở lại với Công Giáo.


Vị tông đồ nổi bật của nước Đức trong giai đoạn trước và cả giai đoạn này không ai khác là Canisius, ngài đã sống qua 5 đời Tổng Quản, lưu tại Đức để tái gieo hạt giống đức tin, và có thể nói những mầm non ấy đã trở thành rừng vào cuối đời của ngài (21/12/1597).


Trong diễn trình này, đất nước Hungary cũng sản sinh ra một vị tông đồ cho quê hương mình: Peter Pazmany (vốn là một người Tin Lành, được rửa tội vào năm 13 tuổi). Có thể nói, sứ mạng của ngài chính yếu bắt đầu từ 1601, và những bài giảng, công trình ngài viết đã trở nên một cột mốc mới cho lịch sử văn chương của Hungary, và cũng nhờ hoạt động của ngài, nhiều nhà quý tộc trở về với Công Giáo.

5. Balan


Dòng gặp thuận lợi vì sự tử tế của nhà cầm quyền (đứng đầu là vua Sigismund III).


1599, cha Aquaviva thiết lập tỉnh Balan gồm 11 trường, 2 nhà tập với tổng nhân số 432 người.


Hoạt động nổi bật là giảng thuyết – đi nghe các GSH giảng thuyết là một thứ mốt đối với người Balan thời ấy.


Cũng từ Balan, sứ mạng lan sang Nga – sứ mạng hoà giải Nga Chính Thống với Hội Thánh.


Nguyên cớ vì trong thời gian này, chiến trang Nga – Balan nổ ra, và nước Nga thất bại. Vì thế Nga Hoàng (Ivan) đã cử một phái đoàn đến Toà Thánh xin can thiệp để Balan rút quân với điều kiện Nga sẽ mở cửa đối với Tây Âu. ĐGH Gregory XIII xem đây là một cơ hội để bang giao với Nga, nhân đó tiến tới thành lập một liên minh đủ mạnh để chống Hồi Giáo. Vậy, sứ mạng hoà giải Balan – Nga giao cho các GSH, và Possevino là người chịu trách nhiệm thực thi, trong đó, Possevino đóng vai là sứ giả của Nga hoàng Ivan.


Sứ mạng bắt đầu không mấy thuận lợi, sau khi Possevino đạt được thoả thuận ngừng chiến trong 10 năm giữa Nga và Balan thì thái độ của Ivan thay đổi, ông chưa muốn đề cập đến vấn đề giao hảo tôn giáo. Giai đoạnt thứ hai gắn với tên của Piotr Skarga, cuối cùng đạt được một yêu cầu chính thức từ thượng phụ giáo chủ của giáo hội Nga tiến tới hợp nhất với Rome. Ngày 23/12/1595, ĐGH Clement VIII tuyên bố Rome và giáo Hội Nga hiệp nhất qua thoả ước Union of Brest. Tuy nhiên, ngay sau đó, niềm vui đã tắt khi trong chính giáo hội Nga xảy ra phân rẽ – chống chủ trương hiệp nhất, họ chủ trương Orthodox.GSH thứ ba vào cuộc – Gaspar Sawicki. Tự nhận mình là con của Sa Hoàng và đã biến mất năm 1584 sau cái chết của cha, năm 1604, Dmitri được sự hậu thuẫn của vua Balan quay trở lại Nga và tuyên bố mình là người thừa kế ngai vàng. Trước đó, Dmitri đã được Gaspar Sawicki rửa tội.


Dmitri vào Nga thành công nhờ chiến thắng quân sự và được sự ủng hộ của dân Nga. Tưởng như việc hiệp nhất Nga – Rome trong tầm tay, tuy nhiên, ngày 27/5/1606, Dmitri bị ám sát, ông mang theo xuống mồ hi vọng hợp nhất giữa hai giáo hội. Cũng sau sự kiện này, một quyển sách mang tựa đề The Jesuit’s Secret Instruction được xuất bản để bôi nhọ Dòng Tên.


6. Vùng Trũng, Anh và các nước lân cận

Tại Hà Lan và các nước vùng Trũng

Dưới sự lãnh đạo tài tình, nhiều sáng kiến của Olivier Mannaerts, Dòng phục hồi sau cuộc lưu đày (1576). Đến 1612, tại Hà Lan đã có 730 GSH điều khiển 28 trường, vì thế Aquaviva đã tách tỉnh dòng làm đôi.


Dòng dấn thân mạnh mẽ trong lĩnh vực tông đồ trí thức.Về thần học, nổi tiếng nhất là Leonard Leys với những công trình thuộc lĩnh vực thần học luân lý, trên nền tảng đó chống lại thuyết Jansen. Về Kinh Thánh thì có Cornelissen van den Steen, Giáo phụ học thì có Andre Schott, về linh đạo thì có Frans de Costere và Jan David với nhiều tác phẩm để lại: A Candlesnuffcr for the Extinction of the Torches in Holland (ca. 1607), The Christian Housekeeper with a Sponge to Wipe Away Bad Habits (1607), T h e Christian Beehive (1600), T he Flower Gar­den of the Church’s Ceremonies (1607).


Bên cạnh đó, giảng thuyết cho đại chúng, hướng dẫn các hội đoàn tôn giáo cũng được các GSH hết sức chú trọng.


Từ năm 1587, Dòng bắt đầu nhận thêm nhiệm vụ tuyên uý cho quân đội Bỉ. Cũng vì sứ mạng này mà một số trong các ngài đã ngã xuống.


Năm 1592, ĐGH Clement VIII đã uỷ thác sứ mạng Hà Lan (7 tỉnh độc lập ở phía Bắc đã ngã theo Tin lành Calvin) cho Dòng. Các GSH bắt đầu nguỵ trang để xâm nhập vào vùng đất này.


Tại Anh


Sứ mạng Anh được thiết lập dưới thời Tổng Quản Mecurian (sau năm 1578) và bắt đầu đi vào vận hành vào năm sau đó (1580)– trước khi Aquaviva làm tổng quản, với Cha Admund Campion, Robert Pensons và tu huynh Ralph Emerson. Nhân sự sau đó được tăng cường đều đều: 1593 có 7 người, 1598 có 16 người, 1610 có 52 người. Cùng lao tác trên cánh đồng này là hàng trăm linh mục triều được đào tạo từ ngoài Anh và gửi vào.


Chính yếu các GSH nhắm vào việc nâng đỡ đời sống thiêng liêng của người Công Giáo bằng việc đi từ vùng này sang vùng kia để cử hành bí tích, dâng lễ… hết sức bí mật. Tuy nhiên, vì bị phản bội, Campion đã bị bắt, chịu tra tấn và cuối cùng bị phân thây vào 1/12/1581.Cũng dưới thời Elisabeth, 10 GSH khác cũng chịu tử đạo.


Giữa hai nhóm – các GSH và các linh mục triều có chút xích mích trong sứ mạng, đường lối khác nhau, và Toà Thánh đã đặt thêm một chức vụ: linh mục tổng đại diện (archpriest) người sẽ lãnh đạo các linh mục triều ở đây, và trong mọi sứ mạng, vị linh mục này phải tham vấn các GSH (theo chỉ thị của ĐGH). Điều này gây ra sự khó chịu nơi các linh mục triều.


Dòng Tên chịu tổn thất nặng sau âm mưu ám sát vua James I của một nhóm người. Hẳn nhiên, các GSH không bao giờ chủ trương như thế, nhưng một trong những người chủ mưu đã đến xưng tội và cha Henry Garnet – bề trên của các GSH tại Anh biết nhưng không thể tiết lộ. Khi âm mưu của nhóm người này bất thành, cha Garnet bị bắt, bị kết tội phản quốc và bị đưa lên giá treo cổ vào 3/3/1603. Ba GSH khác cũng tử đạo trong sự kiện này.


Máu của các GSH cũng đổ xuống trên vùng đất Scotland và Irland vì chính sách của Nữ hoàng Anh và James I: Ogilvie, O’cullanne.


Có thể nói, hoạt động của các GSH trên vùng đất thuộc Vương quốc Anh khá hạn chế vì chính sách hà khắc của chính quyền, tuy nhiên, sứ mạng Anh luôn là một bận tâm của Dòng. Vì thế, Dòng đã dốc sức để thành lập và điều hành các chủng viện để đào tạo giáo sĩ cho giáo hội Anh tại Rome, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và pháp. Những giáo sĩ này trở về quê nhà, nhiều trong số đó đã tử đạo trên chính quê hương mình.


7. Cận Đông


Một nỗ lực lớn lao để hiệp nhất với các giáo hội chính thống Đông Phương đã mở ra dưới triều đại của Gregory XIII: tiến hành các cuộc đối thoại đại kết, trong đó các GSH đóng vai trò là những tham vấn. Đối thoại đại kết đã diễn ra từ năm 1583 trở đi, tại nhiều nơi với nhiều Giáo Hội như Orthodox, Nestorians, Monophysites, Jacobites. Tuy nhiên, tất cả đều thất bại.


Nhóm Nestorius (tại Lavant) vẫn giữ nguyên lập trường Nestorius.


Nhóm Jacobite chấp nhận quyền tối thượng của Giáo Hoàng nhưng không chấp nhận công đồng Chalcedon.


Cuộc đối thoại với nhóm Melkit trắc trở do áp lực của người Thổ Nhĩ Kỳ.


Các thượng phụ tại Giê-ru-sa-lem và Chaldean từ chối đổi thay.

 

8. Viễn Đông


Số lượng các thừa sai chi viện cho phương Đông ngày càng tăng, họ đi theo nhóm các quốc gia. Riêng trong 15 năm đầu của thế kỷ 17, có 130 GSH đã đến các vùng truyền giáo ở phương Đông.


Tại Ấn Độ


Goa vẫn là cứ điểm truyền giáo chính, 3 điểm khác đang phát triển manh: vương quốc Mogul ở phía Bắc, vùng Malabar và vùng Mandurai. Thất bại trong sứ vụ đối thoại tại vương triều Mogul, Rodolfo Aquaviva trở lại hoạt động tại Salsette (gần Goa) và tử đạo 7/1583.


Thomas Stephens (từ 1579) hoạt động mạnh ở vùng bán đảo Salsette và có ảnh hưởng lớn trên quần chúng nhờ tài văn chương của mình. Ông sáng tác văn chương bằng ngôn ngữ Ấn (tác phẩm Purana, có ảnh hưởng lớn đến cộng đồng ở đây. Tại thời điểm ông chết (1619) đã có khoảng 80.000 người bản địa là Công Giáo.


Các thừa sai tiếp tục tiếp cận vùng phía Bắc Ấn với nỗ lực của Jeronimo Xavier (cháu của FX) nhưng không thành công. Cũng tại vùng này, từ năm 1608, các GSH còn phải đối mặt với nạn Tin Lành vì họ theo tàu buôn của anh đến.


Sứ vụ cũng khai mở ở Malabar (nơi có khoảng 200.000 giáo dân Công Giáo chịu ảnh hưởng của phụng vụ Syro-Chaldean. Năm 1599, Tổng Giám Mục Goa (Aleixo Menezes) triệu tập một hội nghị áp đặt nghi lễ Latin lên phụng vụ Malabar, sự rạn nứt trong giáo hội Malabar bắt đầu từ đây.


Tại miền Mandurai, tình hình cũng tương tự, người phương Tây không có ý hướng thích nghi (cả về phương diện tôn giáo lẫn văn hóa, cơ cấu xã hội). Tình hình khả quan hơn khi Alberto de Nobili vào cuộc từ năm 1606). Công cuộc hội nhập văn hóa bắt đầu: Nobili học tiếng Talmi, tự lượng mình thuộc tầng lớp quý tộc (Rajahs) trong chế độ đẳng cấp Ấn Độ. Ông học tiếng Sanskrit và kinh thư Ấn Độ (Veda), bước vào con đường tu tập để trở thành một Sannyasis. Bằng con đường này, Nobili từ năm 1609 đã bắt đầu rửa tội cho 50 người, 1611 rửa tội cho 150 người. Tuy nhiên, từ đây cũng bắt đầu diễn ra sự chống đối, ban đầu là trong nội bộ Dòng Tên, sau đó là giữa giám mục giáo phận và Dòng. Nobili phải nhiều lần giải trình, và công việc của Nobili bị đình trệ hơn 10 năm trước khi có phán quyết cuối cùng của Tòa Thánh.


Tại Nhật Bản


Đang trong thời kỳ thống nhất quốc gia.


Hành động dính bén đến chính trị của bề trên phó giám tỉnh Coelho đã khiến cho triều đình nghi ngờ, dẫn đến sắc chỉ trục xuất năm 1587. Tuy nhiên, sau những chuyến kinh lược của mình, Valignano đã làm cho triều đình chấp nhận Dòng hoạt động âm thầm.


Tuy nhiên, mâu thuẫn về cách thức truyền giáo của Dòng Tên và Dòng Phanxico đã khiến cho nhà cầm quyền thêm nghi ngại, ngày 5/2/1597, sắc lệnh cấm đạo: 26 chứng nhân đức tin ngã xuống trong đó có 6 DHM và 3 SJ.


Công cuộc truyền giáo phục hồi trong hai năm sau, nhưng kể từ 1600, cơn bách hại trở nên dữ dội, cuốn sạch GH Nhật, nhất là khi người Tin Lành vào Nhật và gieo vào đầu óc nhà cầm quyền những điều không tốt về Giáo Hội.


27/1/1614, sắc lệnh trục xuất tất cả thừa sai. Những ai ở lại sẽ phải sống chui rúc và lần lượt tử đạo sau đó, GH Nhật đi vào một giai đoạn âm thầm hơn 200 năm.


Trung Quốc


Ricci (1552-1610) hiện thực hóa chủ trương hội nhập văn hóa của Vaglinano: học và sử dụng lưu loát tiếng Trung Quốc, tiếp cận tầng lớp trí thức, trao đổi văn hóa trên các bình diện tư tưởng, khoa học… Đặc biệt ngài viết khoảng 20 tác phẩm thuộc các lĩnh vực toán, thiên văn.


Vào Trung Quốc năm 1582 nhưng mãi đến 1601 Ricci mới được phép lập một nhà cho GSH tại Bắc Kinh. Khi ngài mất (1610), đã có 2.500 tín hữu, trong đó 400 người ở Bắc Kinh.

 

9. Châu Phi


Các sứ mạng vẫn không nhiều kết quả ngoại trừ Angola (1590 có 20.000 tín hữu).


Khó khăn đối mặt: chiến tranh và nô lệ.

 

10. Brasil, Châu Mỹ thuộc TBN, Philippines


1580, BĐN bắt đầu bị TBN xâm lược và đô hộ trong 60 năm, vùng Brasil vì thế thuộc quyền của TBN cho đến 1640.


Tỉnh Dòng Brasil dấn thân mạnh mẽ vào phong trào định cư cho người bản địa, đồng thời phải đối mặt với nạn buôn bán nô lệ đang thịnh hành thời bấy giờ.


Từ năm 1586 – 1588, các GSH bắt đầu « tây tiến » đến các vùng đất mới : Buenos Aires, Cordoba, Ascuncion.


Tại Mehico, 1600 Dòng mở 7 học viện, định cư cho người thổ dân Chichimeco trong các làng.


Từ Châu Mỹ, các Giê-su hữu TBN đã vượt TBD đến Philippines và thiết lập cộng đoàn đầu tiên năm 1581 với vai trò lãnh đạo của Antonio Sedeno – người thiết lập sứ mạng Mehico. Năm 1595, thiết lập ĐH Manila, và đến 1601 thiết lập chủng viện San Jose – lâu đời nhất Châu Á.

 

11. Những vấn nạn trong công cuộc truyền giáo


Cản trở lớn đối với việc truyền giáo không đến từ người bản xứ nhưng đến từ Châu Âu, hai vấn nạn lớn: chế độ bảo trợ truyền giáo và tương quan giữa các thừa sai với giám mục sở tại.


Vấn nạn I: Chế độ bảo trợ


Thế kỷ XVI, các vị Giáo Hoàng lưu tâm hơn đến việc duy trì cán cân cân bằng giữa Công Giáo phía Tây và Hồi Giáo phía Đông nên đã ủy thác việc bảo trợ truyền giáo cho hai quốc gia Iberia: TBN và BĐN. Quyền này hệ ở chỗ: hai vương triều này được phép gửi giám mục đến những tòa mới lập, điều hành hệ thống thuế của GH và giám sát các tu sĩ. Đổi lại, hai quốc gia này phải chịu mọi phí tổn trong việc gửi thừa sai đi sứ mạng, cấp dưỡng cho họ và xây dựng các thánh đường.


Nhập nhằng việc chính quyền dân sự can thiệp vào việc thuyên chuyển tu sĩ của các Dòng.


Vấn nạn II: Tương quan giám mục sở tại với các Dòng tu:


Các thừa sai bị kẹt giữa Giám mục (vị cha của một địa hạt) và bề trên Dòng mình, phải vâng phục như thế nào?


Vấn nạn khác: Có nên nhận người bản xứ vào Dòng hay không?


Ở vùng bán cầu Tầy: Thí điểm tại Mexico bất thành khiến Dòng do dự. Công nghị 1555 tại Mexico từ chối phong chức cho người bản địa và con lai. Công nghị Lima 1591 chỉ từ chối người bản địa. Quan điểm của Dòng Tên(Acosta – 1588): có thể phong chức nếu người bản địa đủ phẩm chất. Trước đó, tổng quản Borja cũng có cùng suy nghĩ này.


Ở bán cầu Đông, việc bản địa hóa hàng giáo sĩ được khuyến khích, đặc biệt là Valignano. Do thế, năm 1602 đã có 2 GSH người Nhật được lãnh nhận chức linh mục. Hai năm sau có linh mục triều đầu tiên.

 

12. Tổng kết:


Dòng đã cho thấy có một khuôn mặt lưỡng diện thể hiện sức mạnh sự phục hồi: cuộc khủng hoảng trong nội bộ và sự mở ra với những giá trị nhân văn khác phương Tây.


So sánh thế hệ thần học gia lỗi lạc thứ nhất của Dòng (TK XVI) với thế hệ thần học gia TK XX.


Sự năng động, sức mạnh của Dòng thể hiện trong những phương diện khác:


Cuộc hội nhập vào văn hóa Trung Quốc, Ấn Độ.


Truyền thống thánh thiện của những Gonzaga, Kostka, Rodrigez kế tiếp thế hệ thứ nhất: Inha, Xavier, Borja, Canisius, Favre.


Truyền thống anh hùng tử đạo: Azevedo ở Đại Tây Dương, Gioan, Phaolo ở Nhật, Campion, Southwell ở Anh.

 

(dongten.net 17.07.2015)

Lên đầu trang