Giới thiệu thông điệp "Ánh quang chân lý"

7/4/2015 2:13:14 PM
Thông điệp Ánh Quang Chân Lý (”Veritatis Splendor”) (AQCL) là một văn kiện rất dài, trong đó, phần hai là phần đặc biệt khó cho những ai không quen với cách đặt vấn đề cũng như với những vấn đề được đặt ra trong khoa thần học luân lý ngày nay.

Càng khó hơn nữa,  khi nhãn quan kitô làm cơ sở cho công tác suy tư  trong văn kiện, lại gần như trùng lẫn với sắc diện  của hình thái thần học tân kinh viện. Mô mẫu thần  học này không còn là mô mẫu quen thuộc đối  với đa số các linh mục ngày nay, và thường là  không được đại chúng biết đến; vì thế, khó lòng mà  đại chúng có thể tiếp thu được những tư tưởng trình  bày theo cách thức diễn đạt rút ra từ học thuyết  Tôma. Sau cùng, có nhiều điểm Đức Giáo Hoàng khẳng  định, sẽ không làm sao mà khỏi đối đầu chạm  trán thẳng với não trạng hay quan niệm của nhiều người  thời nay được. Để thấy rõ điều đó, thì chỉ cần lược  kê ra đây một số khái niệm mấu chốt mà thông điệp dùng  đến: Chân lý (số ít), tính tuyệt đối, tính triệt để (tính  tận căn), điều ác/dữ tự bản chất (nội tại/tự nội  tính), tính bất biến (tính bất di bất dịch), tính phổ quát,  luật tự nhiên, lòng vâng phục. Trong khi đó, những  cách suy tư của thời đại chúng ta lại dùng những  tiêu chí hầu như ngược hẳn so với tất cả các khái niệm  vừa nêu: chân lý một phần và tạm thời, tính tương  đối, dung hợp (thỏa hiệp), hệ thống quan, hiện tượng đổi  thay, tính cá biệt, quy phạm văn hóa, quyền tự trị. Đó là  những gì nói lên lý do tại sao lại phải cần đến một  thiên trình bày để giới thiệu thông điệp; nhất là  nếu muốn tránh cho khỏi rơi vào tình trạng buông xuôi  thả lỏng theo dòng cuốn mạnh của những  phản ứng sôi động nông nổi mà, e rằng, đại chúng  không được đả thông cho đủ sẽ gặp phải hoặc  cảm thấy khi tiếp xúc với thông điệp. Khuôn khổ nhỏ  hẹp cũng như hoàn cảnh gấp rút về thời gian  tính của bài giới thiệu, đã không cho phép bàn  sâu rộng đầy đủ đến các vấn đề (nhất là các vấn  đề được nêu lên trong phần hai của thông điệp) -- thuộc  loại rất chuyên môn -- đã từ nhiều thập kỷ  qua, và hiện đang làm đầu đề cho các cuộc tranh luận  sôi nổi giữa các nhà thần học. Thế nên, để tiếp  tục nghiên cứu về thông điệp, xin quý độc giả để ý  theo dõi các tác phẩm bình luận sâu rộng và đầy đủ  hơn; vì chi rồi, những tác phẩm như thế cũng sẽ  ra mắt trong những ngày tháng tới.

 

 

 

 Đầu Đề, Người Nhận, Mục Tiêu và Đề Cương.

 

 Tên đặt cho thông điệp là Veritatis Splendor , "Ánh Quang Chân Lý." Danh xưng ấy biểu đạt rất  chỉnh điểm nòng cốt giữa những gì Đức Thánh Cha  muốn nói lên, đó là: đừng bao giờ tách công tác  đi tìm sự thiện ra khỏi nỗ lực đi tìm sự thật. Hơn  nữa, thường gợi lên vẻ đẹp của một nét mặt  rạng rỡ, từ splendor (ánh quang/ ánh sáng rực  rỡ/ánh huy hoàng), có thể đã được dùng để  nhấn mạnh đến sự kiện này là chân lý mang một chiều  kích siêu việt, tức là chạm tới một bình diện vượt quá  lên trên tầm nhận thức tự nhiên của con người; nói  cách khác: một mình và chỉ với sức riêng của mình,  con người không có khả năng để thấu hiểu cho được  chân lý, vì nó siêu việt, vượt ra ngoài sức hiểu biết  của con người. Chẳng hạn, muốn cảm nhận được vẻ  đẹp, nét thẩm mỹ của một tác phẩm nghệ thuật, thì  cần phải để cho tác phẩm hấp dẫn ấy gây xúc động,  thu hút mình, chứ không phải là biến nó trở thành  cái mà vốn hiểu biết đã có sẵn trước (tiền nhận  thức) về nó, nắn đúc nên; cũng thế, nuốn tìm biết chân  lý, thì cần phải có một thái độ khiêm nhu sâu thẳm --  và cũng có thể nói là một thái độ vâng phục  thực sự -- đối với thực tại đã được Thiên Chúa tạo  dựng nên, và đối với "thực tại" ưu việt, huy hoàng  ấy, là chính Ngôi Lời nhập thể làm người trong  Đức Giêsu Thành Nadarét; Ngài là Mạc khải  toàn vẹn của Thiên Chúa và là Chân lý của cũng như về con người. Như thế, ngay  từ đầu đề, thông điệp đã nêu rõ cho thấy chủ  đề sẽ được bàn tới ở trong nội dung: thần học  luân lý sẽ lạc hướng, nếu mối liên hệ cốt tủy kết  chặt sự thật (chân lý), sự thiện và tự do lại với nhau,  bị đánh mất đi. Một khi bị tách ra khỏi "sức mạnh cứu  độ của sự thật" (một cách phát biểu rất mạnh) và  bị từ tận gốc rễ, bứng nhổ ra khỏi tính chất khách  quan, thì tự do chỉ còn một lối ngõ duy nhất là  tự tha hóa chính mình để rồi gây ra những cảnh hỗn  loạn trong đời sống cá nhân cũng như giữa cộng  đồng xã hội (số 84).

 

Thực ra, đó chỉ là lời khẳng định cho rõ lại một  đàng là những gì truyền thống trường kỳ  trong triết học đã từng xác định nói rằng không bao  giờ được tách rời ba nhân tố tiên nghiệm chân,  thiện mỹ ra khỏi nhau, và đàng  khác là điểm mà thần học thường nhấn mạnh đến,  coi đó là một việc làm hợp lý, tức là thể trạng  tỏa rạng của Chân lý Đức Kitô. Tuy nhiên, khi nghe  khẳng định như thế, nhiều người thời đại này sẽ  không khỏi đặt ngay ra nhiều câu hỏi liên quan tới  cách thức tìm đến với chân lý. Đúng như Jean Greisch đã  phát biểu, ngày nay chúng ta hiện đang sống trong thời  chú giải của trí khôn (l'âge hermé-neutique de la  raison ). Hơn bao giờ hết, ngày nay, con người đang  ý thức rõ rằng con đường dẫn đến ý nghĩa và  chân lý trong các thực tại loài người và Thiên  Chúa phải nhất thiết đi qua lối ngõ của phương  thức chú giải. "Cuốn sách" thiên nhiên có phát  ngôn thật, và các tác phẩm làm thành kho tàng  của mạc khải có vén mở thật, nhưng các sứ điệp  của chúng chỉ có thể được tiếp nhận qua màng lọc  của một phương thức giải thích rất tế nhị và phức  tạp, và do đó phải mặc ngay lấy tính cách (chứ không  phải là thuyết) tương đối của một nền văn hóa  và của một thời đại nhất định. Nếu có nhiều người  sẽ đánh giá cao lời của thông điệp khẳng định  về tính chất siêu việt của Chân lý và về thái độ  vâng phục cần phải có khi đi tìm Chân lý ấy, thì chắc  chắn cũng sẽ có nhiều người giữa số các độc  giả thông điệp cũng như nhiều người khác nữa,  sẽ mong thấy đà suy tư tiếp tục nối dài để nhận  định về các vấn đề như sau: làm sao để có thể bàn  về những thiên hướng sâu kín của vũ trụ và  của bản tính loài người mà đồng thời  tránh được khỏi vòng chú giải méo mó xuyên tạc  của ý thức hệ? Cần phải dùng phương pháp chú  giải nào để đọc Kinh Thánh và Truyền thống của  Giáo Hội mà khoa chú giải và lịch sử hiện  đại cho là đã không nêu rõ được một đường  hướng hoàn toàn nhất thống trong cách nhận định về  các vấn đề luân lý? Nhưng dù sao thì cũng cần phải  tiếp tục nghiên cứu để xác định cho rõ về thể loại chú  giải làm cơ sở cho đà suy tư của thông điệp.

 

 Người nhận thông điệp không phải là --  nên lưu ý đến điểm này -- toàn thể các hội đồng  giám mục, toàn bộ các thành phần trong Giáo Hội (linh  mục và giáo dân) cùng mọi người thành tâm  thiện chí, như thường thấy trong trường hợp của  hầu hết các thông điệp khác, mà là một mình các  giám mục không thôi, cho dù phân đoạn 3 của thông  điệp có nhắc lại rằng các giám mục có bổn phận tất yếu  phải dùng tác vụ và huấn quyền của mình mà  chăm lo cho các tín hữu cũng như cho các anh chị em lương dân. Sự việc thông điệp được gửi đến cho một giới người  nhận thu hẹp như vậy, giải thích cho hiểu tại sao ngôn  từ được dùng đến, nhất là trong phần hai của  thông điệp, lại có tính cách chuyên môn cao độ và khó  hiểu đến như thế đối với những ai chưa quen biết với các  môn thần học. Sự việc đó cũng báo cho độc giả biết  trước về khuôn khổ của mục tiêu mà văn kiện  muốn nhắm tới.

 

Thông điệp không có ý đóng vai một pho chuyên luận toàn  bộ về thần học luân lý (để giúp thấu triệt hết mọi vấn  đề của môn này); cũng chẳng mảy may nhắm tới  việc đề ra một bản giản yếu tổng lược làm cuốn  cẩm nang cho nền luân lý kitô. Cho mục tiêu này, như phân  đoạn 5 của thông điệp lưu ý, thì đã có cuốn  Giáo  Lý Giáo Hội Công Giáo rồi. Chính vì thế mà Đức Gioan  Phaolô II đã muốn thấy cuốn Giáo Lý được ban hành  trước khi thông điệp ra mắt công chúng. Thế nên, thông điệp  chỉ nhắm có một mục tiêu là làm một cuộc suy tư thần  học để thử nhắc cho nhớ lại một số "chân lý  cơ bản trong giáo lý công giáo (quan hệ đến các vấn đề  luân lý) hiện đang gặp phải ngay trong bối cảnh của  thời đại này, cơ nguy bị bóp méo hoặc bị vứt bỏ  mất đi" (số 4). Thật vậy, Đức Thánh Cha nhận thấy là  trong Giáo Hội ngày nay, hiện có một "khuynh hướng  chủ trương cho rằng nhất thiết cần phải xét lại toàn  bộ di sản luân lý" của Giáo Hội: quan điểm ấy  đặt nền móng trên những trào lưu tư tưởng đang  tìm cách để tách biệt tự do ra cho khỏi mối quan hệ tất  yếu và cố hữu mà nó có đối với chân lý. Và  từ đó, có nhiều lập trường thần học luân lý, dù  là méo mó sai lệch, thì cũng đã được "phổ  biến ngay ở trong các chủng viện và các phân khoa  thần học." Vì thế, Đức Thánh Cha cảm thấy cần phải  ngỏ lời với các anh em giám mục của mình trong  khắp thế giới, để chia sẻ với các vị, nỗi niềm ưu  tư của mình, và để kêu mời các vị hãy cùng  với ngài, gia công thi hành trách vụ chăm lo gìn giữ  cho vẹn toàn "giáo lý trong lành" (2Tm 4, 3)  quan hệ đến một lãnh vực hết sức trọng yếu đối với  mối thông hiệp trong Giáo Hội cũng như đối với nền công  lý giữa cuộc sống xã hội loài người (số 5).  Thế thì, tiêu đích mà văn bản nhắm tới trước hết,  là phản ứng chống lại những sai lệch của  một số thần học gia. Quên đi điều ấy, thì sẽ không khỏi  đâm ra ngộ nhận, rồi thất vọng, vì thấy rằng những gì  chờ mong đã không được thông điệp ứng đáp; và  tức là quên đi rằng thông điệp không chủ ý nhằm  trực tiếp vào giới độc giả đại chúng. Đã đành  là nhiều người sẽ lấy làm tiếc về mục tiêu  có tính cách xem ra tiêu cực ấy của thông điệp, cũng  như sẽ lấy làm tiếc vì thấy Đức Thánh Cha đã không  đưa ra một bản cẩm nang tường trình rành mạch về  toàn bộ luân lý kitô, trong một cách thức có hệ thống  và theo một đường hướng tích cực hơn. Tuy nhiên, khi  quyết định chọn công tác cắm mốc tiêu nhằm giúp cho thần  học gia biết rõ cần phải ngừng lại ở hạn  mức nào để được coi là còn trung thành với  các yêu cầu của Lời Chúa, thì thay vì đi vào trong  mọi chi tiết của từng vấn đề một để mà xác định  bản chất và nội dung của nền luân lý kitô, Đức  Thánh Cha đã muốn để cả chân trời mở rộng  ra trước sức năng sáng tạo không bị hạn chế của các  nhà thần học luân lý, miễn sao họ biết là cần  phải lưu tâm phối kết chân lý với tự do, sao cho thích  đáng và ăn khớp với nhau.

 

 Đề cương đơn giản của thông điệp gồm ba phần.  Phần một là phần Kinh Thánh. Dùng phương thức chú  giải để quảng diễn trình thuật Tin Mừng về  "người thanh niên giàu có" (Mt 19, 16-21), phần  một này đã nhắc lại một số trục chính trong nền luân  lý kitô, để dưa theo đó mà triển khai các luận chứng  sẽ được trình bày trong phần hai. Phần hai này là  phần bàn luận theo một phong cách sít sao mà thận trọng,  về các lập trường thần học luân lý xét là lệch  lạc, thường gặp thấy trong các sách báo xuất bản  tại Châu Âu cũng như Châu Mỹ; là một bản  liệt kê các sai lệch: để vạch rõ và để chỉnh đốn  chúng lại, dựa theo nhãn quan thần học chịu ảnh hưởng  Tân học thuyết Tôma. Sau cùng, phần ba minh họa cho thấy  viễn ảnh cảnh trạng mà Giáo Hội và thế  giới sẽ đạt tới nếu biết sống theo một nền luân lý  biết mở rộng lòng ra để đón lấy sức sống từ  ánh quang chân lý.

 

 Phần Một: Quảng Giải Về "Người  Thanh Niên Giàu Có".

 

 Cần nói ngay là phải biết ơn thông điệp vì đã  mở đầu cuộc suy tư bằng một chương, tức là phần một,  dành để đọc lại Kinh Thánh, bởi Kinh Thánh là  quy phạm chuẩn tắc (norme nor-mante) của đức tin.  Dùng phương thức không phải là chú giải một  trăm phần trăm theo nghĩa đen, mà là đạo đức học và  thiêng liêng, chương đầu ấy đã ngẫm đọc lại trình  thuật Phúc âm về "người thanh niên giàu có."  Đúng thế, phân đoạn Tin Mừng này mở đầu bằng  một câu hỏi cơ bản, câu hỏi thiết đặt cấu trúc  cho mọi đường hướng tiến hành trong nền luân lý kitô  giáo: "Tôi phải làm gì lành để được Sự Sống  đời đời?" Hơn nữa, phân đoạn trình thuật còn  có một ưu điểm khác, là lấy sáng kiến của Đức Kitô  và của Lời Chúa mà làm động cơ khởi  xướng, và đặt sáng kiến ấy vào ngay giữa tâm  điểm của cuộc suy tư về luân lý. Và như thế, đạo  đức học quy hướng về với Đức Kitô, là trọng tâm của  mình. Ngoài ra, còn một điểm nổi bật khác nữa,  đó là thông điệp đã lưu tâm để làm sao cho ánh  quang con người của Đức Kitô chịu đóng đinh và đã  sống lại, được thấu hiểu và đón nhận như là quy phạm  của mọi lề lối hành động đáng được coi là luân  lý thực sự.

 

Thiên giới thiệu này chỉ xin bàn một cách vắn tắt  về phần một thông điệp, vì đó là một chương tương đối  dễ đọc và dễ hiểu đối ngay cả với những  giới không chuyên môn. Nên đọc phần này ngay trong chính  bản văn của thông điệp thì có lợi hơn.

 

Đúng lúc và đúng chỗ, phân đoạn 7 lưu ý cho nhớ lại  rằng trước và trên cả ưu tư muốn biết rõ về các  luật lệ cần phải giữ, điều làm cho người thanh  niên giàu có thắc mắc hơn hết khi đặt câu hỏi, chính  là nỗi khắc khoải đi tìm cho biết về ý nghĩa trọn  vẹn của cuộc đời, và chính là niềm ngưỡng  vọng hướng về với sự thiện tuyệt đối. Hơn thế nữa, câu  hỏi ấy là chính tiếng vang vọng của lời mời  gọi mà Thiên Chúa, là nguyên lý và là cứu  cánh tối hậu của đời con người, đã và  đang không ngừng gióng lên. Và như thế, chương một  của thông điệp đã nêu bật và nhấn mạnh đến thực  trạng này là trong tương quan với loài người,  Lời Chúa đã đi bước trước, đã đưa ra sáng kiến  trước khi con người nhận biết được là mình cần phải  có những cố gắng trong lãnh vực luân lý. Điều đó  mở đường cho các luận đề sẽ được trình bày  trong phần hai của thông điệp, về tình trạng lệ thuộc  của hành động con người đối với thần luật (théonomie), tức là về sự việc hành vi con người phải lấy  Luật Chúa làm quy phạm tối hậu. Chính vì thế mà phân  đoạn 8 đã kêu mời con người ngày nay hãy  quay về trở lại với Đức Kitô để đón nhận từ Ngài,  câu trả lời giúp cho biết được điều gì là lành  là thiện, và điều gì là dữ là ác. Con  người cần phải "có thể nói là đi vào trong  Đức Kitô với trọn cả bản thân của mình; cần phải  tư hữu hóa và đồng hóa toàn bộ thực tại của  công trình Nhập Thể và Cứu Độ, thì mới có khả năng  để tìm lại cho được chính bản thân con người của  mình." Khi tuyên bố là Chỉ có Một Đấng Tốt Lành  duy nhất , phân đoạn trình thuật về người thanh niên  giàu có (số 9) cho hiểu rằng "tự vấn về sự lành  tức là chung quy rồi cũng có nghĩa là quay về với  Thiên Chúa, là sự lành, sự thiện trọn vẹn." "Chỉ  khi nào Thiên Chúa tự mạc khải chính mình ra, thì lúc  đó con người mới có thể nhận biết được bản thân  mình là gì và mình có bổn phận phải làm gì."  Thế mới rõ là thông điệp chăm lo kết hợp lại những  gì thần học luân lý thường có khuynh hướng phân cách  ra, chẳng hạn như là: đạo đức học và khoa thần bí,  mà thông điệp hiểu như là thái độ mở lòng  để đón nhận mầu nhiệm của Thiên Chúa. Vì thế, "đời  sống luân lý sẽ mang diện mạo của một thái độ trả  lời cần phải có đối với các sáng kiến nhưng không  mà tình yêu Thiên Chúa đã đề ra qua nhiều thể cách,  suốt trong tiến trình quan hệ với loài người. Đời  sống ấy là một lời đáp trả tình yêu"  (số 10). Nó được mời gọi để phản ánh vinh quang của  Thiên Chúa. Thế nên, dần dần đã thấy hiện rõ lên  trong văn bản của thông điệp, dạng thức của một  mẫu đạo đức học có thể được gọi là nền luân lý  của trách nhiệm, có sự Sống của Thiên Chúa làm  nền tảng và cứu cánh tối hậu. Bao giờ tự do của  con người cũng có bổn phận phải tiến hành  sinh hoạt của mình một cách có trách nhiệm; và đó  là bổn phận do agapê giao phó cho; bởi vì, lời  mời gọi của Đấng Tạo Dựng và Cứu Độ con người  đã được đưa ra trước khi có tự do của con người.  Điều lành/thiện là ở chỗ biết thuộc về Thiên  Chúa và vâng phục Ngài bằng cách thực thi những  gì chính trực (số 11). Nhìn nhận Đức Chúa là Thiên Chúa:  đó chính là trọng tâm của Lề Luật. Nhưng, nếu duy  một mình Thiên Chúa là Sự Lành/Thiện, thì như thế  có nghĩa là cố gắng có tính cách tự cấp tự túc của  con người không thể nào thành công nổi được trong  việc giữ cho trọn lề luật. Chỉ thành công được, khi  có trong tay món quà Thiên Chúa ban tặng cho. Các anh em  Tin Lành rồi sẽ cảm nhận ra rằng qua các khẳng  định văn kiện nêu rõ trên đây, những thâm tín căn  bản của mình đã được xác nhận lại.

 

Đoạn 12 của thông điệp ngẫm suy về sự kiện sau đây:  trả lời cho câu hỏi của người thanh niên,  Đức Kitô đề nghị với anh là hãy giữ các giới  răn ghi trong bản hai của Thập Giới (bản/phần một=Xh  20, 2-11: Tin thờ Thiên Chúa, là Đấng toàn thiên;  bản/phần hai=Xh 20, 12-17); dĩ nhiên, đó là những  giới răn đã được ban bố trong tiến trình lịch sử của  dân Ítraen, hay nói cho đúng hơn là đã được nhắc  lại cho dân này, bởi vì các điều luật ấy đã từng  được Thiên Chúa ghi khắc sâu vào trong tâm khảm của  con người ngay từ đầu, tức là ngay từ lúc tạo  dựng con người nên. Và như thế, đây là lần đầu  tiên, thông điệp nói đến khái niệm về luật tự nhiên ,  theo cách hiểu của thánh Tôma Aquinô. Khái niệm này  không hàm ngụ ý nghĩa chỉ về tình trạng lệ thuộc tuyệt  đối vào một trật tự nào đó của các định luật  sinh lý hay vũ trụ, nhưng là chỉ về "ánh sáng của  lý trí do Thiên Chúa ban xuống (một cách tiên thiên), nhờ  đó, chúng ta biết được những gì cần phải làm và  những gì cần phải tránh" (số 12). Cũng cần  nhắc lại rằng các giới răn trong luật tự nhiên là tiếng  nói của lý trí thực tiễn khi được sử dụng một  cách đúng đắn (chính trực). Một khi đã gợi lại các giới  răn (Chớ giết người, v.v...) ghi rõ trong Kinh  Thánh cũng như nơi bất cứ di sản nào trong kho tàng  khôn ngoan của nhân loại, thì Đức Thánh Cha có đủ  lý để nêu bật và quảng diễn về hai điểm xác  tín sau đây: một đàng, không thể nào lại đi quan niệm  nỗi khắc khoải đi tìm sự sống đời đời như là  chuyện bịa đặt do một loại thần bí mơ mộng trên mây xanh đã  dựng đứng lên; khát vọng đó, bao giờ cũng phải  được biểu đạt bằng những giới răn cấm chỉ cũng như  bằng những điều luật khuyến dụ; nói cách khác sự sống  đối thần (vie théologale) phải nhất thiết đi qua  con đường của đời sống luân lý; đàng khác,  các điều luật mà Đức Kitô nhắc lại cho người thanh  niên giàu có, không phải là chỉ được dành  cho người kitô không thôi, mà là cho mọi người,  người có lòng tin cũng như người không tín ngưỡng;  luân lý kitô là luân lý phổ quát, là "luân thường  đạo lý" của mọi người.

 

Sau khi đã nhắc lại rằng đi kèm theo giới răn là  lời hứa được hưởng gia nghiệp trong Nước Chúa, phân  đoạn 13 của thông điệp lưu ý là Đức Giêsu đã  không có ý liệt kê ra toàn bộ các giới răn cần phải  giữ để được sống đời đời, mà chỉ muốn mở  lối để dẫn chú ý của người thanh niên về với  điểm cốt lõi của Thập giới, đó là: "Ta là  Yavê, Thiên Chúa của ngươi," và về với điểm tổng  kết toàn bộ lề luật (Rm 13, 8-10), tức là giới luật  về tình yêu thương đối với tha nhân. Có thông thường được  biểu đạt dưới hình thức cấm chỉ, thì các giới răn cũng  không là gì khác ngoài những điều kiện làm  nền móng cho tình yêu thương; và đó là bước đầu tiên  trên đường tiến tới tự do.

 

Nhưng cũng không thể tách biệt điều luật yêu mến Thiên  Chúa và điều luật yêu thương tha nhân ra khỏi nhau  được (số 14). Hai điều luật này đi liền gắn chặt với  nhau, hệt như trong Đức Giêsu, tình yêu đối với Thiên Chúa  và lòng mến đối với nhân loại kết chặt làm một  với nhau. Tính cách tương quan liên đới ấy giữa hai điều  luật mến Chúa yêu người sẽ cho thấy rõ là  thần học luân lý có bổn phận phải lưu ý để tránh gây  ra tình trạng đối đầu giữa thần luật và luật tự trị  trong lãnh vực đạo đức học. Vả, cũng không thể  lấy Bài giảng trên núi, là hiến chương của  chính nền luân lý Phúc âm, làm cớ mà sao lãng,  hoặc tệ hơn nữa, hủy bỏ lề luật đi được (số 15).  Ngược lại, nên lưu ý là trong đó, Đức Giêsu đã đưa  dẫn các giới răn, đặc biệt là giới răn yêu thương  tha nhân, đạt tới mức thành tựu toàn vẹn, bằng cách  nội tâm hóa và triệt để hóa các đòi hỏi của  chúng. Các Mối Phúc Thật là như một bức chân dung tự  vẽ của Đức Kitô, và chính vì thế, chúng mời  gọi mọi người bước đi theo Ngài, cũng như sống  kết hợp với Ngài (số 16). Rốt cuộc, Tin Mừng nêu  cho thấy rõ rằng Đức Giêsu chính là hiện thân sống  động của việc thực thi trọn vẹn Lề Luật, vì qua hành  động tự hiến chính toàn thân mình, Ngài đã hiện  thực hóa ý nghĩa đích thực của Lề Luật: Ngài là  Lề Luật sống, hằng kêu mời mọi người bước theo Ngài,  và qua hồng ân Thần Khí của mình, hằng ban cho mọi  người sức mạnh cần thiết để có thể dự phần tình yêu  của Ngài và làm chứng cho tình yêu ấy.

 

Phần đối thoại kế tiếp giữa Đức Giêsu và người  thanh niên giàu có, cho thấy thêm rằng đời sống trọn  hảo mà anh ra sức tìm kiếm, đòi phải có một  mức trưởng thành trong khả năng hy sinh chính mình  cho người khác; và đó cũng là mức độ trưởng  thành mà tự do con người được kêu gọi để đạt  tới (số 17). Thế nên, có thể nhận ngay ra rằng tự do của  con người và Luật của Thiên Chúa thật không chống  chọi nhau, nhưng là cần phải tựa vào nhau và  đi song đôi với nhau. Người môn đồ biết rằng lời mời  gọi gửi đến cho mình là một lời kêu gọi đi đến  với tự do, sống trong tự do. Tuy nhiên, không phải là  bất cứ thứ tự do nào! Tự do của tình yêu mới thật  sự xứng đáng được gọi là tự do [đúng với ý nghĩa] kitô  và nhân bản: tức là tự do làm cho con người  trở thành "con cái trong Người Con" (số 18).  Đó là niềm tự do được dành cho mọi người không  trừ một ai, và là niềm tự do mà ai cũng  thấy là nằm trong tầm tay của mình, khi biết để cho  Thần Khí hướng dẫn mình đi (Gl 5, 16).

 

Con đường giải phóng dẫn đến đời sống trọn  hảo là con đường tiến bước theo gót Đức Kitô (sequela Christi) (số 19). Đó chính là cơ sở chủ  yếu và cội nguồn của nền luân lý kitô. Cần phải  bám chặt vào con người Đức Giêsu; còn hơn thế  nữa: cần phải noi gương bắt chước Ngài trên con  đường sống trọn tình yêu (các số 19-20), và cuối cùng,  cần phải trở thành hiện thân của Ngài,  và được đồng hóa với Ngài (số 21). Như thế, một khi  đã được sáp nhập vào trong Đức Kitô, người kitô  trở thành chi thể trong Thân Thể của Ngài,  là Giáo Hội. Đó là những gì được hiện thực hóa  và được ca mừng qua các bí tích, đặc biệt là trong  bí tích Thánh Thể.

 

Ngắm nhìn công trình miêu tả tuyệt đẹp mà cũng  rất là đòi hỏi như thế về cuộc hành trình  luân lý và về tiến trình cứu độ theo kitô giáo, làm  sao mà khỏi bỡ ngỡ thốt lên câu hỏi mà  các môn đồ đã từng đặt ra ngày trước: "Thế  thì ai mới có thể được cứu độ?" (Mt 19, 25). Đức Giêsu  đã nêu quyền năng của chính Thiên Chúa ra để mà  trả lời cho câu hỏi đó. Nếu ân huệ của Thiên  Chúa là Thần Khí, không dùng sức năng của mình  mà tác động, thì nỗ lực của con người đi tìm  điều lành sự thiện sẽ chỉ là công toi (số 23).  Nhưng không phải thế, là lề luật mới, Thần Khí sẽ  giải thoát cho khỏi lề luật của tội lỗi và  sự chết (số 23). Như thánh Augutinô đã diễn tả  một cách tài tình, nói là: "Lề Luật đã được  ban ra để người ta biết van xin ân sủng, và ân  sủng được ban ra để người ta có đủ sức mà  làm tròn những đòi buộc của Lề Luật."  Ân huệ không làm giảm thiểu đi, nhưng là làm  cho các đòi hỏi của tình yêu càng thành  kiên vững thêm lên; và nói đến tình yêu là nói  đến việc tuân giữ các giới luật (số 24).

 

Cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và người thanh niên  giàu có không phải là một câu chuyện cũ đời  xưa, đã rơi hẳn vào dĩ vãng. Không, dưới một cách  thức nào đó, biến cố ấy vẫn còn tiếp diễn  nơi mọi giai đoạn lịch sử, và tất nhiên là trong  thời đại ngày nay (số 25). Thế nên, giữa thời  đại này và tại trong các nền văn hóa khác nhau, người  kitô có nhiệm vụ phải hiện tại hóa các giới luật luân  lý của Cựu Ước đã từng được Tân Ước làm  cho nên hoàn hảo, cũng như có nhiệm vụ phải  hiện tại hóa giáo huấn về luân lý mà các Tông đồ đã  để lại (số 26). Còn các đấng kế vị các Tông đồ thì có  trọng trách chăm lo sao cho việc giải thích Luật Chúa được  chính xác, hoàn chỉnh (số 27). Chính vì thế mà Huấn  quyền xét thấy mình có bổn phận phải can thiệp nhằm hiệu  chính một số các khuynh hướng sai lạc hiện đang gặp thấy.

Thế là phần một, tức là chương dựa theo Kinh Thánh  mà suy tư, đã tránh được cả cạm bẫy của  một hình thái thần bí thiếu hẳn cơ sở vững chắc của  đạo đức học, lẫn ngõ cụt của một loại chủ  hướng vụ quy luật (légalisme) khô cằn. Nhưng tích cực  hơn nữa, phần này đã mạnh mẽ cổ xúy việc  xây dựng mối giây liên kết trong tinh thần tôn trọng những  khác biệt, giữa tình yêu và lề luật, giữa ân  sủng và cố gắng của con người. Tuy nhiên, các  nhà nghiên cứu Kinh Thánh vẫn có thể tự hỏi không  biết cách áp dụng Kinh Thánh như thế kia có xóa tẩy quá  đáng đi không, thực trạng đa dạng đọc thấy ngay trong văn  bản của Kinh Thánh; vì như các nhà luân lý đều  biết, chính thực trạng đa dạng ấy là điều làm cho  việc áp dụng Kinh Thánh vào trong các vấn đề luân lý,  trở thành hết sức tế nhị.

 

 Phần Hai: Nhận Định Về Một Số Khuynh Hướng Trong Thần Học Luân Lý Hiện Đại

 

 Phần hai lấy lại một lời khuyến cáo của thánh Phaolô,  làm tựa đề: "Đừng học đòi thế gian này" (Rm 12, 2). Còn tiểu đề của phần này -- "Giáo  Hội và việc nhận định về một số khuynh hướng trong thần  học luân lý hiện đại" -- thì nói lên rõ đối  tượng chính của thông điệp. Chỉ cần kết nối tựa đề và  tiểu đề lại với nhau là có thể hiểu ngay được rằng theo  Đức Thánh Cha, nếu đã có những khuynh hướng lệch lạc  như đang thấy trong thần học luân lý ngày nay, thì đó chính  là do sự việc các thần học gia đã dựa quá nhiều  vào lối suy nghĩ của thế gian này để mà biểu  đạt tư tưởng của mình. Văn bản còn xác minh  rõ hơn về điều đó, khi nhận định rằng thế giới ngày  nay đang chịu ảnh hưởng nặng của chủ thuyết  tương đối, của chủ trương chối bỏ quan hệ lệ thuộc  cố hữu của tự do đối với chân lý (số 33-34). Như  có thể dự đoán được qua những gì vừa nói trên đây,  chương hai này tỏ ra khá bi quan trong cách nhận định  về môi trường văn hóa đang bao trùm cảnh sống  của chúng ta ngày nay. Chi rồi các phương tiện truyền  thông và các nhà tư tưởng có hoặc không có tín  ngưỡng, cũng sẽ không khỏi ngạc nhiên khi nhìn  vào bức tranh khá đen tối như thấy trên đây, miêu tả  về trào lưu tư tưởng hiện đại. Nếu đúng thật là  trào lưu tư tưởng này có thể làm phát sinh  ra một thứ chủ nghĩa tương đối về mặt đạo đức học, thì  cũng không thể nghi ngờ được rằng về mặt luân lý,  trào lưu ấy đã cung ứng những khái niệm rất phong  phú làm công cụ giúp cho các thần học gia có được phương  tiện dồi dào để đẩy mạnh công tác nghiên cứu luân lý  đến một mức sắc bén và chính xác hơn, cũng như để  có thể đối thoại thực sự và hữu hiệu với những  người thời đại của mình. Để nhận ra cho rõ  hơn về điểm này, thì thiết tưởng chỉ cần nhớ lại ảnh  hưởng sâu rộng của một vài tư tưởng gia bên  Tây Âu là đủ; chẳng hạn như là của một  Paul Ricoeur, của một Emmanuel Lévinas, của một Éric  Weil, hay là của một Habermas... Tuy nhiên, thông điệp  cũng công nhận rằng khi biết dừng lại ở trong  lãnh vực chuyên môn của mình, và khi được sử  dụng cho đúng đắn, thì các ngành khoa học nhân văn có  thể mang lại những đóng góp quan trọng cho nhiều lãnh  vực khác nhau trong cuộc sống loài người (số 33).

 

Trưng dẫn Công đồng Vaticanô II, phân đoạn 29 nhắc lại  rằng tác vụ của các nhà thần học là trong một  cách thức nào đó, làm người trung gian giữa  kho tàng mạc khải hay các chân lý đức tin, và  nền văn hóa của thời đại họ. Họ có bổn phận phải  tìm ra những cách thức thích hợp nhất để truyền đạt giáo  lý cho những người cùng thời của mình, làm  sao để có thể đáp ứng thoả đáng cảm thức và  những nghi vấn của họ. Đức Thánh Cha tỏ lòng  biết ơn đối với những nhà thần học đã từng  gia công nghiên cứu và đã thành công trong tác  vụ đặc biệt khó khăn của mình, là cố gắng giới thiệu  các đòi hỏi luân lý của Phúc âm cho những  người sống trong cùng một nền văn hóa với mình, và  giúp cho họ mở lòng đón nhận chúng. Tuy nhiên --  Đức Thánh Cha lưu ý là -- "ở một số nơi, cũng  thấy phổ biến một vài cách thức giải thích luân lý  kitô theo những đường hướng không phù hợp với  giáo lý trong lành." Thế nên, dù không có ý buộc  phải theo một hệ thống thần học nhất định nào --  điểm lưu ý này mang một tầm quan yếu rất lớn -- thì  Huấn quyền cũng vẫn cảm thấy có bổn phận phải  tuyên bố rõ về trường hợp của một số đường  hướng thần học này nọ hoặc của một lập trường  triết học nào đó, từng cho thấy là đã có  những chủ trương không phù hợp với chân lý mạc  khải. Vì vậy, mục đích của thông điệp là nêu  rõ những nguyên tắc cần thiết để nhận định hầu phát  hiện những gì đi ngược lại với giáo lý trong lành (số 30). Các phân đoạn 32-83 sẽ trình bày về các  nguyên tắc này, và tuần tự nhận diện những sai  lạc chính về giáo lý, hiện gặp thấy trong lãnh vực thần  học luân lý.

 

Trong các phân đoạn 32-34, những nguồn cội làm phát  sinh ra các sai lạc kia đã được thoáng nêu lên: quan niệm  coi phán đoán luân lý chỉ là một hành động có tính  cách hoàn toàn chủ quan; tình trạng khủng hoảng  trong quan niệm và trong cách nhận thức về chân lý; cá  nhân chủ nghĩa trầm trọng đến độ phủ nhận khái niệm  về bản tính loài người; thái độ phủ nhận --  hệ quả của việc sử dụng không đúng đắn các ngành  khoa học nhân văn -- không cho là tự do có thật; chủ  thuyết tương đối luân lý, và đặc biệt là thái độ  từ chối không chịu chấp nhận sự việc tự do cần phải  lệ thuộc vào chân lý. Thế rồi, thông điệp tiếp tục  khai triển các suy tư với lời giải thích cho thấy vì  đâu mà tất cả những sai lạc kia đều làm cho  các vấn đề lớn, các vấn đề thiết chế nên cấu trúc của  thần học luân lý, bị méo mó đi; các vấn đề đó là: tự  do và lề luật, lương tâm và chân lý, hướng sống căn  bản của cuộc đời (option fondamentale) và  những thái độ xử sự cùng những hành vi  luân lý.

 

Tự do và lề luật, tự quyền và thần  quyền

 

 Trong đoạn đầu của chương hai (gồm các số 35-53), thông  điệp bàn đến mối tương quan giữa tự do và lề luật,  hay nói cho đúng hơn, giữa thần quyền (tức là sự việc  lấy Luật Chúa làm quy phạm cho hành động của mình)  và tự quyền (quyền tự trị) của tự do con người.  Đó là một trong những vấn đề đã được các nhà  thần học luân lý trong khắp thế giới bàn cãi sôi  nổi nhất từ nhiều thập kỷ nay; lý do là vì đó  là vấn đề liên hệ trực tiếp đến một vấn đề quan trọng  khác: vấn đề tính đặc thù của luân lý kitô.[2]  Việc đầu tiên các phân đoạn 35-37 làm,  là liệt kê ra một số các chủ trương sai lệch. Trước  tiên là các chủ trương lấy điều mà họ gọi là  cuộc xung đột giữa tự do và lề luật, làm trọng  điểm cho công tác suy tư của mình, và cho rằng tự do  con người có quyền và có khả năng gầy nên những  giá trị. Tiếp đó là các chủ trương dành quyền  tự trị cho luân lý đạo đức, và quan niệm một cách thiếu  sót về quyền này, tức là "bỏ quên đi thực  trạng lệ thuộc của lý trí con người đối với Sự Khôn  Ngoan của Thiên Chúa, cũng như quên đi rằng trong hiện  tình sa ngã của bản tính loài người, con  người nhất thiết cần phải nhờ đến Mạc khải  -- đặc biệt là Mạc khải hiện thân -- của  Thiên Chúa, thì mới có thể nhận biết được các quy phạm luân  lý, kể cả những quy phạm thuộc lãnh vực tự nhiên."  Do đó, trong lãnh vực luân lý, nếu có nói tới một thứ  quyền tối cao của lý trí, thì đó chỉ là một thứ quyền  tối thượng hoàn toàn giả tạo, một thứ ngụy quyền  tối thượng (số 36). Sau cùng là những chủ trương  cố dựng lên một thứ ranh giới phân biệt rõ giữa  một bên là bình diện đạo đức học, tức là một loại  luân lý chỉ có giá trị thuần túy trần tục, và bên kia  là bình diện ơn cứu độ, mà để sống trọn, thì chỉ cần  có một số ý hướng và một số thái độ nội  tâm đối với Thiên Chúa và tha nhân, là đủ;  bởi vì chỉ đơn thuần có từng ấy là thật sự quan  trọng đối với bình diện này. Theo quan điểm của các  lập trường này, thì Lời Chúa chỉ đơn thuần đóng  giữ vai trò khuyến dụ một cách tổng quát; còn  việc xác định rõ những quy phạm cho hành động là  thuộc quyền của lý trí tự trị (số 37).

 

Ứng phó với những quan điểm mà thông điệp cho  là sai lạc này, thông điệp đã dùng phương thức  diễn đạt của học thuyết Tôma mà trình bày  một cách nhìn, xét là chính xác theo phương diện thần học,  về mối tương quan giữa thần quyền và tự quyền của  lý trí thực tiễn. Luận đề đề xuất là một luận đề  về thần quyền thông phần (théonomie participée) (số  41). Dựa theo giáo huấn Công đồng Vaticanô II, các phân đoạn  38-40 nhắc lại rằng Thiên Chúa đã muốn cho con người  thông phần Quyền làm Chúa Tể của Ngài, và  đã ban cho con người một phần quyền hành đối với  chính con người cũng như đối với vũ trụ. Như thế  là thực sự có một tự quyền (quyền tự trị) chính đáng  của lý trí thực tiễn . Tuy nhiên, theo Đức Thánh  Cha, thì tự quyền ấy không mảy may có nghĩa là lý  trí con người tự nó có khả năng làm nên được  những giá trị, và có quyền đề ra những quy phạm  luân lý. Tự quyền chân chính là tự quyền biết đón nhận  giới luật của Thiên Chúa. Đó là một hình thái của  thần quyền thông phần; nghĩa là qua ánh sáng của lý  trí tự nhiên và của Mạc khải Thiên Chúa ban cho  để nhận ra những gì Ngài yêu cầu, con người được  Ngài dự phần vào -- hay được thông dự vào trong  -- khả năng nhận biết điều lành điều dữ, là  khả năng của chính Thiên Chúa (St 2, 17) [số 41].

 

Có thể dùng ngôn từ chuyên môn để nói rằng một  khi được hiểu cho đúng, thì thay vì gây ra cho lý trí một tình  trạng dị trị, làm cho lý trí phải chịu ách nô hóa của  một thứ quyền dị trị (hétéronomie), thần quyền thiết  lập và phục chế tự quyền chân chính cho lý trí, cùng  gìn giữ cho quyền ấy đứng vững ở trong chân lý  của mình. Chẳng những không bị phá hủy mất đi,  mà tự do của con người còn được thái độ vâng  phục đối với Luật Chúa, xây dựng và phục chế để nhận  lại được tình trạng chân chính của mình (số 42). Đó là  những gì đã được thánh Tôma trình bày một cách  thần tình. Thánh nhân đã lấy Luật đời đời (tức là trí tuệ của Khôn ngoan Thiên Chúa hằng truyền  ban động lực cho mọi vật để hướng chúng về với cứu cánh  phải đạt tới) làm nền tảng cho chính đạo đức học  (luân thường đạo lý); nhưng đồng thời, ngài còn  nhận định thêm rằng do lòng nhân lành của Thiên  Chúa, con người cũng được dự phần vào trong Luật  đời đời ấy, bởi đã được trở thành  chủ thể cùng có (với Thiên Chúa) khả năng tiên  kiến tiên liệu cho chính mình và cho những người  khác; và đó chính là luật tự nhiên (số 43).  Như thế, tự bản chất của nó, luật tự nhiên cho thấy  là không thể nào đội trời chung được với quan  niệm cho rằng lý trí con người có khả năng tự cấp  tự túc, như là kiểu quan niệm thường được thấy khai  triển nơi một số hình thái đạo đức học vô thần chẳng hạn.  Ngược lại, có thể nói rằng luật tự nhiên phô bày cho  thấy loại tự quyền của lý trí thực tiễn: đó là  hình thái tự quyền liên hệ hay tương đối, nghĩa là  lý trí có bổn phận phải chấp nhận tình trạng lệ thuộc  vào hai phía: phía Thiên Chúa Ba Ngôi là Đấng đã  tạo dựng nên và gia ân cứu độ mình, và phía các nhân  tố làm nên môi trường sống của mình, bởi ý  thức rằng quyền tự do của mình "đột xuất" từ  những điều kiện sinh học, tâm lý, xã hội cần được  lưu ý tới, nếu không thì sẽ đi đến chỗ phủ nhận  mất hẳn tính chất có hạn trong thân phận làm tạo vật  của mình. Vậy, thần quyền được thông phần mở lối  đưa tới một thái độ khiêm hạ hai chiều: khiêm hạ đối với  Thiên Chúa, là Đấng Giải Phóng thế giới, và khiêm  hạ đối với thực tại thiên hình vạn trạng của công trình  tạo dựng.

 

Dĩ nhiên, việc đánh giá luật tự nhiên cao, coi đó như là  phương thức giúp cho con người nhận biết được Luật Chúa,  không được trở thành cớ để lơ là một phương thức  khác trổi vượt hơn con đường của luật tự nhiên, tức  là Luật Chúa theo dạng thiết định, được mạc khải và  được ngẫm đọc trong ánh sáng năng động của Luật mới:  Luật mới này -- theo thánh Tôma Aquinô -- là  không gì khác ngoài Thần Khí Thiên Chúa (số 45). Để biểu  đạt cho đúng về mặt thần học, thì cần phải nói rằng  luật mạc khải và luật tự nhiên, cả hai đều đứng  ở trong thế thâm nhập lẫn nhau.

 

Các phân đoạn 46-50 thì lo dồn hết nỗ lực vào việc  hiệu chính một số quan niệm lệch lạc về luật tự nhiên, phát  xuất từ sự việc quên đi rằng tự do của con người,  chỉ là, theo kiểu nói của Paul Ricoeur, một thứ tự  do "đơn thuần con người." Thế nên, tự do này  không thể được quan niệm như là một thứ khả năng  có toàn quyền tự quyết, giống như kiểu mà học thuyết  hiện sinh quá khích thường chủ trương (số 46). Nhưng  không thể chối cãi được là con người có tự do,  cho dù đó là một thứ tự do có điều kiện. Vì thế,  thần học luân lý cần phải làm sao để cuộc bàn  luận về các mối tương quan giữa thiên nhiên và  tự do tiến hành cho đúng đắn. Ngược lại với những  gì một số thần học gia thường chủ trương, Huấn quyền  không coi sinh học tự nó là một quy phạm luân lý (số  47); vì nếu coi như vậy, thì sẽ rơi ngay vào giữa  cạm bẫy thô kệch của chủ nghĩa tự nhiên .  Ngược hẳn lại, Huấn quyền hết sức lưu ý đến thực trạng  đơn nhất giữa xác phàm và tinh thần cấu thành  con người, và hằng yêu cầu phải tôn trọng tính  đơn nhất ấy, lý do là vì con người đã được tạo  dựng nên như thế bởi Thiên Chúa và cho chính Ngài,  cũng như vì con người là hình ảnh của Thiên  Chúa. "Con người không phải là một hữu  thể có thể giản lược được để biến thành một loại  tự do có khả năng tự đặt kế hoạch và chương trình  cho chính mình, nhưng là một hữu thể cấu thành bởi  tinh thần và xác thể" (số 48). Vì vậy, "một học  thuyết luân lý chủ trương tách rời hành vi luân  lý ra khỏi các chiều kích xác phàm là một học  thuyết đi trái ngược lại với các giáo huấn của Kinh Thánh  và Truyền thống" (số 49). Không chỉ đơn nhất nói lên  một thể trạng chuẩn tắc thuần túy sinh học nơi con người,  luật tự nhiên còn đưa dẫn đến chỗ tôn trọng và  yêu mến bản chất con người trong chính tổng thể thống  nhất của nó (số 50). Nếu hiểu như thế, tất sẽ nhận  ra ngay rằng tách biệt tự do và bản chất (bản  tính) con người ra khỏi nhau, là một việc làm  hoàn toàn trái ngược với luật tự nhiên.

 

Các phân đoạn 51-53 kết thúc đoạn một này với những  nhận định quan hệ đến vấn đề tính chất phổ quát và  bất biến của luật tự nhiên. Vì đã được Thiên Chúa  ghi khắc vào trong tâm khảm của bản tính con  người có lý trí, nên luật tự nhiên là luật buộc  đối với mọi hữu thể có lý trí và sống trong lịch  sử. Thê nên, luật tự nhiên là luật phổ quát. Tuy  nhiên, cũng không được quan niệm tính phổ quát ấy như  là một lời phủ nhận tính cá thể nơi mỗi người,  và -- còn có thể nói thêm là -- tính cá  biệt nơi mỗi nền văn hóa. Ngược lại, thái độ tuân phục  luật chung sẽ tạo nên mối hiệp thông thật sự giữa  các con người với nhau, tức là mối đồng tâm hiệp  nhất trong niềm tôn trọng những gì là độc nhất nơi  mỗi một con người (số 51).

Phân đoạn 52 lưu ý đến sự khác biệt giữa các giới luật  thiết định và các giới luật cấm chỉ trong luật tự nhiên.  Chỉ có các điều luật cấm chỉ mới buộc phải giữ bất cứ lúc nào và trong bất cứ trường hợp nào,  bởi vì chúng nêu rõ cho thấy hạn mức tối thiểu nhất  thiết không được vượt qua, và bởi vì có tôn trọng  hạn mức ấy thì mới có thể tránh cho khỏi xúc phạm đến  tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Nhận định này  mở đường cho một nhận định khác sẽ được trình bày  sâu rộng hơn, trong phần sau: đó là nhận định về các hành  vi xấu tự nội tính.

 

Sau cùng, phân đoạn 53 bàn về tính bất biến của  luật tự nhiên. Đã hẳn, không thể có được một cuộc hiện  hữu nào của bản tính con người mà lại  không từ gốc rễ, mang hình thái cá biệt của một  nền văn hóa nhất định; tuy nhiên, chỉ một mình văn hóa không  thôi, thì cũng chưa đủ để có thể xác định tất cả  về con người. Chính bản tính con người được tạo  dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa -- bản tính  mà Ngôi Lời đã mặc lấy -- mới là chuẩn  mực để đánh giá văn hóa, chứ không phải là ngược  lại. Do đó, có thể lấy luật tự nhiên làm nguyên tắc  phê bình để phán định về tính chất luân lý của một tập  tục văn hóa. Thử lấy một thí dụ: giới điều thuộc luật  tự nhiên về quyền bảo toàn cho thân thể của mỗi  cá nhân được nguyên vẹn, tất sẽ lên án tập tục văn  hóa của việc cắt bỏ âm vật. Dù vậy, thì cũng  cần phải lưu tâm làm sao cho cách thức diễn đạt  các quy phạm phổ quát ứng đáp thích đáng với những hoàn  cảnh lịch sử cụ thể.

 

Chi rồi đây, đoạn một trong chương hai này của thông  điệp cũng sẽ không tránh được nhiều cuộc tranh luận  sôi nổi trong giới các triết gia và thần học gia. Trước  tiên là chung quanh đề tài về khả năng làm  nên giá trị. Thông điệp bác bỏ lập trường triết học  cho rằng các giá trị là do tự do của con người  làm nên (số 35). Nhưng đằng khác -- nếu đánh bạo mà  nói thì -- các giá trị cũng "không phải là  trực tiếp từ trời rớt xuống"! Vậy, để văn bản  khỏi bị hiểu theo một cách kiểu cứng nhắc, thì thiết tưởng  cần phải nhận rằng không thể quan niệm về tự do con người  theo cách kiểu quan niệm đối với tự do của Thiên Chúa  được, tức là đối với một tự do có khả năng tạo  dựng từ không không . Vì nếu thế, con người sẽ  trở thành một con tạo. Tuy nhiên, cũng phải  nhận rằng con người là một hữu thể có khả  năng cùng-sáng tạo hay khả năng làm phát sinh  ra những giá trị và những ý nghĩa, bằng cách tiếp  nhận cuộc hiện hữu của chính bản thân mình từ  tay Thiên Chúa, cũng như bằng cách giải thích các thực  tại hiện diện trong vũ trụ và giữa thế giới,  coi đó là công trình tạo dựng của chính Thiên Chúa.  Chính từ thái độ lắng nghe và cắt nghĩa các thực tại  thiên hình vạn trạng như thế, con người sẽ từ từ  phát hiện ra một lề lối "lôgíc" trong các mối tương  quan giữa xã hội loài người; và đó chính  là điều làm cho các giá trị "xuất hiện" lên  trong ý thức của con người.

 

Có thể có những nhà thần học Tin lành sẽ  cho rằng thông điệp đã đánh giá quá đẹp luật tự nhiên,  đến độ làm cho mờ nhạt hầu như hẳn đi thực trạng  sa đọa của lý trí con người đã bị lệch lạc vì tội  lỗi và luôn cần đến ơn cứu độ của Đức Kitô.  Trách như vậy là oan cho văn kiện, bởi vì, nhiều lần  (trong các số 17, 18, 36, 72 chẳng hạn) thông điệp đã nhấn  mạnh rất rõ đến sự việc này là: đã từng  bén rễ sâu vào giữa lòng nhân thế, tội lỗi  có thể làm cho việc nhận định luân lý méo mó, lệch lạc  tới một độ khó mà lường được. Có nhiều nhà tư  tưởng khác thì sẽ thắc mắc, không rõ là liệu  có thể giải quyết xong được vấn đề về tính chất phổ  quát và bất biến của luật tự nhiên một cách quá  dễ dàng và lẹ làng đến như thế hay không.  Như đã rõ, kỹ thuật chú giải -- với tất  cả những điều kiện mà kỹ thuật ấy coi là  cần thiết để có được một ý thức sâu xa về tính chất lịch  sử và về tính chất liên hệ đối với văn hóa --  hiện đang đóng giữ một vai cốt tủy ở trong tư tưởng  hiện đại. Liệu những thành quả mà kỹ thuật  ấy đã thu nhặt được, có được lắng nghe cho đủ hay  chưa?

 

 Lương Tâm Và Chân Lý

 

 Phần hai của chương hai (các số 54-64) giới thiệu một bản  tóm tắt học thuyết Tôma về lương tâm luân lý. Bản trình  bày này tương đối dễ hiểu cho độc giả. Qua  phần này, chủ ý của Đức Thánh Cha là lên  tiếng chống lại những lập trường lệch lạc do một  số các thần học gia chủ trương, cho rằng lương tâm không  đóng giữ vai trò làm chứng cho sự trung thành  hay bất trung đối với luật Chúa, nhưng là chính vai trò  sáng tạo, theo nghĩa hẹp của từ này (số 54). Rốt  cuộc, lập trường thần học sai lệch ấy đã dựng lên  "một bức tường phân cách, và cả đối địch nữa,  ở giữa giáo lý về giới luật có giá trị phổ quát,  và quy phạm của lương tâm từng cá nhân, là  nhân tố sẽ chung quyết phán định về điều lành điều  dữ." Và như thế, người ta đã đề ra những  "giải pháp mục vụ," mà không mảy may thấy  mình bị ràng buộc bởi các giới luật cấm chỉ (số 56).

 

Mà lương tâm là chứng từ của chính Thiên Chúa,  đã được ghi sâu vào trong tâm khảm con người  (số 58). Lương tâm ấy là "quy phạm trực tiếp của  đời sống luân lý cá nhân. Phẩm giá của thẩm cấp  lý tính ấy, và thẩm quyềm của tiếng nó nói cũng  như của những phán đoán nó đưa ra, đều phát nguyên  từ chân lý về điều lành điều dữ mà  nó có bổn phận phải lắng nghe và biểu đạt lên. Chân  lý ấy đã được đặt ra bởi "Luật Chúa" là  quy phạm phổ quát và khách quan cho tính chất luân  lý đạo đức. Không phải là phán đoán của lương  tâm thiết định nên lề luật; nhưng phán đoán ấy chứng thực  cho thẩm quyền của luật tự nhiên và của lý trí  thực tiễn, dựa theo quan hệ đối với Sự Thiện tuyệt đỉnh,  là Sự Thiện hằng thu hút con người quy hướng về với  mình, và cũng từ đó, con người tiếp nhận các  giới luật." Như thế, lương tâm trước tiên là một nguyên  tắc tuân tùng (số 60). Các phân đoạn 62 và 63 nhắc  lại rằng không phải bao giờ lương tâm sai lầm cũng  biện bạch được cho các tội ác khách quan, bởi vì, đương  sự có thể phải chịu trách nhiệm về sự sai lầm của  lương tâm mình. Vì thế, cần phải lo cho lương tâm được soi  sáng đầy đủ nhờ biết sống hòa nhịp với điều lành  sự thiện, để từ đó, đâm rễ sâu và tiến phát  mạnh ở trong đức khôn ngoan. Giáo Hội và Huấn quyền  thường đóng góp một phần trợ lực lớn vào trong việc  huấn luyện lương tâm (số 64).

 

Cũng cần phải lưu ý để đừng lẫn lộn thái  độ sẵn sàng tuần phục đối với Luật Chúa, như thông điệp  đã nhấn mạnh, với trạng thái tiêu cực, vô bản lĩnh  hoặc rụt rè sợ sệt đối với văn tự các giới luật. Nhưng  trong thực tế, không thiếu chi những lần sinh hoạt cuộc  sống đưa đẩy con người vào trong những trường  hợp gặp xung đột giữa các quy phạm luân lý, hoặc gay  cấn hơn nữa, vào giữa những hoàn cảnh  mới lạ cho đến độ ngay cả các quy phạm luân lý cổ truyền  cũng xem ra bất lực, không mang lại được ánh sáng dứt  khoát cho các vấn đề cần giải quyết. Trong những lúc  như thế, lương tâm làm như bị giằng co phân vân. Lúc đó,  từ đức khôn ngoan, lương tâm sẽ rút lấy được can đảm  mà đưa ra những sáng kiến táo bạo, nhưng cũng lại  là những sáng kiến vừa biết tôn trọng các giới  luật phổ quát, vừa biết lưu tâm đến tình tiết cá biệt  nhiều lúc rất là bi đát của hoàn cảnh cụ  thể. Ngoài ra, nếu việc quy chiếu vào Huấn quyền là  thật sự cần thiết cho công tác soi sáng lương tâm, thì cũng  không phải vì thế mà quên mất đi sự thật này  là giáo huấn của Huấn quyền không mang tính cách nguyên  khối, tức là không phải mọi phần, mọi điểm trong  giáo huấn ấy đều phải được coi trọng và đánh giá  ngang như nhau. Có những quy tắc rõ ràng để định  mức tầm trọng yếu của các văn kiện khác nhau do Huấn  quyền đưa ra; các quy tắc này cho thấy rằng không phải  tất cả những gì Đức Thánh Cha và các giám mục  khẳng định, đều có cùng một mức độ quan trọng như nhau  về mặt thần học (Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Ánh  sáng muôn dân , số 25).

 

 Lựa chọn căn bản và những thái độ  xử sự cụ thể

 

 

 Đoạn ba trong phần hai thông điệp (các số 65-70) vạch rõ  những cách quan niệm sai lệch về mối liên hệ giữa  "lựa chọn căn bản" và các hành vi cụ thể  của con người. Đoạn này nhắc lại những xác  tín đã từng được trình bày trong văn kiện Persona  humana (1975) do Bộ Giáo lý Đức tin đề xuất, bàn về  một số vấn đề liên quan đến luân lý giới tính. Qua trung  gian các tác phẩm của Karl Rahner, cách phân biệt giữa  lựa chọn căn bản và các hành vi giới loại, đã  trở thành quen thuộc đối với các nhà thần học  luân ký trong khắp thế giới. Thông điệp đã không đặt  vấn đề đối với cách phân biệt ấy, nhưng là đối với  một số cách kiểu sử dụng lối phân biệt ấy. Lựa chọn  căn bản là lập trường lựa chọn và quyết định  với toàn bộ con người của mình, hoàn toàn  đứng về phía ủng hộ hoặc chống lại Sự Lành/Thiện,  ủng hộ hoặc chống lại Chân Lý, tức là rút cuộc,  quyết định đứng về phía theo hay phía chống Thiên Chúa. Kinh  Thánh thường nói đến thái độ lựa chọn ấy, và gọi  đó là thái độ lựa chọn của lòng tin tuân tùng  (số 66). Nhưng, cần phải hiểu cho đúng là lựa chọn  căn bản ấy tất yếu phải được thể hiện bằng những  hành vi giới loại, tức là qua những thái độ xử  sự cụ thể, biểu hiện rõ ra bên ngoài, bởi chúng  gắn liền với một môi trường văn hóa xã hội nhất  định. Thế nên, không thể có chuyện biến cách phân biệt kia  trở thành một kiểu phân cách tách biệt giữa lựa  chọn căn bản và các hành vi giới loại được.

 

"Khác với ý hướng tổng quát [...], lựa chọn căn bản  hằng không ngừng được thể hiện qua các hành động  lựa chọn có ý thức và tự do. Chính vì thế, lựa chọn  ấy sẽ bị chối bỏ đi, khi con người dùng quyền  tự do của mình với tất cả ý thức mà làm những  hành động chọn lựa đi ngược lại với lựa chọn căn bản  của mình, trong những sự việc nghiêm trọng về mặt  luân lý" (số 67). Vì vậy, có thể là chỉ một hành  vi riêng rẽ nào đó không thôi -- vì bao giờ  ý muốn chủ tâm cũng tự do qui chiếu dến sự thiện  sự ác -- cũng đủ để đảo ngược hoàn toàn  chiều đi của lựa chọn căn bản (số 70). Thí dụ: một  người lính tự do chấp nhận hành hạ tra tấn một người  tù. Vì nó vận dụng toàn bộ lòng muốn ác hại  của ý chí, cho nên hành vi ấy, dù là riêng  rẽ và có một không thôi, thì cũng gây liên lụy  ác hại làm cho lựa chọn căn bản ra xấu xa đi. Cũng  tương tự như thế đối với tất cả mọi hành vi mà  truyền thống luân lý trong Giáo Hội gọi là hành vi  xấu tự nội tính: đoạn bốn trong chương hai của thông điệp  sẽ bàn đến các hành vi này. Bởi thế, tội  mà truyền thống gọi là "trọng," không phải  là chỉ đơn thuần xảy ra qua một hành vi bên trong  nội tâm nói lên một lựa chọn căn bản chống lại Thiên  Chúa không thôi, nhưng còn xảy ra cả khi với tất  cả ý thức cùng ý chí tự do, và dù là  vì bất cứ lý do gì đi nữa, con người lựa chọn một  điều lệch lạc trầm trọng (số 70); như là hành động cưỡng dâm chẳng hạn.

 

 Hành vi luân lý; cứu cánh và thuyết cứu cánh.

 

 Đoạn bốn (các số 71-83) trong phần hai của thông điệp  là thực sự khó đối với những ai không quen thuộc  một đàng là với khoa luân lý Tân học thuyết Tôma,  và đàng khác là với các sách báo ngày nay,  nhất là tại Bắc Mỹ, viết về thần học luân lý. Theo  các nhà thông thạo nhận định, thì có thể là đoạn  bốn này chủ yếu nhắm vào một hình thái nào  đó của thuyết hệ quả (consé-quentialiste ) hay  của trào lưu cứu cánh học hiện đang bành trướng  rộng, đặc biệt là tại Hoa Kỳ; các tác giả điển  hình và được biết đến nhiều nhất của trào lưu  ấy là: John Boyle, Lisa Cahill, Charles Curran, Margaret Farley,  Daniel Maguire, Richard McCormick, Timothy O'Connell. Nhiều nhà  thần học luận lý khác (J. Fuchs, L. Janssens, B. Schueller) cũng  được liệt kê vào trong danh sách các học thuyết gia hệ  quả, vì họ cọng tác vào trong việc hình thành trào  lưu ấy, một trào lưu -- phải nói ngay là --  không có gì là thống nhất cả. [3] Vì vậy, xem ra  tốt hơn hết là cứ coi mỗi một quan điểm sai lệch thông  điệp trưng ra, như là một thứ lập trường-mẫu mà  các nhà thần học phải cẩn trọng đề phòng để  tránh; và như thế là đủ, không cần phải mổ  xẻ dong dài để thử đoán xem câu này hay câu  kia trong thông điệp có ý nhắm phê bình chỉ trích tác giả  nào.

 

Như thấy trên đây, chính qua các hành vi của mình mà  con người làm cho bản thân mình nên hoàn hảo,  trong tư cách là con người. Các hành vi con người  là những hành vi luân lý , theo nghĩa là  chúng biểu đạt và xác định thiện tâm (lòng tốt) hoặc  ác tâm của con người có những hành vi ấy.  Như thế, những hành vi ấy biểu hiện diện mạo sâu  kín của tinh thần con người (số 71). Do đó, tính chất  luân lý của các hành vi được xác định bởi mối  liên hệ giữa tự do con người và sự lành/ thiện  chân chính, sự thiện mà Khôn Ngoan của Thiên Chúa  đã đặt định làm Lề Luật đời đời. Luật ấy  được nhận biết vừa nhờ lý trí tự nhiên của con  người (và lúc đó, được gọi là "luật tự nhiên"),  vừa nhờ Mạc Khải siêu nhiên của Thiên Chúa  (và lúc đó, được gọi là "Luật Chúa"); nhờ  Mạc Khải, việc nhận biết kia đạt đến mức trọn vẹn và  hoàn hảo. Hành động được coi là tốt lành  về phương diện luân lý, khi việc tự do lựa chon phù hợp  với lợi ích đích thực, với những gì thực sự tốt lành  cho con người, tức là phù hợp với những yêu  cầu của Luật đời đời, nhận biết được vừa  qua luật tự nhiên, vừa qua Luật Chúa. Thế nên, những  hành động tự do lựa chọn như thế nói lên thái độ hướng  chiều tự do của bản thân con người về với cứu  cánh tối hậu của mình, là Thiên Chúa. Lấy lý trí  mà định đoạt hành vi nhân tính cho đúng với sự thật,  với lẽ phải của nó, và lấy ý chí tự do mà  tìm kiếm điều tốt lành mà lý trí đã nhận biết  như thế: đó chính là những gì làm nên đời sống  luân lý (số 72). Như vậy, đời sống luân lý biểu hiện cứu cánh căn bản của con người, bởi  vì đời sống ấy chính là đà nỗ lực quy hướng  một cách có suy nghĩ đắn đo, hết mọi hành vi nhân tính  về với Thiên Chúa, là Sự Thiện tuyệt đỉnh và là  cứu cánh (télos) tối hậu của con người. Thông  điệp cũng nhấn mạnh để nhắc nhở thêm là tuy thế,  cũng đừng nên quên đi rằng đà quy hướng ấy không  phải là một chiều kích chủ quan chỉ đơn nhất tùy  thuộc vào ý hướng của cá nhân, nhưng là một điều  kiện khách quan đòi hỏi phải làm sao để các  hành vi nhân tính tự chính chúng , có thể được định  hướng về với cứu cánh ấy, bởi sự việc chúng phù  hợp với lợi ích đích thực của con người (số 73).

 

Cuối cùng rồi tính chất luân lý của hành động  tự do sẽ tùy thuộc vào cái gì? Để trả lời  cho câu hỏi này, Đức Thánh Cha đã lấy lại giáo  thuyết Tôma về các "nguồn mạch của luân lý" được  xây dựng trên cơ sở của việc phân biệt rõ các  cấu tố khác nhau trong hành vi con người; đó là:  chủ ý , các hoàn cảnh đối  tượng . Chính học thuyết về ba nguồn mạch này sẽ  được dùng đến để đánh giá một số các giả thuyết  đạo đức học mà các nhà thần học gọi là "cứu  cánh học." Các giả thuyết này nhấn mạnh đặc biệt  đến tính cách phù hợp của các hành vi nhân tính  đối với các cứu cánh mà tác nhân theo đuổi, và đối  với các giá trị mà đương sự chấp nhận. Tuy nhiên, theo  các giả thuyết ấy, các tiêu chuẩn dùng để đánh giá  tính cách thích đáng luân lý của một hành động, phải  được rút ra từ sự việc lo giữ cho tương xứng tình trạng  cân bằng giữa những lợi ích luân lý hay tiền luân  lý [4] cần đạt được. Được coi là  chính đáng, một thái độ hành động có khả năng đem  lại lợi ích tối đa và kéo theo tai hại tối thiểu cho tất  cả những ai liên hệ (số 74). Đã hẳn, muốn xa tránh  đường lối chủ trương của các chủ thuyết thực  dụng và vị lợi, các giả thuyết kia đang cố tiến hành  một công trình nghiên cứu chính đáng nhằm đối thoại với các  anh chị em không công giáo hiện sống trong các môi trường  xã hội đa dạng; và đó là một ý hướng đáng ca  tụng; tuy nhiên, theo thông điệp nhận định, các giả thuyết  ấy đã đề xuất và cổ vũ những lối giải  đáp sai lạc, mang nặng ảnh hưởng trực tiếp của  một quan điểm sai lầm về đối tượng của hành  động luân lý . Và Do đó, mới xảy ra tình trạng  đóng chặt giam mình vào trong khuôn khổ của chủ  thuyết cứu cánh , để quên đi rằng bao giờ ý chí con  người cũng phải được vận dụng đến trong các hành  động lựa chọn của chính con người, hay tệ hơn nữa,  để chủ trương một kiểu quan niệm về tự do mà không  lưu ý gì tới mối liên hệ khách quan nó có đối với chân  lý của sự thiện. Cách quan niệm như thế về đạo đức học,  đã làm phát sinh một số trào lưu tư tưởng khác  nhau, như: thuyết hệ quả (conséquentialisme) là  học thuyết chủ trương rút ra từ việc ước tính những  hậu quả có thể dự đoán được của hành động, những  yếu tố cần thiết để làm tiêu chí mà xác định tính  chất chính trực của một hành vi; và thuyết  tỷ lệ (proportionnalisme) là học thuyết dựa theo  tỷ lệ giữa các hiệu quả tốt và xấu của  hành vi mà xác định về mức độ tối đa của những  gì tốt lành có thể đạt được, hay là về mức độ tối  thiểu của những gì tai hại có thể xảy ra trong  thực tế của một hoàn cảnh cá biệt.

 

Một trong những kết luận mà các giả thuyết trên  đây tất sẽ đưa tới là: không bao giờ được đề  ra một hình thức cấm chỉ tuyệt đối những thái độ xử  sự cụ thể nào đó, vì lẽ chúng có thể, trong mọi  hoàn cảnh và mọi bối cảnh văn hóa, đi ngược  lại với các giá trị luân lý nhận thức được bằng lý trí  hay nhờ mạc khải. Tức là, nói cách khác, sẽ  không còn có những hành vi xấu tự nội tính (hành  vi xấu do tự nội dung khách quan của chúng, chứ không  phải vì các hoàn cảnh cụ thể hay là vì chủ  ý của tác nhân; như hành động loạn luân chẳng hạn).  Khi mà điều lành/thiện luôn bị lẫn trộn với điều  dữ/ác, và mọi hiệu quả tốt đều bị dính líu với  những hiệu quả xấu như đang thấy trong thế giới hiện  nay, thì theo các giả thuyết ấy, tính chất luân lý của  hành vi con người sẽ phải được phán định theo  một cách thức đổi khác như thế này: tính chất tốt  lành luân lý của hành vi ấy phải được phán  định tùy theo chủ ý mà tác nhân có đối với các  điều lành/ thiện luân lý; còn tính chất chính trực của nó thì phải được phán định tùy theo việc ước  tính các hiệu quả hay hệ quả tốt xấu có thể dự kiến,  và tùy theo tỷ lệ của chúng (số 75).

 

Thông điệp nhận định tiếp là những quan điểm đạo đức  học theo kiểu ấy thì không phù hợp với giáo lý của  Giáo Hội; và ngay cả khoa giải nghi học (casuistique)  công giáo cũng không thể nào dung dưỡng được những  quan điểm như thể ấy, bởi vì đối với khoa này, không  có chuyện đặt lại vấn đề về giá trị và hiệu lực của  các giới luật cấm chỉ có sức buộc phải giữ trong  mọi lúc và mọi hoàn cảnh, không có trường  hợp miễn trừ (số 76). Cũng nên lưu ý rằng sở  dĩ Đức Thánh Cha đã đưa ra nhận định có liên quan đến khoa  giải nghi học công giáo như thế, chính là vì các giả  thuyết hệ quả thường bàn giải dài rộng  về một nguyên tắc được dùng đến ở trong khoa này:  nguyên tắc "hành vi song hiệu." Để áp dụng nguyên  tắc này cho đúng, thì cần phải phán định về tỷ  lệ giữa tính cách trầm trọng của lý do hành  động và mức độ trầm trọng của hậu quả xấu do  chính hành động gây ra. Thử lấy trường hợp của  một phụ nữ mang thai nhưng lại bị ung thư tử cung, làm  thí dụ: dùng nguyên tắc song hiệu (hệ quả song đôi),  thì có thể đi đến chỗ cắt bỏ tử cung để cứu người  mẹ (hiệu quả tốt), nhưng cùng lúc đó, cũng gây  ra hiệu quả xấu, tức là việc gián tiếp làm cho  bào thai phải chết. Do đó, cần phải phán định về  tỷ lệ giữa sự việc cứu người mẹ và sự việc  gián tiếp làm cho người con trong bào thai phải  chết đi.

 

Theo Ánh Quang Chân Lý , thì đâu là những  tiêu chí lý tính làm cơ sở cho một quyết định luân  lý chính trực? Đó là những tiêu chí có thể nhận ra  được từ trong ba nguồn mạch của luân lý. Tuy nhiên,  chỉ đơn thuần lưu ý đến chủ ý và các hoàn cảnh  không thôi, -- cho dù đó là điều không thể bỏ  qua được, -- thì cũng vẫn chưa đầy đủ (số 77).  "Tính chất luân lý của hành vi con người tùy  thuộc trước tiên và chủ yếu, vào đối tượng  đã được nhận thức theo lý trí và đã được ưng nhận bởi ý chí có suy nghĩ cân nhắc" (số 78). Đây là  một trong những lời khẳng định chủ chốt nhất của  thông điệp. Vậy, cần phải nhận thức cho thật đúng những  gì văn kiện hiểu về đối tượng của hành vi con người.  Vì thế, thiết tưởng cũng nên đi rộng ra ngoài văn  bản để thử tìm hiểu về ý nghĩa và nội dung của  đối tượng ấy theo phối cảnh của học thuyết Tôma mà  chính Đức Thánh Cha đã dùng đến.

 

Đối tượng không có nghĩa là khía cạnh "thể chất"  của hành vi (như là: trả cho ai đó một món  tiền vay mượn, bằng cách trao tận tay người cho vay mượn,  những tờ giấy bạc). Lối quan niệm theo "thể chất"  như thế là lối quan niệm thông thường đối với người  thời đại này. Ngược lại, theo thánh Tôma, đối tượng  là "mục đích gần của một sự lựa chọn có suy nghĩ  đắn đo đưa đẩy đến hành động quyết định của ý chí  tác nhân" (số 78). Chính vì thế, như trước kia nhà đại  tư tưởng Tân học thuyết Tôma Jacques Maritain đã từng  lưu ý, "nếu trong một số điều kiện nào đó, việc áp  dụng một giới luật trở thành phi lý, thì giới luật  ấy không còn có quyền bắt buộc được nữa, bởi  vì điều tốt lành luân lý tất yếu phải là điều  xứng hợp với lý trí con người; một giới luật đi ngược  lại với lý trí, thì không còn phải là một giới  luật." [5] Thí dụ:  nếu tôi biết được là người cho mượn sẽ dùng  những món đồ tôi trả để phá hoại quốc gia, thì lúc  đó giới luật theo nguyên tắc "chớ cầm giữ những  món đồ cất trữ của người khác" không còn  có hiệu lực của một giới luật, không còn phải  là một giới luật nữa, bởi vì, trả lại món  tiền cất trữ ngay lúc đó, là một việc làm trái  với lý trí. Mà, các hành vi con người có tốt lành  về mặt luân lý hay không là tùy ở chỗ chúng  có phù hợp với lý trí hay không. [6] Cũng trong  chiều hướng ấy, Đức Cha André Léonard đã nhận định rằng  lời Huấn quyền khẳng định coi việc ngừa thai là  một hành vi lệch lạc tự nội tính, khi việc ấy hàm  ngụ thái độ dụng ý loại trừ khả năng sinh sản  trong các hành động giao hợp theo nhân tính , không  có nghĩa là đối tượng "ngừa thai" phải được  hiểu theo thiên nhiên vật lý. Vì vậy, Đức Cha nói tiếp, "việc  một phụ nữ dùng (một việc làm hoàn toàn  chính đáng) thuốc ngừa thai bằng cách uống, để dự phòng  một cuộc cưỡng hiếp [như là trường hợp một người  vợ dự kiến là người chồng nghiện rượu của mình  sẽ cưỡng bức mình] không phải là một trường  hợp miễn trừ khỏi luật tự nhiên, vì đó là  một cảnh ngộ luân lý khác hẳn với chính bối cảnh  của một cuộc giao hợp theo nhân tính ."  [7] Như thế, học thuyết Tôma về đối tượng sẽ  mở ra một đường hướng thực sự mềm dẽo, có khả  năng ứng đáp thích đáng cho những hoàn cảnh phức  tạp trong cuộc sống con người, nhưng với điều kiện là  cần phải hiểu cho chính xác về học thuyết, về đường  hướng ấy.

 

Các phân đoạn 78-83 thì dồn nỗ lực vào việc quảng  giải cách hiểu như thấy trên đây của học thuyết Tôma  về đối tượng của hành vi nhân tính, để từ đó  cắt nghĩa cho thấy là thực sự có những hành  vi xấu tự nội tính. Phân đoạn 78 nhận định rằng "hành  vi là thực sự tốt, khi đối tượng của nó phù hợp  với lợi ích (những gì là tốt lành cho bản thân)  của con người, và biết tôn trọng những lợi  ích quan yếu về mặt luân lý đối với cá nhân ấy." Dù  có đặc biệt lưu tâm đến đối tượng luân lý, để không quên  chú ý đến chiều kích "cứu cánh" nội tính của hành  động con người, thì nền luân lý kitô cũng vẫn  xác định rằng lợi ích thật sự của con người chỉ đạt  được, khi các thành tố chủ yếu của bản tính  con người được tôn trọng. Hành vi nhân tính đạt đến  mức hoàn hảo khi ý chí con người biết quy hướng  nó về với cứu cánh tối hậu của mình, là Thiên Chúa.

 

Bởi vậy, Đức Thánh Cha khẳng định rõ, là cần phải  bác bỏ luận đề do các giả thuyết cứu cánh và  tỷ lệ xướng xuất, cho rằng không thể dựa theo "đối  tượng" mà xác định tính chất (luân lý) của việc  lựa chọn có suy nghĩ đắn đo trong một số thái độ xử sự  và hành động được (số 79). Có những đối tượng  của hành vi con người không thể nào quy hướng  về với Thiên Chúa được cả, vì chúng hoàn toàn  mâu thuẫn với lợi ích chân chính của con người,  và tình trạng mâu thuẫn vẫn là thế dù  những hoàn cảnh của hành vi và chủ  ý của tác nhân có là như thế nào đi nữa.  Và như thế, chúng làm thành những hành  vi xấu tự nội tính . Công đồng Vaticanô II đã kê  ra, có thể nói là danh sách của một số các hành  vi loại ấy. Trong số đó, có các hành vi sau đây: diệt  chủng, phá thai, làm cho chết êm dịu, tự tử cố  tình, hành hạ tra tấn, bắt làm nô lệ, mãi dâm,  v.v... (số 80). Dù là để đạt được một lợi ích tốt  lành, thì cũng không bao giờ có quyền làm một  trong các hành vi có đối tượng phản nhân tính, tức  là mang tính chất phỉ báng chân lý về con người. Vậy  thì, vấn đề xác định tính chất luân lý của các hành  vi nhân tính, và cách riêng, việc khẳng định là có  các hành vi xấu tự nội tính, là thực ra không gì khác  ngoài những cách thức nói lên điểm chủ chốt của  chính vấn đề về con người và về chân lý bản thân  con người (số 83).

Đọc phần bốn này trong chương hai của thông điệp, nhiều  nhà thần học luân lý sẽ cảm nhận ra là mình  được mời gọi để nỗ lực suy tư và nghiên cứu cho  sâu rộng hơn nữa. Chắn hẳn, nhiều câu hỏi sẽ  nảy lên trong tâm trí của họ. Thử hỏi có thể  tránh được dùng đến khái niệm về điều dữ/ác hữu  thể, là một khái niệm vừa ở trong và cũng  vừa ở ngoài lãnh vực luân lý? Ở trong,  là vì để xác định tính chất xấu về mặt hữu thể (như  là tình trạng mù lòa) của một thực thể, thì  cần phải dựa theo một tiêu chí đạo đức học (xem thấy  được là một điều tốt lành gắn liền với bản tính  con người). Ở ngoài lãnh vực luân lý, là  vì không bao giờ có thể tách rời đối tượng của  một hành vi nhân tính ra khỏi hành động quyết định  của ý chí được cả (gây ra tình trạng mù lòa  có thể là kết quả của một cuộc giải phẫu  y khoa cần thiết hay ngược lại, chỉ là hậu quả của  một hành động tội ác). Có phải là khái niệm  về điều dữ/ác hữu thể đã được hàm ngụ một  cách mặc nhiên ở ngay trong chính nguyên tắc song hiệu,  là một nguyên tắc chủ yếu của khoa giải nghi  học? Đó là những gì mà trào lưu cứu cánh đã  nhận thức được rất rõ.

 Hơn nữa, hết sức khó để người thời đại này  có thể hiểu nổi khái niệm về hành vi xấu tự nội tính;  lý do là vì, mang nặng não trạng khoa học, họ chỉ biết  nhận ra đối tượng của một hành vi trước tiên là  qua dạng thái "thể chất" bên ngoài của nó.  Rồi, chẳng phải vì thế mà khái niệm ấy sẽ gặp  phải nguy cơ bị hiểu theo một cách thức quá cứng nhắc,  để từ đó kéo theo những quờ quạng lang bạt trong  lãnh vực mục vụ, làm cho nhiều người phải  chịu giam hãm ở trong tình trạng hồi hộp âu lo đó sao?  Xem ra cần phải khởi công nghiên cứu thần học để  tìm cho ra một khái niệm khả dĩ biểu đạt được ý niệm  "không thể chấp nhận được," mà lại vừa thích  hợp hơn đối với những yêu cầu của môn khoa học luận  ngày nay. Ngoài ra, có lẽ những suy tư khai triển  ở trong đoạn bốn này đã xem ra giữ một thái  độ quá lặng thinh trước cảnh bi thảm của những  trường hợp cần phải xử thế dù là đau thương,  theo lối dung hòa để giải quyết những vụ xung đột  giữa các giá trị hay giữa các quy phạm đạo đức học.  Sau cùng, những lời nhắc nhở có tính cách giáo  lý nhằm nêu bật tầm trọng yếu của vai trò mà  sự thật (chân lý) đóng giữ ở trong lãnh vực luân  lý, hẳn là rất quan trọng; tuy nhiên, chẳng phải tốt  hơn là nên tổng hợp các lời nhắn nhủ đó lại  để đặt chung tất cả vào trong nỗ lực suy tư về  khái niệm epieikoia (lệ đình luật)[8] rất được  truyền thống luân lý dùng đến, cũng như về những  gì mà khoa giải nghi học đã từng thu lược được  qua những bước cả dám mở ra những lối ngõ  mới nhằm xử lý tình trạng căng thẳng thường thấy  giữa các nguyên tắc phổ quát và những cảnh  huống cá biệt cụ thể?

 

 Phần Ba: Sự Thiện Luân Lý Trong Đời Sống Giáo Hội Và Thế Giới

 

 Chương cuối của thông điệp là một chương tương đối  dễ hiểu. Thế nên, cũng không cần chi phải giới  thiệu dài dòng. Từ các suy tư và nhận định  thần học nêu lên trên đây --nêu lên nhằm cổ vũ công  tác chăm lo bảo toàn cho nguyên vẹn mối liên hệ cố  hữu giữa sự thật, sự thiện và tự do con người--  Đức Thánh Cha đã rút ra một số kết luận quan hệ đến  đời sống người kitô, quan hệ đến xã hội, đến  công tác Phúc âm hóa mới, cũng như quan hệ đến sứ mạng  của các nhà thần học luân lý (số 84). Đương nhiên,  mục tiêu không phải chỉ là để vạch trần những  quan điểm sai lạc, nhưng, tích cực mà nói, còn là  để không ngừng quy hướng tầm nhìn về với Đức Giêsu chịu  đóng đinh, Đấng đã vén mở cho thấy ý nghĩa đích thực  của tự do, và đã sống sung mãn ý nghĩa ấy  qua hành động tự hiến trọn vẹn chính con người của  mình (số 85). Người kitô được mời gọi để dự phần  vào trong niềm tự do "kitô-tính" ấy; nhưng họ cần  phải biết ý thức và nhận chân rằng tự do của mình thuộc loại tự do của hàng tạo vật đã được  Thiên Chúa dựng nên, và rằng bởi mang phải tỳ  vết của tội lỗi, tự do ấy thường nghiêng chìu  theo đà hướng phản nghịch để đi ngược lại với thái  độ bẩm thụ của mình, là thái độ rộng mở đón  nhận Sự Thiện và Sự Thật (số 86). Đức Kitô chịu đóng  đinh và phục sinh --là Sự Thật-- vén mở cho  thấy rằng có sống tình yêu thương, có tự hiến chính mình cho  Thiên Chúa và cho tha nhân, thì tự do mới đạt được đến  mức thành tựu sung mãn của chính mình. Đức Giêsu  là hiện thân sinh động của tự do hoàn hảo,  tự do đã chọn lấy chân lý làm lẽ sống (số 87).  Chính vì thế, các nhà thần học có bổn phận phải chăm  lo làm sao để luân lý đừng bị tách rời ra khỏi  đức tin, và để nêu bật những giá trị mới mẻ cùng  sức mạnh lớn lao mà chính đức tin kitô đã mang lại  hầu soi sáng và tăng cường cho khả năng phán đoán  của con người: mới mẻ và lớn lao so với những  gì một môi trường văn hóa cụ thể có thể cung ứng cho  cuộc sống của một con người (các số 88-89). Các phân  đoạn này đi sát theo đường hướng đã từng được  nói lên qua chính tựa đề của chương ba: " Để thập  giá Đức Kitô khỏi trở thành hư vô" (1Cr 1,  17).

 

 Tiếp đến là phần trình bày khá dài về hành  động tử đạo, nhận định rằng đó chính là thái độ hùng  hồn nói lên lòng tán dương, thần phục đối với tính chất  bất khả vi phạm của Luật Chúa (các số 90-94). Nhắc  nhở như thế là một việc làm hợp tình hợp cảnh,  vì nó giúp cho ý thức lại rằng thái độ tuân tùng đối  với Luật Chúa, tức là luật tình yêu, có thể đưa người  kitô tới chỗ noi gương của Thầy mình mà can đảm  cởi bỏ chính mạng sống của mình. Lời nhắc nhở  ấy của Đức Thánh Cha mang một tầm hưởng trọng yếu  đặc biệt đối với xã hội ngày nay; thật thế, trong  nhiều lãnh vực hoạt động của thế giới hiện đại,  không thiếu chi những vụ xã hội đồng lõa nhúng  tay vào việc dùng người để bóc lột con người.  Tuy nhiên, cũng nên lưu ý đến những nét tiểu dị tinh  tế trong lời của Đức Thánh Cha. Ngài ghi nhận là  con số những người được kêu gọi để chịu tử đạo  là con số ít; nhưng đồng thời, Ngài cũng nhận  định thêm là thái độ sống trung thành hằng ngày  với Tin Mừng, có thể đưa dẫn tới một mức độ dấn  thân đôi lúc anh hùng. Dù sao thì cũng cần  phải ghép chung lời kêu gọi trên đây, lại với lời  khẳng định không đổi thay của truyền thống đạo đức học  kitô, chỉ dạy rằng nếu vì trung thành với Đức Kitô và  với sự thật luân lý mà có thể phải dấn thân vào  trong những lựa chọn nặng nhọc và anh hùng --với  sức đỡ nâng của đức dũng lực-- thì không phải  vì thế mà được quyền mời gọi con người khuôn rập  đời mình theo một mẫu sống anh hùng vô cớ .  Đó chính là điểm giúp cho thấy rõ tính chất phong phú  của khái niệm "lệ đình luật," rất thông dụng trong  truyền thống đạo đức học kitô.[9]

 

Đức Thánh Cha tiếp tục minh họa (trong các số 95-97) cho thấy  rằng các quy tắc phổ quát và bất biến của luân lý  (thí dụ: không bao giờ được làm cho chết êm dịu!) là  để phục vụ con người và xã hội. Tuy nhiên, cũng  cần phải cẩn trọng lưu ý thêm là: có khởi phát  từ một "tình yêu kiên trì và tin tưởng, mà  con người hằng cần đến suốt trong tiến trình cuộc sống  luân lý thường là vất vả bởi phải vượt  qua những khó khăn, những yếu đuối và những  cảnh huống thương đau," thì việc nhắc lại quy phạm cho  con người, mới thực sự là một việc làm nhân đạo.

 

Luân lý đạo đức cũng góp phần phục vụ cho cả công  tác canh tân đời sống xã hội và chính trị nữa  (các số 98-101). Qua sự việc nhắc lại rằng chỉ có Thiên Chúa  mới là Sự Thiện tuyệt đỉnh, luân lý đánh đổ đến tận  gốc chính sách cực quyền chối bỏ phẩm giá siêu việt  của con người, là hình ảnh của Thiên Chúa  vô hình. Luân lý vạch trần cả hàng loạt thái độ  hành động làm thương tổn nhân phẩm (gian lận, đồng  lương bất công, v.v...) [số 100]. Luân lý vạch trần không  phải là nền dân chủ (cho rằng thông điệp lên  tiếng chống lại nền dân chủ là trắng trợn bóp méo  giáo huấn của văn kiện), nhưng là cái nguy cơ có thật,  như đang hiển hiện tại một số thể chế dân chủ: mối nguy  ùa theo chủ thuyết tương đối mà coi nhẹ những  giá trị căn bản của loài người. Cũng vì  thế mà nhiều nhà luân lý học sẽ lấy làm  tiếc là đã không được nghe đề cập cho tích cực đến  các cuộc nghiên cứu về khoa đạo đức học, quan hệ đến kỹ  thuật tranh luận, do Apel và Habermas đề xướng. Thực vậy,  các cuộc nghiên cứu như thế có thể mang lại những đóng  góp đáng kể để soi sáng cho mối tương quan giữa luân lý  đạo đức và lề lối tranh luận dân chủ.

 

Thông điệp nhận định tiếp (các số 102-105) rằng nhiều lúc,  mối hài hòa giữa tự do và sự thật đòi  hỏi những hy sinh lớn, nhất là vì con người  đang phải sống trong cảnh huống tội nhân. Có thể việc  chấp hành lề luật Thiên Chúa là việc khó, rất khó,  nhưng chắc chắn không phải là việc không thể làm  được, nếu biết mở rộng lòng ra để đón nhận Mầu nhiệm  Cứu độ của Đức Kitô. Đọc thấy các đoạn này, chắc  hẳn các vị mục tử thường giúp đỡ các người  đang giẫy giữa những trạng huống hầu như vô phương  cứu gỡ hay trong những tật xấu ăn sâu vào người  từ hàng chục năm nay, sẽ không khỏi giật mình  bỡ ngỡ. Vì thế, nên lưu ý thêm rằng để hiểu cho chính  xác và trọn vẹn lời của Đức Thánh Cha, dù  các lời đó có xem ra cương quyết và tuyệt đối, thì  cần phải đặt chúng vào trong bối cảnh chung của  đại truyền thống khoa giải nghi học; thật vậy, khoa này  phân biệt rõ giữa hai bình diện: bình diện tính chất  hữu hạn và bình diện tội lỗi, [10] và đưa ra những tiêu mốc (như  là "luật tiệm tiến" chẳng hạn) hầu giúp cho việc  xử lý những trường hợp cần phải giúp đỡ  lâu dài những người chán chường cuộc sống,  đang lê những bước chậm chạp trên đường tìm Chúa.

 

Thông điệp nhận xét rằng giữa một thế giới thấm nhiễm  nặng ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng  chủ quan, vị lợi và tương đối, như thế giới chúng ta  ngày nay, việc tuyên báo và giới thiệu luân lý tất  sẽ mang lại một phần đóng góp lớn cho công tác "tân  Phúc âm hóa" (các số 106-108). Dù không mảy may  bất đồng với các nhận định trên đây, thì nhiều thần học  gia cũng sẽ ước ao được nhận định thêm rằng một trong  những điều kiện tiên quyết cần phải có để có thể  giúp cho các tầng lớp xã hội ngày nay gặp được cơ  may lắng nghe những lời chất vấn của luân lý kitô,  là phải làm sao để nền luân lý này --đúng  theo nguyện ước Đức Phaolô VI bảy tỏ trong thông điệp Hội Thánh của Người (1964)-- biết dấn thân  vào con đường đối thoại với thế giới hiện đại, biết  nhìn nhận những đóng góp nhiều loại về mặt đạo đức học  mà thế giới ngày nay đang đề xuất, và biết đón  nhận những lời chất vấn đôi khi chói tai, đang vang  vọng lên từ chính giữa thế giới hôm nay.

 

Đó chính là điểm làm cho thấy rõ tầm trọng yếu  lớn rộng trong công tác phục vụ của các nhà thần  học (các số 109-113). Làm trung gian giữa một bên là  Giáo Hội hằng chăm lo giới thiệu đức tin muôn thuở, và  bên kia là những lời chất vấn bén nhọn nhất gióng  lên từ nền văn hóa làm môi trường sống của  họ, các thần học gia có bổn phận giúp cho mọi người  thấu hiểu được đức tin, đức tin trọn vẹn, tức là gồm  hàm cả chiều kích luân lý nữa. Đức Thánh Cha nhắc  lại một số điều kiện cần thiết của một công trình nghiên  cứu thần học nghiêm túc; các điều kiện đó là: đời  sống đức tin mãnh liệt, thái độ sẵn sàng bước theo  Thánh Linh và Truyền Thống, niềm quan tâm lo cho mình được  mãi mãi làm phần tử của Giáo Hội, đặc  biệt là qua hành động lấy tinh thần đức tin mà  đón nhận giáo huấn của Huấn quyền. Dù sao thì cũng  có thể xảy ra là đôi lúc, tự trong đáy lòng,  nhà thần học cảm thấy không đồng ý với điểm này  hay điểm nọ trong giáo huấn của Huấn quyền. Điều đó xảy  ra hoặc là vì nhà thần học có quan điểm không đúng,  hoặc có thể là vì "trong phạm vi can thiệp có tính  cách cẩn trọng dự phòng, các văn kiện của Huấn quyền  cũng không tránh khỏi cho hết được những thiếu  sót." [11] Vậy, Đức Thánh  Cha không có ý cấm chỉ nhà thần học không được nói lên  quan điểm bất đồng của mình, mà chỉ muốn chận đứng  tình trạng cứ đua nhau lao mình vào trong "những vụ  cố tình phản kháng và những cuộc luận chiến"  ầm ĩ, và còn tệ hơn nữa là để làm như  thế, thì đã dùng tới sức mạnh của các phương tiện  thông tin đại chúng. Quan niệm việc tranh luận trong Giáo Hội  đơn thuần theo mô mẫu duy nhất của các cuộc tranh luận  dân chủ, là không đúng. Bộ Giáo lý Đức tin đã  từng lưu ý rằng: "nếu không phải là do thái  độ thù nghịch hay chống đối mà có, thì [những vụ  căng thẳng xảy ra giữa nhà thần học và Huấn  quyền] có thể trở thành một kích tố hay một đà  năng động có sức đôn thúc Huấn quyền cũng như các nhà  thần học thi hành chức năng riêng của mình bằng cách  thực thi đối thoại. [Vì vậy,] cần phải áp quy tắc hai  chiều như sau: những khi có vấn đề liên can đến mối hiệp  thông đức tin, thì phải hành động theo nguyên tắc unitas  veritatis (hiệp nhất trong chân lý); còn những khi  có những bất đồng về quan điểm mà không liên can  đến mối thông hiệp ấy, thì phải bảo toàn cho được unitas caritatis (hiệp nhất trong đức ái)." [12]

 

Sau cùng, chương ba của thông điệp kết thúc bằng một  lời kêu gọi gửi về các giám mục, yêu cầu các ngài  cùng với Đức Thánh Cha, thi hành trách vụ giám sát  của mình nhằm bảo toàn cho hoàn hảo phẩm  chất tinh tuyền của giáo lý (các số 114-117). Đặc biệt,  các vị phải lo ân cần lưu tâm để sẵn sàng khẳng định  rõ lại "các tính chất phổ quát và bất biến (bất  di dịch) của các giới luật luân lý, và cách riêng là của những giới luật cấm chỉ một cách tuyệt  đối các hành vi xấu tự nội tính" (số 115). Nếu thông  điệp chỉ được thoáng đọc một cách hời hợt, thì công thức  "các giới luật luân lý" có thể bị hiểu lệch theo  một ý nghĩa nới rộng quá đáng. Đương nhiên, không phải  là tất cả mọi giới luật luân lý đều có một mức  phổ quát và bất biến ngang nhau, xét về cách thể biểu  đạt. Đó là lý do cắt nghĩa tại sao lại có những đổi  thay xảy ra trong lãnh vực chuẩn tắc, hay trong cách  đặt định các công thức biểu đạt quy phạm, như đã từng  thấy xảy ra trong trường hợp phán định về tính chất  luân lý của việc cho vay ăn lời, chẳng hạn. Và  dĩ nhiên là có những giới luật tuyệt đối bất biến  tự trong bản chất. Trong số đó, phải kể đến các giới  luật ghi trong bản hai của Thập Giới.

 

Những hàng cuối trong chương ba nhắc lại rằng xét cho  cùng, có biết trở nên mềm dẻo trước sức tác  động của Thần Khí, thì công tác mà toàn thể dân  Chúa gia công thực hiện nhằm liên kết cho thích đáng và  cho đúng đắn, sự thật, sự thiện và tự do lại với nhau,  mới thành tựu và mới có ý nghĩa được. Vì, đúng như  thánh Phaolô nhận định: " Ở đâu có Thần Khí của  Chúa hiện diện, thì ở đó có tự do!" (2Cr 3, 17).

 

 Phần Kết: Đức Maria, Mẹ Nhân ái.

 

 Thông điệp gửi cho các giám mục kết thúc bằng một cuộc  suy niệm về Đức Trinh Nữ Maria, mang lại cho toàn bộ  bản văn một bầu khí đượm đà phong vị thiêng liêng.  Đức Maria là Mẹ nhân ái, bởi vì Đức Giêsu, Con Mẹ,  đã được Thiên Chúa Cha phái gửi đến để làm hiện  thân của Lòng Nhân Hậu Thiên Chúa, để vén mở  cho thấy Lòng Nhân Hậu ấy. Những yếu đuối sa ngã,  những lỗi lầm tội ác của con người có chồng  chất đến mấy, thì Thần Khí cũng vẫn làm cho phép  lạ con người sống trọn được sự thiện, thành hiện  thực (số 118). Đức Giêsu làm cho chúng ta được thông dự  vào trong tình yêu của Ngài, và như thế, luân  lý kitô không là gì khác ngoài cuộc tiến bước theo  gót Đức Kitô, không là gì khác ngoài thái độ tin  tưởng phó thác toàn bộ con người mình vào trong  tay Ngài. Đó là tính chất đơn khiêm theo tinh thần Phúc  âm của đời sống luân lý chân chính. Nhưng lại cần  phải lấy chính tinh thần đơn khiêm ấy mà cả dám  đương đầu với thực tế vô cùng phức tạp của cuộc  sống con người (số 119).

Đức Maria cũng còn là Mẹ nhân ái bởi một  lý do khác nữa, đó là vì chính Đức Giêsu đã phó  thác Giáo Hội của Ngài và toàn thể nhân loại  vào trong tay Mẹ. Mà, là "Ngai tòa của  Khôn Ngoan," và là Đấng hằng mở rộng lòng  đón tràn ơn thánh, thì, hơn ai hết, Đức Maria thấu hiểu  thân tường tận phận tội lỗi của con người.  Chính vì thế, dù đứng hoàn toàn về phía chân lý,  Mẹ vẫn hằng chung sức để cùng với Giáo Hội, xốc  vác gánh nặng trách vụ Chúa đã trao cho, là chăm  lo nhắc nhở trong mọi lúc và cho mọi người, các  yêu cầu của luân lý (số 120).


Xavier Thévenot [1]

 [Nguyễn Thế Minh trình dịch, HTTH SỐ 9, NĂM THỨ TƯ (1994)


 

-------------------------------------------

[1] Xavier Thévenot là linh mục tu  sĩ Dòng Don Bosco, người Pháp, hiện làm giáo sư  môn Thần học Luân lý tại Institut Catholique de Paris. Linh  mục đã viết nhiều sách về môn ngài dạy, và các  sách của ngài rất được hâm mộ. Bài viết nguyên  ngữ tiếng Pháp này là thiên giới thiệu thông  điệp Ánh Quang Chân Lý của Đức Gioan Phaolô  II gửi các Giám Mục của Giáo Hội Công Giáo , bàn  về một số vấn đề cơ bản trong giáo huấn luân lý của  Giáo Hội , đề ngày mùng 6 tháng 8, năm 1993, và  công bố hôm mùng 4 tháng 10, năm 1993: thiên giới thiệu  này mỞ đầu cuốn in văn bản tiếng Pháp của  thông điệp, do nhà xuất bản Cerf-Paris thực hiện (tt.  VII-XLV).

[2] Cuộc  tranh luận càng sôi động thêm lên với các đợt xuất bản  tác phẩm của những tác giả chủ trương dành  quyền tự trị cho đạo đức học, như: Auer, Schuller, J. Fuchs,  Mieth, Boeckle...

[3] Bằng tiếng Pháp,  có thể đọc thấy một thư mục quốc tế, một phần trình bày  về trào lưu thần học ấy, cũng như một thiên nhận  định phê bình dựa theo quan điểm Tân học thuyết Tôma, trong  Servais Pinckaers, Ce qu'on ne peut jamais faire , Éd.  Universitaires de Fribourg-Éd. du Cerf, 1986.

[4] Từ ngữ "điều xấu tiền luân lý hay hữu  thể (bản thể/ ontique )”chỉ về tình trạng thiếu vắng  một điều lợi ích đáng lẽ phải có, vì nó đi liền với  bản tính con người (ví dụ như tình trạng mù lòa,  chẳng hạn); còn "điều ác/dữ luân lý" thì chỉ  về một sự chọn lựa có suy tính đắn đo để tạo ra một điều  xấu bản thể có thể tránh được (ví dụ: khoét thủng  mắt của một tù nhân).

[5] J. Maritain, La Loi naturelle ou Loi non écrite, Éd. universitaires de Fribourg, 1986, tr. 143-144

[6] Ibid.

[7]  Xin  xem A. Léonard, Le Fondement de la morale , Éd. Cerf,  1991, tt. 295-300.

[8] Epieikoia là một từ Hy lạp, chỉ về những gì nói lên ý niệm  chừng mực, cân bằng, công minh chính trực. "Aristốt  đã sử dụng từ ấy để chỉ về tinh thần khoảng  khoát, có đủ sáng suốt mà hiểu rằng lòng vâng  phục là một hành vi nhân tính thuộc trách nhiệm của  những con người có lý tính, cũng như khôn ngoan  để biết coi trọng ý nghĩa và tinh thần hơn là văn  tự và hình thức của lề luật, biết coi trọng những  gì là công minh chính trực hơn là tính cách thuần túy  hợp pháp" (Dictionnaire de théologie catholique , đoạn  viết từ "Épikie”). Epieikoia không phải  là một trường hợp miễn trừ luật pháp, nhưng  là "một trường hợp hạn chế luật pháp đối với  một hoàn cảnh cá biệt, vì riêng trong hoàn cảnh  ấy, không thể áp dụng toàn bộ nội dung của luật  chung được" (ibid.). Theo đại đa số các nhà luân lý  học, thì lệ đình luật chỉ được áp dụng cho các lề luật  do loài người thiết lập mà thôi. Tuy nhiên, thánh  Anphongsô thì nhận định rằng "lệ đình luật cũng [được  áp dụng] cho cả các giới luật tự nhiên nữa, những  khi hoàn cảnh cho thấy là không phải vì ác  ý mà hành động" (Theologia moralis , cuốn I,  phần II, chương IV, số 201). Thánh nhân đưa ra thí dụ như sau:  từ chối không chịu trả lại cho chủ nhân một vũ  khí đã được gửi giữ giùm, nếu biết được ý  chủ nhân là muốn dùng nó để làm chuyện sai  trái. Ngoài ra, còn cần phải tìm xem thánh Anphongsô  Liguori có hiểu về đối tượng của hành vi luân lý  giống như cách hiểu của thánh Tôma hay không. 

[9] Xin xem Dictionnaire de  théologie catholique , đoạn viết về từ "Épikie".

[10] Thí dụ: một hành  vi lệch lạc xét theo phương diện khách quan, không phải  là một tội "theo nghĩa đen” (”formel”), khi đó  chỉ là một hành vi phát sinh từ một thói xấu mà  người ta đã thực sự cố gắng từ bỏ, nhưng vẫn  chưa thành công.

[11] Bộ Giáo lý Đức tin, Ơn gọi trong Giáo  Hội của nhà thần học (Vocation ecclésiale du théologien),  Doc. Cath. số 2010; Éd. du Cerf, 1990, tr. 33.

[12] Ibid.

Lên đầu trang