Hoà Bình

1/9/2012 5:44:15 PM
Hòa bình là một trong những khát vọng lớn và dai dẳng nhất của con người. Con người yêu thích hòa bình và mong muốn có cuộc sống an bình. Nhưng từ bao đời nay, hòa bình vẫn như một thực tại chỉ thuộc về tương lai, nên con người vẫn cứ phải hướng tới nó mà không biết dừng lại ở đâu, vì hòa bình vẫn cứ nằm ngoài tầm tay của họ.

Ngày đầu năm Dương lịch, Giáo Hội cầu nguyện cho hòa bình thế giới. Khung cảnh Phụng vụ Tết Dương lịch với thánh lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, cho chúng ta thêm niềm tin và hy vọng vào một nền hòa bình thật sự đang gần kề. Đức Maria là Nữ Vương Hòa Bình, nên việc dâng Năm Mới cho Mẹ trong nỗi niềm trông chờ một cuộc sống bình an là điều có cơ sở vững vàng. Mẹ sẽ hộ phù để chúng ta có được hòa bình đích thật, vì hòa bình đích thật chỉ có ở nơi Thiên Chúa. Mẹ sẽ giúp chúng ta đến được với Chúa để trở nên con cái của Đấng là Chủ Tể của nền hòa bình tuyệt đối.

Nhịp Sống Đạo trong số đầu năm xin dành phần trang của mình để chia sẻ đôi điều liên quan đến hòa bình và để cùng cầu nguyện cho sự hòa bình của mọi người.

1. Hòa bình theo cái nhìn của Kinh Thánh.

Kinh Thánh cho chúng ta biết thế nào là hòa bình đích thật và đâu là nguồn mạch của nền hòa bình ấy. Quan điểm của Kinh Thánh rất rõ ràng rằng hòa bình đích thật là nền hòa bình giúp con người đạt được cứu cánh của mình, khi con người được đưa vào trật tự ban sơ trong mối dây giao hảo thân tình với Thiên Chúa. Và nền hòa bình ấy ngày nay chỉ có được nhờ Thiên Chúa qua chính Con Một của Người là Đức Ki-tô “Vua Hòa Bình”, “Hoàng Tử Bình An” (Is 9,5), Đấng có khả năng ban cho nhân loại một sự bình an “không như thế gian ban tặng” (Ga 14,27). Hòa bình mà Thiên Chúa ban vượt xa những gì mà con người cố công xây dựng.

Thiên Chúa là nguồn mạch của bình an (x. Tl 6,24). Người đã tạo dựng mọi sự trong sự hòa điệu hoàn hảo. Sự hòa bình ban sơ thể hiện qua mối tương quan mật thiết giữa con người với nhau, với vạn vật và với Thiên Chúa (x. St 4,1-16). Nhưng rồi sự đổ vỡ đã đến, khi con người đi ngược lại với trật tự Thiên Chúa thiết lập. Ngay sau khi đổ vỡ, con người đã phải xa rời Thiên Chúa, kết án nhau và thù địch với vạn vật. Sự việc Cain giết chết em mình, cho thấy máu đã đổ, bạo lực đã bắt đầu và nó sẽ không bao giờ đội trời chung với hòa bình. Hòa bình đã có đối thủ từ đấy.

Về phần mình, Thiên Chúa vẫn là Chủ Tể của hòa bình. Người không hiện diện trong bạo lực nhưng mãi mãi là Đấng thiết lập sự bình an (x. 1Sb 22,8-9). Người ở đâu thì bình an ở đó. Người là Núi Đá, là Thành Trì che chắn cho dân Người. Người sẽ gầy dựng một thế giới của bình an (x. Is 2,2-5), nơi đó công lý và hòa bình sẽ ngự trị “cho đến khi mặt trăng không còn chiếu sáng” (Tv 72,7) và sẽ “nói lời hòa bình với dân Người, với kẻ trung hiếu” (Tv 85,9) rằng “ân nghĩa và tín thành sẽ hội ngộ; công lý và hòa bình sẽ áp má hôn nhau” (Tv 85,11).

Dân Do-thái là dân tuyển chọn, cũng là dân của hòa bình, dân thừa hưởng sự bình an. Lời chào họ trao cho nhau mỗi khi gặp là “Sha-lom” (bình an) như ước nguyện và gia tài cơ bản nhất của họ. Thủ đô của vương quốc họ có tên là Sa-lem, bình an. Vị vua anh minh của họ, được Thiên Chúa tuyển chọn là Sa-lô-mon, cũng là vua bình an... Nhưng quan trọng hơn cả, Vương quốc của Đấng Thiên Sai mà họ mong đợi, là Vương Quốc của Bình An (x. G 25,2; Tv 29, 37, 85, 119).

Niềm mong đợi ấy đã được các Ki-tô hữu xác quyết nhờ niềm tin vào Đức Ki-tô, khi họ tuyên xưng Chúa Giê-su là “bình an của chúng ta” (Ep 2,14), Đấng hòa giải sự bất hòa lớn nhất là mối bất hòa con người có với Thiên Chúa (x. Ep 2,14-16). Niềm xác tín của các Ki-tô hữu dựa trên sự thật rằng Đức Ki-tô Phục Sinh đã đem lại sự bình an đích thật cho họ. Chính Ngài, sau khi chỗi dậy từ cõi chết, đã đến với các Tông đồ bằng lời chào “Bình an cho anh em” (Lc 24,36; Ga 20,19.21.26). Họ đã sống và xây dựng sự bình an bằng việc thực hành Lời Đức Ki-tô dạy, để “khi vào nhà nào”, họ cũng nói “bình an cho nhà này” (Lc 10,5) và trong mọi giờ kinh nguyện, lời cầu tha thiết nhất vẫn là “Xin tha tội cho chúng con, như chúng con cũng tha, kẻ có nợ với chúng con” (Mt 6,12). Và trong tâm khảm của mình, họ đều nhớ rõ lời chúc phúc “Phúc cho những ai xây dựng hòa bình, họ sẽ là con cái Thiên Chúa” (Mt 5,9).

2. Những khía cạnh của hòa bình.

“Hòa bình” là một từ ngữ có nội hàm rất rộng và rất sâu. Nó là một thực tại vừa có tính vật chất vừa có tính tâm linh và tinh thần. Hòa bình ở bình diện vật chất khi hòa bình là sự vắng bóng chiến tranh và trật tự được vãn hồi; ở khía cạnh tâm linh là khi nó được cảm nghiệm bởi tâm hồn con người qua tình trạng an bình trong nội tâm. Ở bình diện vật chất, danh từ hòa bình mang nghĩa hẹp và cô đọng vào những thực tại khả giác, như khi tiếng súng im lặng, cuộc chiến tạm ngưng, quân thù bị đánh đuổi... Còn ở bình diện tâm linh, hòa bình được hiểu theo nghĩa rộng và nó thâm nhập vào nhiều địa hạt thuộc phạm vi tinh thần, nơi đó sự bình an, niềm hạnh phúc và các quyền cơ bản của con người được bảo đảm. Bởi lẽ đó, đạt được hòa bình ở bình diện vật chất thì dễ hơn, còn đạt được hòa bình ở bình diện tâm linh thì khó hơn nhiều.

Nhưng chỉ khi đạt được hòa bình ở bình diện tâm linh, người ta mới có nền hòa bình thật sự. Thành ra, dù việc đạt được hòa bình ở bình diện vật chất là rất đáng trân trọng, vì nhiêu đó cũng đã là một cố gắng đến cả đổ máu rồi, nhưng cần tiến thêm nữa, để đạt đến nền hòa bình toàn diện hơn, là nền hòa bình bảo đảm cho con người bình an, hạnh phúc, tự do dân chủ và các quyền căn bản, để họ sống một đời sống đúng phẩm giá làm người.

Thực tế ở nhiều quốc gia, nhà cầm quyền đã chỉ đạt được nền hòa bình có tính vật chất, khi họ đánh đuổi được ngoại xâm hay lật đổ được chính quyền cũ. Nhưng đau lòng là họ chỉ dừng lại ở đó, để rồi lo vun đắp cho thế lực của mình hầu có thể thống trị con dân theo ý họ. Lắm trường hợp, người ta vẫn gọi nền hòa bình vật chất mới đạt được là “hòa bình được lập lại”, thật sự đó chỉ là một sự thỏa mãn về tham vọng quyền lực của một nhóm người, còn người dân có được sống trong hòa bình hay không thì hãy còn phải chờ đợi. Hòa bình sau thay cho hòa bình trước, chẳng qua chỉ là một sự chuyển giao giữa hai nhà cầm quyền, một sự “thay ngôi đổi chủ”, kinh qua cảnh đầu rơi máu chảy của dân đen, chứ không có gì đáng gọi là là hòa bình hơn cả.

Cần thiết phải xây dựng nền hòa bình tâm linh hay tinh thần. Và chính ở khía cạnh tâm linh, mà hòa bình đạt được mức độ tròn đầy hơn, nên không thể xây dựng hòa bình, mà lại không xây dựng những giá trị tâm linh khác. Do đó, ta hãy nhìn thêm hòa bình trong mối tương quan với các giá trị tâm linh khác.

- Hòa bình với tự do. Dĩ nhiên cần hiểu tự do muốn nói đây là tự do hợp nhân tính, hợp đạo đức. Hòa bình không thể tách rời khỏi tự do, vì không thể có hòa bình mà lại không có tự do. Con người có tự do khi được phép thực hiện mọi hoài bão, mọi ước mơ, được phép phát huy mọi khả năng và theo đuổi sở thích của mình. Con người sống trong hòa bình là con người có quyền ăn, quyền nói, quyền giao lưu, quyền tham gia hiệp hội lành mạnh. Họ cũng cần được tự do bày tỏ những nguyện vọng chính đáng và no thỏa các hoạt động tinh thần bậc cao như sinh hoạt tôn giáo, tự do tín ngưỡng... Hòa bình mà không mang lại cho con người sự tự do để thăng tiến, thì chỉ là hòa bình nửa vời, hòa bình trên bề mặt lý thuyết, hòa bình giả tạo che đậy một sự thiếu hòa bình nghiêm trọng bên trong.

- Hòa bình với dân chủ. Hòa bình cũng gắn liền với dân chủ, khi con người vừa sống trong bình yên về quân sự, về chính sự, vừa được bảo đảm các quyền về hành pháp, lập pháp và tư pháp. Hơn nữa, họ cũng cần được bảo đảm các quyền cơ bản để sống trong phạm vi cộng đoàn địa phương và hòa nhập vào cộng đồng thế giới. Họ cần được tự do chọn người đại diện mình trước pháp luật, để nói tiếng nói công lý thay cho mình. Hòa bình gắn liền với dân chủ, nên hòa bình cũng phải là hoa trái của công lý, bảo đảm sự công bằng trong các thiện ích xã hội và tính công bằng trong các cơ hội thăng tiến của mọi cá nhân.

- Hòa bình với phẩm giá con người. Hòa bình là để giải phóng con người. Nên nhiệm vụ đầu tiên của hòa bình là bảo đảm phẩm giá của con người. Phẩm giá ấy bao gồm trước hết là sự sống. Con người cần được bảo vệ phẩm giá qua việc được tôn trọng quyền sống từ khi hình thành trong dạ mẹ, cho đến khi qua đời cách tự nhiên. Trong số những tội xúc phạm đến phẩm giá con người, thì xúc phạm sự sống là tội nghiêm trọng nhất. Bên cạnh đó, con người chỉ được cho là sống trong hòa bình, khi họ được phép phát huy những khả năng trí tuệ và mọi tài năng thiên phú khác, cùng tự do cống hiến tất cả cho sự nghiệp chung. Khi dùng tài năng của mình để phục vụ cộng đồng, con người sẽ hạnh phúc vì cảm thấy bản thân mình có giá trị và hữu ích thật sự. Để thực hiện điểm này, cần xóa tan mọi nghi kỵ, kỳ thị và mọi ranh giới về bậc sống, tôn giáo và sắc tộc. Một nền hòa bình đúng nghĩa, phải là nền hòa bình giúp cho con người thăng hoa những phẩm giá làm người, và nếu có thể, họ dám vươn cao vượt trên số phận của đời họ như cánh đại bàng vượt qua những rặng núi là những đau khổ tinh thần, dị tật thể xác... nơi cả những người kém may mắn nhất.

- Hòa bình với sự ổn định đời sống vật chất. Hòa bình còn có sứ mạng bảo đảm sự ổn định đời sống vật chất cho con người. Không có hòa bình trong đói nghèo, lạc hậu, bệnh tật. Có hòa bình mà không có đủ cơm ăn áo mặc, không được học hành, bảo đảm an sinh... thì cũng là hòa bình giả tạo. Sự bần cùng của người dân là ngòi thuốc súng đáng sợ nhất, sẽ có ngày nổ tung. Cho nên, sau khi đánh đổ được thế lực áp bức, thì việc kế tiếp là phải lo cho sự no cơm ấm áo của người dân.

Tóm lại, hòa bình gắn liền với những giá trị tinh thần khác như cách để khẳng định mình. Thiếu những giá trị ấy, hòa bình sẽ rất lỏng lẻo và vô bổ.

3. Giáo Hội và hòa bình nhân loại.

Dù không phải là cơ quan hay một nhà nước liên bang chỉ nhằm bảo vệ hòa bình cho nhân loại, nhưng vì Giáo Hội hiện diện với nhân loại và chia sẻ “hy vọng và lo âu” (GS, 4) của nhân loại, nên “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của những người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Ki-tô” (ib. 1). Trong cái nhìn ấy, Giáo Hội ý thức vai trò của mình trong việc ra sức tìm kiếm và chung tay xây dựng nền hòa bình đích thật và văn minh tình thương cho nhân loại.

Hơn ai hết, Giáo Hội nhận ra bản chất thật của hòa bình. “Hòa bình không hẳn là vắng bóng chiến tranh, cũng không được giản lược vào sự quân bình giữa các lực lượng đối phương, cũng không xuất phát do một nền cai trị độc tài, nhưng theo đúng nghĩa, thì hòa bình là ‘công trình của công bằng’. (Is 32,7). Hòa bình là kết quả của một trật tự đã được chính Thiên Chúa, Đấng Sáng lập, ghi khắc vào xã hội loài người và phải nhờ những người luôn luôn khao khát một nền công bằng hoàn hảo hơn thể hiện ra trong hành động” (ib. 78).

Giáo Hội cũng thẳng thắn chỉ ra những kẻ thù của hòa bình. Đầu tiên là chiến tranh. Giáo Hội lên án chiến tranh, đặc biệt khi sự “dã man của chiến tranh” (ib. 80) được đẩy lên cùng cực bằng “chiến tranh toàn diện” mà gần đây là sự áp dụng các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt hay các loại vũ khí để lại hậu quả và tàn tích không thể khắc phục. Giáo Hội cũng phản đối việc dùng chiến tranh như phương thế để chấm dứt chiến tranh, hay để đạt được công lý (x. Đức Gioan XXIII, Hòa Bình trên Thế Giới), vì chiến tranh tự nó sẽ dẫn đến những diễn biến phức tạp khôn lường (x. Đức Gioan Phao-lô II, Nói chuyện với các Giám mục theo Lễ Điển La-tinh ở Bán Đảo Ả-rập; Đức Phao-lô VI, Nói chuyện với các Hồng y 1964). Đối với Giáo Hội, “chiến tranh là sự thất bại của nhân loại” (x. Đức Gioan Phao-lô II, Sứ điệp Hòa Bình 1999) và “Hòa bình không làm mất điều gì, còn chiến tranh thì làm mất tất cả” (x. Đức Gioan Phao-lô II, Sứ điệp Hòa Bình 1993).

Bên cạnh chiến tranh, việc chạy đua vũ trang cũng là kẻ thù đe dọa hòa bình thế giới. Giáo Hội cho rằng “cuộc thi đua võ trang, công việc mà khá nhiều quốc gia đang theo đuổi, không phải là một con đường an toàn để duy trì hòa bình một cách vững chắc” (GS. 81). Ngày nay, khi kỹ thuật chế tạo vũ khí đạt tới mức cao nhất, chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào và nền hòa bình thế giới cứ phải ở trong tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc”, khi các chủ nhân, ỷ vào kho vũ khí tối tân của mình, vẫn cứ như muốn ăn tươi nuốt sống nhau.

Chiến tranh và chạy đua vũ trang là hai kẻ thù ghê gớm nhất của hòa bình. Bên cạnh đó, sự bất công, bạo lực, kỳ thị sắc tộc, chính sách nhập cư thô bạo, thiếu tự do và kỳ thị tôn giáo, cảnh nghèo đói, dốt nát và nợ nần quốc tế... vẫn là những ung nhọt đang mưng mủ làm hại đến hòa bình. Các Thông điệp Xã Hội của Giáo Hội luôn đề ra những thực tại đau lòng ấy và kêu gọi giới hữu trách phải có những biện pháp tích cực và kịp thời. Giáo Hội bênh vực người nghèo và kẻ bị áp bức, bảo vệ sự sống và phẩm giá con người. Giáo Hội cũng cổ vũ những nỗ lực bảo vệ hòa bình như thiết lập các tổ chức quốc tế, giải trừ quân bị, phá hủy vũ khí, đối thoại tích cực, chống khủng bố... nhằm tránh nguy cơ chiến tranh và xung đột được càng nhiều càng tốt.

Giáo Hội còn có những phương thế riêng của mình để cổ võ hòa bình. Giáo Hội hiện diện như “bí tích” như “dấu chỉ” và như công cụ của hòa bình trong thế giới và cho thế giới. Sự cổ vũ hòa bình là cách trình bày niềm tin và tình yêu của Ki-tô giáo cho nhân loại. Giáo Hội kêu gọi các cá nhân, dân tộc và quốc gia cùng mình chia sẻ nỗi quan tâm trong việc vãn hồi và cũng cố hòa bình. Giáo Huấn của Giáo Hội còn dạy rằng hòa bình đích thật chỉ có thể đạt được bằng sự tha thứ và hòa giải. Khởi đầu Ngàn Năm Mới, Đức Gioan Phao-lô II đã nêu gương bằng cách xin lỗi cả thế giới về những khuyết điểm của Giáo Hội và con cái mình trong hai ngàn năm qua. Việc tha thứ cho nhau không làm phương hại đến công lý cũng không ngăn trở bước đường tìm chân lý. Cũng thế, sự hòa giải dễ dàng đưa đến công lý và sự thật.

Ý thức hòa bình đích thật chỉ đến từ Thiên Chúa, Giáo Hội còn luôn cầu nguyện cho hòa bình. Sự cầu nguyện giúp con người vừa biết hướng lòng lên Thiên Chúa, Đấng là nguồn mạch của hoà bình, vừa biết mở rộng cõi lòng để gặp gỡ tha nhân trong sự kính trọng, hiểu biết và yêu thương. Lời cầu nguyện của Giáo Hội còn bao bọc tất cả những ai yêu chuộng hòa bình và mọi nỗ lực hoạt động nhằm xây dựng hòa bình. Bằng Hy tế Thánh Thể, mỗi ngày Giáo Hội thiết tha khẩn cầu cho sự hòa giải giữa con người với nhau, ở mọi cấp độ, vì Đấng hành động trong bí tích cực trọng này là Trung Gian giao hòa giữa con người với Thiên Chúa, gốc rễ của mọi sự giao hòa.

Giáo Hội vẫn dành ngày đầu Năm Mới Dương Lịch để cầu nguyện đặc biệt cho hòa bình thế giới. Suốt 45 năm qua, Vị Cha Chung của Giáo Hội đã gởi đi những sứ điệp của mình đến mọi tín hữu và cả thế giới, trình bày những phương cách và kêu gọi những nỗ lực nhằm cải thiện nền hòa bình. Giáo Hội biết rõ cần phải bắt đầu công cuộc xây dựng hòa bình ngay trong tâm hồn từng người, nên dạy con cái mình hằng biết giao hòa với Thiên Chúa và với nhau, biết sống tình huynh đệ và nỗ lực kiến tạo hòa bình từ tâm hồn, gia đình, nhóm và cộng đoàn.

Để kết: Chủ đề Sứ điệp ngày Thế Giới Hòa Bình năm 2012 của Đức Thánh Cha là “Giáo dục người trẻ về công lý và hòa bình”. Ước mong mọi gia đình, Giáo xứ có được một chương trình huấn giáo cho các thế hệ trẻ về hòa bình để họ biết cách ứng xử và hành động trong thế giới bất an, nhiều bạo động và sùng bái bạo lực hôm nay.

Xin Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Nữ Vương Hòa Bình, cầu bầu cho Giáo phận và cho mỗi người chúng ta. Amen

 

Linh mục GB. Nguyễn Hồng Uy
Nguồn tin:
Liên Lạc GP Phan Thiết Xuân 2012

Lên đầu trang