Kể chuyện một chuyến đi

2/14/2012 7:41:38 AM
Những phương tiện giao thông tiện lợi và đa dạng ngày nay giúp người ta đi lại thật dễ dàng. Du lịch nước ngoài không còn là điều xa lạ và “quý phái” với nhiều người Việt Nam.

Tuy nhiên cho đến mãi hôm nay một nhóm anh em linh mục Long Xuyên chúng tôi mới có cơ hội sang thăm đất nước Cambodia, mà về mặt địa lí, không quá xa cách với miền Tây Nam bộ thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long. Chuyến đi kéo dài bốn ngày đã để lại khá nhiều thích thú nơi mỗi người. Người xưa nói: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”, chúng tôi đã đi đến bốn ngày, chắc phải có nhiều điều đáng nhớ, đáng kể lại.

Điều làm mọi người hài lòng là chuyến du lịch được kết hợp với việc thăm viếng mục vụ những cộng đoàn tín hữu người Việt đang sinh sống tại Cambodia. Vì thế, mỗi lúc có dịp là chúng tôi dành thời giờ ghé thăm hoặc dâng thánh lễ cho những anh chị em tín hữu này. Những lúc như thế, chúng tôi thật sự sống lại bầu khí của cộng đoàn tín hữu thời sơ khai khi cử hành Thánh thể. Đó là, những người tham dự thánh lễ đều liên đới với nhau bằng mối liên hệ chằng chịt những cấp độ họ hàng: Cô, dì, chú bác, ông bà, con cháu nội ngoại, người giúp việc, kẻ làm thuê…đến nỗi thánh Phaolô đã mững rỡ coi những cộng đoàn này như chính gia đình ruột thịt của mình. Chúng tôi cũng kết thúc mỗi buổi lễ bằng bữa ăn agapê hết sức thân tình vui vẻ; mọi người cười nói, kể chuyện vui tươi trong chan hòa tình nghĩa thắm thiết. Rốt cuộc, điều còn đọng lại trong tầng sâu kỉ niệm của mỗi người về chuyến đi không phải là những đền đài miếu mạo huyền bí đã từng lôi cuốn biết bao du khách thế giới đến với “xứ sở nụ cười”; cũng không phải là những vết tích lịch sử đen tối đã từng diễn ra trên mảnh đất nằm sát nách với Việt Nam vào một giai đoạn có cùng chung một số phận, một bối cảnh xã hội, để mà “tận mục sở thị” những gì là tàn bạo, ghê rợn nhất còn lưu sót tại đó; mà chính là những lời nói, những nụ cười thân thương, những cách đối đãi, những món quà kỉ niệm nhỏ bé đầy ý nghĩa của những giáo dân Việt Nam gửi tặng mỗi người khi chia tay, khiến người đi kẻ ở lại đều như “chết trong lòng một ít” lúc cất bước giã từ…Quả thật, chính tình cảm thân thương, đơn sơ, hồn nhiên đó đã làm cho chúng tôi hết sức cảm động và tạo cho chuyến đi có nhiều ý nghĩa đậm đà.

Còn riêng tôi, điều làm tôi xúc động nhất và khiến tôi vương vấn suy nghĩ mãi suốt những ngày trở lại, đó là hình ảnh một vị chủ chăn của Giáo hội Cambodia thời Khmer Đỏ, còn lưu lại một vài dấu tích để làm chứng cứ lịch sử, mà tôi bất ngờ gặp trên đường đi. Tôi xin kể lại đôi nét về ngài để chia sẻ một vài cảm nhận riêng tư.

Đó là Đức cha Giuse Chhmar Salas, sinh ngày 21 tháng 10 năm 1937 tại Phnom Penh. Ngài được tu học tại Paris và được thụ phong linh mục năm 1964. Sau khi chịu chức linh mục ngài được chỉ định phục vụ tại Tòa giám mục Battambang một thời gian ngắn rồi trở lại nước Pháp để tiếp tục việc học. Tháng tư năm 1975 Khmer Đỏ nắm chính quyền tại Cambodia, họ bắt đầu trục xuất tất cả những người ngoại quốc, kể cả các linh mục và tu sĩ. Lúc đó, Đức cha Yves Ramousse đang giữ vai trò là chủ chăn của toàn Giáo hội Cambodia. Linh cảm thấy trước là mình sẽ phải rời bỏ cộng đoàn tín hữu thân yêu, ngài đã cho gọi cha Salas trở lại Cambodia. Cha Salas mau mắn vâng lời và vội vã trở về nước. Sự trở về của ngài vào lúc này có nghĩa là chấp nhật tất cả những hệ lụy khó khăn nhất xảy đến cho mình.

Giuse-ChhmarSalas.jpg

Ngày 14 tháng tư năm 1975 Tòa thánh chỉ định cha Giuse Chhmar Salas làm giám mục phụ tá Giáo phận Phnom Penh, lúc đó ngài đã làm linh mục được 11 năm. Với việc chỉ định lịch sử này Đức cha Giuse Chhmar Salas đã trở thành vị giám mục bản xứ đầu tiên và duy nhất cho tới nay của Giáo hội Cambodia. Thật ra trong cơn “dầu sôi lửa bỏng” Đức cha Ramousse đã bí mật tấn phong giám mục cho cha Chhmar Salas vào ngày 6 tháng tư, nghĩa là trước khi có quyết định chính thức của tòa thánh, để rồi vào ngày 30 tháng tư 1975 ngài bị trục xuất cùng với nhiều linh mục và tu sĩ ngoại quốc khác. Nhận thấy nhu cầu mục vụ cấp bách của Giáo hội Cambodia, và nghĩ rằng mình không còn có thể trở lại đất nước này nữa, năm 1976 Đức cha Ramousse đã xin tòa thánh thôi giữ trọng trách chủ chăn và trao toàn quyền mục vụ cho Đức cha Salas. Vị giám mục trẻ này vừa được tấn phong hai tuần lễ đã bị lùa vào một trại cưỡng bức lao động tại cánh đồng Taing Kok, thuộc tỉnh Kompong Thom cách Phnom Penh khoảng 100 km. Đức cha Salas chấp nhận công việc lao động khổ sai khắc nghiệt để cùng hiện diện và củng cố đức tin cho các anh chị em tín hữu. Ngài luôn bí mật di chuyển đến các nhóm tín hữu sống tản mác trong các trại tập trung lao động để an ủi khích lệ mọi người trong hoàn cảnh bi thảm cùng cực. Nhiều lần ngài đã can đảm cử hành thánh lễ với một chút rượu trong chiếc gáo dừa được dùng làm chén thánh và vài mụn bánh lễ che giấu một cách kín đáo, với sự canh chừng gan dạ và liều lĩnh của các phụ nữ đạo đức, giả dạng như những người đi nhặt củi chung quanh. Ngài được chỉ định ở trong một căn chòi lá dưới sự giám sát nghiêm ngặt của các tổ lính đặc vụ. Khi nhận thấy mình không thể thoát khỏi nanh vuốt của những con người tàn bạo, Đức cha đã gửi lại nhẫn và thánh giá giám mục cho người mẹ thân yêu của mình. Bà mẹ cẩn thận cất giấu những bảo vật này trong một cái thúng ủ một đàn gà con. Người ta kể lại rằng khi Đức cha Ramousse được tái bổ nhiệm giám mục Phnom Penh vào ngày 6 tháng 7 năm 1992 và trở lại Cambodia sau nhiều năm tháng bị lưu đày thì bà mẹ này tìm đến Đức cha đã tấn phong cho con mình, bà kính cẩn trao thánh giá giám mục lại cho Đức cha, còn chiếc nhẫn thì bà nói rằng trong cơn túng quẫn cùng cực bà đã bán mất để lấy tiền duy trì sự sống! Như vậy cho đến lúc chết Đức cha Salas cũng vẫn còn giúp ích cho người khác. Về phần Đức cha Salas, vì quá suy kiệt do lao động khổ sai và bị truy bức nặng nề về tinh thần, ngài đã mất vào khoảng tháng 7 năm 1977, không ai xác định được ngày nào. Và ngài được chôn vùi sơ sài trong một đám bụi cỏ ở đâu đó, không còn để lại dấu tích gì cả. Như vậy, Đức cha Giuse Chhmar Salas đã giữ vai trò chủ chăn của Giáo hội Cambodia khoảng 2 năm rưỡi trong một hoàn cảnh lịch sử đen tối và bi thảm nhất của đất nước này trong thời cận đại.

Đức cha Salas là chứng nhân sống động cho mầu nhiệm thánh giá nơi người Kitô hữu, là vị chủ chăn trung thành, gương mẫu, can đảm sống chết với đoàn chiên non trẻ. Gương sáng của ngài làm chúng ta liên tưởng tới những vị chủ chăn thánh thiện, đầy khôn ngoan và can trường trong những thời khắc đen tối nhất của lịch sử Giáo hội, như Đức hồng y Stefan Wyszyński, giáo chủ Ba Lan, Đức giám mục Oscar Romero của El Salvador, Đức hồng y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận của Việt Nam... Khi đoàn chiên tan tác, hoảng loạn, có nguy cơ bị tiêu diệt thì các ngài xả thân, dang cánh tay che chở như “gà mẹ ấp ủ con dưới cánh”, giúp cho các tín hữu trung thành sống đức tin và vượt qua những thử thách nghiệt ngã.

Tangkok_Catholic_Church_in_TaingKok-KompongThom.jpg
ảnh: Albeiro Rodas

Ngày nay, giữa đoạn trung lộ của con đường số 6 nối kết hai thành phố Phnom Penh và Siem Reap, ở cây số thứ 99 và 100, người ta dựng một bảng ghi “CATHOLIC CHURCH TAING KOK” (Giáo hội Công giáo tại Taing Kok), nơi người ta tin là Đức cha Salas và một số tín hữu đã sống và làm chứng cho đức tin một cách kiên cường bất khuất. Một chòi lá đơn sơ mộc mạc cũng được dựng lên, trong đó có treo di ảnh của Đức cha Salas, một số giáo dân và linh mục, cùng một số vật dụng thô sơ như những chứng tích của một giai đoạn lịch sử. Gần đó, một cây thánh giá cao khoảng 2 mét đứng hiên ngang trong một khoảng đất cao có những hàng gạch bao quanh. Thánh giá nổi bật giữa nền trời xanh, xen lẫn mầu xanh thẫm của những cây thốt nốt đặc trưng của đất nước Cambodia như nói lên sức sống mạnh mẽ của hạt giống đức tin đã được gieo vãi nơi đây. Một người giáo dân ở đây cho biết, vào năm 2000, dịp cử hành Năm Thánh của Giáo hội toàn cầu, Đức chân phước Gioan Phaolô II đã khuyến dụ Giáo hội Cambodia cử hành năm thánh tưởng niệm những vị tử đạo của đất nước này, và cây thánh giá ấy đã được dựng lên để làm kỉ niệm. Những giáo dân khắp nơi mang những nắm đất, nơi những Kitô hữu đã ngã xuống vun vào chân cây thánh giá, làm cho nền đất tăng cao.

 

 Cambodia.jpg


Có lẽ các du khách là Kitô hữu đi qua đây đều dừng lại, trước một hình ảnh quá hào hùng, ấn tượng và mời gọi. Mỗi người được nhắc nhớ thinh lặng và cầu nguyện cho Giáo hội Cambodia, từ quá khứ cho đến hiện tại và tương lai, vẫn còn dẫy đầy những khó khăn và thử thách. Chúng tôi đã dừng lại ở đây khá lâu trước khi tiếp tục chuyến đi. Nhìn ngắm quang cảnh lòng mỗi người đều chùng xuống thật sâu. Riêng tôi bỗng bật lên lời ca của một bài hát rất quen thuộc: “Không có tình yêu nào trọng đại cho bằng chết vì yêu, nhìn Chúa đẫm máu trên đồi cao, từng đoàn người anh dũng tiến ra pháp trường”. Và lời ca này đã theo tôi suốt quãng đường còn lại của chuyến hành trình.

 

Lm Giuse Ngô Quang Trung

Lên đầu trang