Kết quả phân tích ADN cho thấy: Không có gien nào gọi là "gien đồng tính" dẫn đến hành vi tình dục đồng giới

9/19/2020 7:54:31 PM
Nghiên cứu mới kết luận rằng không có gien nào gọi là “gien đồng tính”. Thay vào đó, khuynh hướng tính dục cũng như hầu hết các đặc tính nơi một người đều được quyết định bởi sự kết hợp phức tạp giữa các ảnh hưởng di truyền và môi trường. (Kent Nishimura / Los Angeles Times)

ca-times_brightspotcdn_com.jpg

 

Một nghiên cứu mới đã phân tích ADN (Deoxyribonucleic acid – phân tử mang thông tin di truyền – người dịch) của gần nửa triệu người và phát hiện ra rằng: Trong khi những khác biệt về di truyền đóng một vai trò quan trọng trong hành vi tính dục, không có bất cứ một gien riêng lẻ nào chịu trách nhiệm đối với hành vi tính dục của một người.

 

Những phát hiện này vốn chỉ xem xét hành vi và không nhìn vào bản dạng giới (sexual identity) đã làm sáng tỏ khái niệm về một “gien đồng tính” riêng lẻ. Thậm chí khi đã tính đến tất cả các biến dị di truyền từng được kiểm nghiệm, cách chung chúng chỉ giải thích được không quá một phần tư hành vi đồng tính được báo cáo bởi những người tham gia nghiên cứu.

 

Thay vào đó, kết quả được công bố hôm thứ Năm trên tạp chí Science gợi ý về sự pha trộn phức tạp của nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính dục của con người, bao gồm cả xã hội và môi trường.

 

Theo Benjamin Neale, một nhà di truyền học tại viện Broad Institute của MIT và Harvard, và cũng là một trong những thành viên cấp cao của nhóm nghiên cứu này cho rằng: “Chính những phát hiện này đã củng cố ý tưởng rằng sự đa dạng của hành vi tính dục nơi con người thực sự là một phần tự nhiên của sự đa dạng nói chung của con người xét như một giống loài. Đây là một kết quả thực sự có ý nghĩa và quan trọng.”

 

Mặc dù những ước lượng về các trải nghiệm đồng giới có khác nhau, nhưng một cuộc nghiên cứu trên người Mỹ trưởng thành của CDC (Centers for Disease Control and Prevention – Trung Tâm Kiểm Soát Và Phòng Ngừa Dịch Bệnh Hoa Kỳ) năm 2016 cho thấy 6,2% nam giới và 17,4% phụ nữ trong độ tuổi từ 18 đến 44 có ít nhất một trải nghiệm đồng giới trong đời. Một phần nhỏ hơn, 1,3% phụ nữ và 1,9% nam giới tự mô tả họ là đồng tính nữ hoặc đồng tính nam; và 5,5% phụ nữ và 2,0% nam giới cho biết họ là người lưỡng tính – điều này nhấn mạnh sự khác biệt giữa hành vi tính dục và bản dạng giới.

 

Các nhà khoa học từ lâu đã thăm dò bản chất của hành vi đồng tính, tìm ra một số bằng chứng cho thấy trong các nghiên cứu song sinh mà trong đó di truyền đóng một vai trò nhất định. Nhưng các nhà khoa học cũng cho biết, những nghiên cứu như vậy thường chỉ gồm chứa một số lượng nhỏ người tham gia và không sử dụng các phương pháp phân tích gien hiện đại.

 

Melinda Mills, một nhà di truyền học xã hội và phân tử tại Đại học Oxford, người không tham gia vào việc nghiên cứu này cho biết:“Tôi từng thấy một số nghiên cứu khá nghèo nàn với số lượng mẫu phẩm ít ỏi, và các tuyên bố đầy sai sót, vì vậy tôi rất vui vì cuối cùng chủ đề này đã được kiểm tra một cách rất khoa học với một cuộc khảo sát có quy mô.”

Gien và môi trường ảnh hưởng như thế nào đến xu hướng tính dục của một người.

 

Neala và một nhóm nhà nghiên cứu quốc tế đã thực hiện một nghiên cứu về tổ hợp gien. Điều này liên quan đến việc sử dụng các phương pháp thống kê để tìm kiếm những kết nối giữa SNPs – single nucleotide polymorphisms, hay những khác biệt cá thể nơi một cấu trúc đơn lẻ trong mã di truyền – với một đặc tính cụ thể.

 

Việc tìm ra các mẫu nghiên cứu rõ ràng và được kiểm chứng liên quan đến dữ liệu di truyền đòi hỏi một cuộc thí nghiệm có quy mô và các nhà khoa học đã biết phải tìm chúng ở đâu. Họ đã lấy 408.995 hồ sơ cá nhân từ phòng lưu mẫu sinh học ở Vương quốc Anh cũng như 68.527 hồ sơ từ công ty phân tích dữ liệu gien 23andMe tại Hoa Kỳ. Điều này mang lại cho các nhà khoa học một lượng lớn mẫu phẩm của 477.522 người, trong đó 26.827 người được báo cáo có hành vi tình dục đồng giới.

 

Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy hai dấu vết quan trọng trong bộ gien có liên quan đến hành vi đồng tính giữa những người thuộc cả hai giới. Và khi phân tích riêng lẻ bộ gien của nam và nữ, họ đã tìm thấy thêm ba dấu vết – hai dấu vết riêng cho nam giới và một dấu vết riêng cho nữ giới – giúp nâng tổng số các dấu vết di truyền quan trọng lên năm.

 

Tuy nhiên, các nhà khoa học cho biết khi kết hợp tất cả lại, năm vị trí trên bộ gien chỉ có thể giải thích được ít hơn 1% các hành vi tình dục đồng giới trên một cấp độ dân số.

 

Ông Neale cho biết, khi sử dụng một kỹ thuật phân tích khác, các nhà khoa học nhận thấy nếu tính đến tất cả các ảnh hưởng tinh vi của rất nhiều dấu hiệu trong bộ gien mà họ chưa thể xác định cụ thể, thì di truyền có khả năng chịu trách nhiệm ở mức 8% đến 25% hành vi đồng tính của nhóm người này. Bởi vì trong tất cả các khả năng có thể xảy ra, một số lượng lớn các dấu hiệu di truyền hiện chưa biết đến có thể đóng vai trò vô cùng nhỏ bé trong việc hình thành hành vi.

 

Các nhà khoa học cũng cho biết một phân tích khác trong báo cáo, vốn không tập trung vào ADN mà tập trung vào các mối quan hệ gia đình giữa 106.979 cặp cá thể, cho rằng sự phân phối biến thể có phần trội hơn trong hành vi đồng tính, 32,4%, có thể được quy cho di truyền. Các nhà khoa học cho rằng con số đó có thể tính đến các hiệu ứng di truyền phức tạp khác ngoài SNPs, mặc dù nó cũng có thể bị ảnh hưởng bởi một số giả định chịu ảnh hưởng từ khuôn mẫu cũ.

 

Trong số năm SNPs quan trọng mà các nhà khoa học tìm thấy, những SNPs cụ thể đối với nam giới có liên quan đến các gien cảm thụ mùi, độ nhạy cảm với một số mùi hương nhất định và sự sắp đặt hormone giới tính chẳng hạn như testosterone.

 Ông Neala nói rằng, phát hiện này “gợi lên những ý nghĩa nhất định, nhưng một lần nữa, chúng ta không có nhiều điều để nói xa hơn, ngoài mô tả ở mức cao đó mà thôi.”

 

Khi nói đến hành vi tính dục, bà Miller, người đã viết bình luận về kết quả này đã đề cập đến sự chồng chéo chưa hoàn chỉnh giữa các dấu hiệu di truyền liên quan đến các hành vi đồng tính của nam và nữ là một dấu hiệu cho thấy các tiến trình có phần khác nhau có thể diễn ra ở nam và nữ khi nó liên quan đến hành vi tính dục. Điều này cũng có thể nói lên những ảnh hưởng khác nhau của các chuẩn mực xã hội theo giới tính.

 

Bà còn nói thêm, điều này chắc chắn có nghĩa là tính dục của con người không đơn giản như một số người vẫn muốn tin như thế.

 

Bà viết: “Có một khuynh hướng muốn quy tính dục cho thuyết xác định di truyền. Trong một số trường hợp, quan điểm này nhằm giảm sự kỳ thị liên quan đến hành vi đồng tính; một số trường hợp khác phân loại nó như một bệnh lý. Nhưng các phát hiện cho thấy trong khi một loạt các dấu hiệu di truyền có thể giúp giải thích sự đa dạng cơ bản của hành vi tính dục nơi con người, thì những dấu hiệu này quá phức tạp để có thể dự đoán hoặc ngăn chặn hành vi tính dục.”

 

Ông Neale cho rằng, nếu có ít hơn một phần ba hành vi tính dục của con người liên quan đến di truyền, thì phần còn lại đến từ đâu? Môi trường, văn hóa và các yếu tố khác có thể đóng một vai trò quan trọng.

 

Điều này có phần tương tự với các đặc tính nơi con người, chẳng hạn như chiều cao vốn bị chi phối bởi một thành phần di truyền nhất định nhưng cũng có thể chịu ảnh hưởng bởi một loạt các yếu tố khác, chẳng hạn như dinh dưỡng và môi trường.

 Các nhà nghiên cứu cho biết, chính xác mà nói thì quan điểm cho rằng các yếu tố môi trường và văn hóa đóng vai trò nào đó vẫn còn chưa rõ ràng, bởi vì những yếu tố này rất đa dạng và phức tạp, khó xác định và cần nghiên cứu nhiều hơn về các dấu hiệu di truyền cụ thể.

 

“Gien là một lãnh địa rộng lớn, mặc dù vậy, chúng ta có thể đánh giá nó một cách có hệ thống như chúng tôi làm ở đây. Chúng ta hiện không có công cụ tương đương để xét đến yếu tố môi trường” – ông Neale nói.

 

Các nhà khoa học cũng đã xem xét cụ thể các chủ thể phi dị tính luyến ái (nonheterosexual) trong nghiên cứu này – những người có ít nhất một trải nghiệm đồng giới – và hỏi họ về tỷ lệ bạn tình đồng giới của họ. Các phản hồi được phân loại theo thang điểm sáu, từ “hầu hết với người khác giới” cho đến “chỉ với người cùng giới.”

 

Về khía cạnh này, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy yếu tố di truyền có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đối với hành vi đồng tính ở nam giới so với ở nữ giới.

 

Họ cũng thấy rằng các yếu tố di truyền ảnh hưởng lên tỷ lệ bạn tình đồng giới so với bạn tình khác giới của một người vẫn có sự khác biệt với những yếu tố di truyền phân tách những người có kinh nghiệm đồng giới khỏi những người chỉ có kinh nghiệm khác giới.

 

Điều này có nghĩa là thước đo Kinsey và các khuôn mẫu khác giúp xác định hành vi tính dục vốn cho rằng một khi sức hấp dẫn đồng giới lớn hơn thì sức hấp dẫn khác giới ít hơn là không chính xác. Các nhà khoa học cho biết chắc hẳn những khuôn mẫu này đã dựa trên sự hiểu lầm hoặc việc tối giản hóa quá mức trong các tiến trình nghiên cứu.

 

Andrea Ganna, nhà di truyền học con người tại Viện Y học Phân tử ở Phần Lan cho biết: “Từ góc độ di truyền, không có sự liên tục nào từ hành vi tính dục khác giới đến hành vi tính dục đồng giới.”

 

Việc xác nhận tính đa dạng sâu rộng của hành vi tính dục nhắc lại những gì các nhà nghiên cứu cho biết họ đã nghe nói trong các cuộc thảo luận về kết quả với các đại diện của cộng đồng LGBTQ.

 

Theo Mills: “Cộng đồng LGBTQ+ đã tranh cãi trong một thời gian dài về sự tồn tại của một loạt các kiểu tính dục dạng này; đó không phải là nhị phân giữa 0 và 1. Tôi nghĩ đó là những gì mà các phân tích bổ sung này đã cho thấy.”

 

Các nhà khoa học đã nhanh chóng chỉ ra rằng những phát hiện này dựa trên một tập hợp người và không thể áp dụng ở cấp độ cá thể. Họ cũng cảnh báo rằng công trình nghiên cứu này, dù trong bất cứ trường hợp nào, không thể dùng để cố gắng “cải tạo” những người có hành vi đồng giới, và xét rằng như thế sẽ dẫn đến lối giải thích sai lầm trắng trợn về các phát hiện của nghiên cứu này.

 

“Nói một cách đơn giản, đó không phải là phản ảnh hay miêu tả thích hợp đối với công trình mà chúng tôi đã thực hiện” – ông Neale nói.

 

Các quan chức của GLAAD, một tổ chức ủng hộ LGBTQ, đã ca ngợi nghiên cứu này.

 

Zeke Stokes – Giám đốc Chương trình của GLAAD chia sẻ trong một tuyên bố: “Nghiên cứu mới này cung cấp nhiều bằng chứng hơn cho thấy rằng đồng tính nam hay đồng tính nữ là một phần tự nhiên của cuộc sống con người, một kết luận đã được các nhà nghiên cứu và các nhà khoa học rút ra nhiều lần. Công trình này cũng tái khẳng định hiểu biết đã có từ lâu cho rằng không có bất cứ cấp độ mang tính chung cuộc nào liên quan đến ảnh hưởng của yếu tố di truyền (nature) hay môi trường (nurture) lên hành vi của một người đồng tính nam hay đồng tính nữ.”

 

Nancy Cox, một nhà di truyền học con người ở Đại học Vanderbilt, người không tham gia vào nghiên cứu này đã khen ngợi các nhà khoa học trong việc xem xét tính phức tạp vốn có trong chủ thể hành vi tính dục.

 

Cox cũng nói thêm: “Tôi hy vọng chúng ta tiếp tục suy nghĩ về điều này nhiều hơn, về cách thức chúng ta thực hiện với nhiều loại hành vi khác mà không kèm theo những ồn ào và cáo buộc mà những hành vi này thường phải chịu.”

 

Các nhà nghiên cứu đã thừa nhận một số hạn chế trong nghiên cứu này. Ví dụ, nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các cá nhân có nguồn gốc châu Âu. Nó cũng không bao gồm những người mà giới tính sinh học và giới tính tự xác định của họ không trùng khớp nhau.

 

Các tác giả nghiên cứu đã viết: “Các phân tích không bao gồm người chuyển giới, lưỡng giới và những cá thể và nhóm người quan trọng khác trong cộng đồng có giới tính khác biệt. Chúng tôi hy vọng rằng giới hạn này sẽ được giải quyết trong nghiên cứu tương lai.”

 

Các nhà nghiên cứu cho biết những phát hiện của họ còn lâu mới có thể đưa đến kết luận cuối cùng về sự phức tạp chưa thể xác định của giới tính con người.

 

Neala còn cho biết trong nhiều cách thức, công việc này đặt ra nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời.

 

Tác giả: Amina Khan

 Chuyển ngữ: Thảo Thảo

 Hiệu đính: Minh Vương

(dongten.net 19.09.2020 / latimes.com )

Lên đầu trang