Gioan Phaolô II, một con người vĩ đại?

10/23/2021 9:38:14 AM
“Lolek (một cách gọi khác của Karol) của tôi sẽ trở thành một người vĩ đại”: Đó là câu nói của “bà cố” Emilia Kaczorowka, mẹ của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô, dù bà đã mất sớm và không thấy được lời tiên tri ấy đã trở thành hiện thực ở cõi tạm này.

PopeJohnPaul2.jpg

Quả thật, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (1920-2005) đã trở nên một con người vĩ đại ở nhiều phương diện, được cả đạo và đời công nhận. Điều đó thể hiện rõ ràng đến mức ngay trong thánh lễ an táng của ngài, người ta đã giơ cao những khẩu hiệu “Sancto Subito” (hãy tuyên thánh ngay lập tức) và có những đề xuất gọi vị Giáo Hoàng này với danh hiệu là Cả (Magnus), nghĩa là “vĩ đại”, một danh hiệu chỉ dành cho một số ít vị thánh trong lịch sử Giáo Hội[1]. Cho đến nay, Tòa Thánh chưa xác nhận danh hiệu này, nhưng người ta đã thấy lòng đạo đức của nhiều người đã dành tặng danh hiệu đó cho Đức Gioan Phaolô II, điều đã xảy ra tương tự đối với các vị thánh được gọi là Cả trong lịch sử Giáo Hội. Sẽ còn để thời gian kiểm chứng lòng đạo đức này, và để cho hậu thế thấy được sự cao cả trong con người của vị thánh Giáo Hoàng này. Tuy nhiên, lướt nhìn cuộc đời của ngài, chúng ta thấy ngài thật sự là một con người vĩ đại. Mỗi một người nổi tiếng và vĩ đại thường có những tố chất riêng, và Gioan Phaolô II cũng không ngoại lệ. Có những khí chất nơi ngài làm cho ngài trở nên một người vĩ đại.

1. Một người tài hoa và trí thức:

Karol Józef Wojtyła, một người Ba Lan lớn lên giữa thời Đệ Nhị Thế Chiến với muôn vàn gian khổ đã là một người thật sự tài hoa và trí thức. Chàng sinh viên này có năng khiếu về văn chương, kịch nghệ, khiêu vũ thật cừ khôi và giao du nhiều với các nhà trí thức đương thời. Cậu cũng đam mê các môn thể thao. Ngoài ra, cậu thanh niên này viết các vở kịch đề cao lòng yêu mến dân tộc và còn là một diễn viên thật xuất sắc. Nhưng rồi nghe được tiếng Chúa gọi, Karol đã theo dấn thân bước theo ơn gọi linh mục trước sự nuối tiếc của bạn bè và đồng nghiệp. Chịu chức linh mục ở tuổi 26 sau 4 năm tu học “chui” với dáng vẻ một người lao động và sinh viên bình thường, sau đó ngài được gửi qua Roma du học và chỉ hai năm sau, lấy bằng tiến sĩ thần học với luận án về đề tài “Đức tin trong các tác phẩm của Thánh Gioan Thánh Giá”, và từ năm 1949-1953, ngài đã hoàn thành luận án "Thẩm định khả thể xây dựng nền luân lý Công giáo trên hệ thống luân lý của Max Scheler". Ở tuổi 33, Ngài là giáo sư thần học luân lý tại Đại Chủng Viện Krakow. Ngài được Đức Piô XII bổ nhiệm làm Giám Mục năm 1958 lúc mới 38 tuổi. Khi Công Đồng Vatican II diễn ra, ngài về Roma dự Công Đồng và đã đọc 7 bài diễn từ trước các nghị phụ và 13 tuyên ngôn tại Công Đồng Chung này. Ngài cũng góp công trong việc soạn thảo 2 văn kiện lớn có tính lịch sử và quan trọng của Công Đồng Vatican II là Tuyên ngôn về tự do tôn giáo (Dignitatis Humanae) và Hiến chế Mục Vụ Giáo hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes, Vui mừng và Hy vọng). Ngoài ra, “thần học thân xác” do ngài khởi xướng đã góp phần phát triển nền thần học luân lý Kitô giáo trong thế kỉ XX. Nói được hơn 10 ngôn ngữ, với triều giáo hoàng dài 26 năm (dài thứ hai trong lịch sử các Giáo Hoàng), di sản của Đức Gioan Phaolô II thật lớn lao với cả một núi những Tông Huấn, Văn Kiện, Tông Thư, Thông Điệp... Karol Józef Wojtyła thực sự là một người tài hoa và trí thức, điều này thôi cũng đã cho chúng ta thoáng thấy tầm vóc vĩ đại của con người này.

2. Một người kiên cường bất khuất:

Rất dễ hiểu khi tính cách kiên cường bất khuất là một đặc tính làm nên con người vĩ đại của ngài. Sinh ra và lớn lên giữa những đau thương của chiến tranh và sau đó là trong một đất nước Cộng Sản, ngài hiểu được tất cả những nỗi thống khổ, lầm than và cực nhọc. Những năm tháng lao động tại mỏ đá như một người lao động bình thường không hơn, những hoàn cảnh tế nhị ngài phải đối diện sau này với tư cách một vị mục tử, cũng như những khó khăn trong sứ vụ Giáo Hoàng của ngài đã rèn luyện nên một Gioan Phaolô II kiên cường và bất khuất. Chẳng nghi ngờ gì nữa, ngài là một trong những nhân tố gây nên việc sụp đổ chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu đầu thập niên 90 của thế kỉ XX. Là một trong những người có ảnh hưởng nhất trong thế kỉ XX và cả những năm đầu thế kỉ XXI, ngài kiên cường bất khuất bảo vệ đạo lý và truyền thống của Giáo Hội, nhưng vẫn sẵn sàng cởi mở trong mọi tương quan của tập thể và cá nhân, cả với những người nghèo nàn và yếu đuối nhất. Người ta có thể trách ngài “tham quyền cố vị” khi không chịu từ chức vì bệnh tật, nhưng chính những người thân cận ngài hiểu hơn ai hết hình ảnh của một tôi tớ trung thành bám sát Thầy Chí Thánh đang chịu treo trên thập giá, nhất là qua những bức ảnh chụp cho thấy ngài mệt nhọc nhưng vẫn bám chặt vào cây gậy mục tử gắn tượng chịu nạn trong suốt những năm cuối đời bị bệnh tật hành hạ. Dĩ nhiên, việc từ nhiệm cũng chẳng có gì là xấu và còn tốt nữa như đã thấy đối với vị kế nhiệm ngài là Đức Biển Đức XVI, nhưng trong hoàn cảnh của Đức Gioan Phaolô II, chỉ có ngài hiểu được và có đầy đủ sự tự do để quyết định tại vị với đầy sự can đảm không lùi bước trước bao khó khăn như thế. Ngài cũng đại diện cho cả Giáo Hội nhận lỗi và xin lỗi công khai về những tội lỗi của Giáo Hội Công Giáo vào dịp năm thánh 2000, đó một hành vi dũng cảm và cần thiết. Và một vị Giáo Hoàng từ trẻ trung năng động (lúc mới lên ngôi Giáo Hoàng ngài mới 58 tuổi) cho tới khi là một cụ già gần đất xa trời vẫn là một niềm hứng khởi cho những ai gặp gỡ ngài, đặc biệt là cho biết bao nhiêu người trẻ, con người ấy hẳn phải là một con người có sức kiên cường bất khuất. Trong thánh lễ khởi đầu sứ vụ Phêrô của mình, Ngài đã có những lời lẽ xác tín đanh thép trong bài giảng lễ: Đừng sợ! Trái lại, hãy mở toang cửa cho Đức Ki-tô. Hãy mở biên cương các nước, mở các hệ thống kinh tế cũng như hệ thống chính trị, mở các lĩnh vực văn hoá, văn minh và phát triển là những lĩnh vực rộng lớn, mở hết ra mà đón lấy quyền năng cứu độ của Người. Đừng sợ! Đức Ki-tô biết “điều gì ở trong con người”. Chỉ mình Người biết mà thôi.” Con người kiên cường bất khuất ấy là một con người vĩ đại.

3. Một người vĩ đại trong đời sống thiêng liêng:

Người ta làm chứng rằng khi còn là một thanh niên, ngài đã thường xuyên cầu nguyện với tư thế phủ phục, tay giang ra hình thánh giá. Ngài đã nhiều lần đến gõ cửa dòng Kín Carmel, nhưng ý Chúa quan phòng, qua các Đấng Bản Quyền của ngài đã không muốn như vậy. Khi nhận lời làm Giám Mục Phụ Tá giáo phận Krakow vào năm 1958, ngài đã ghé vào nhà nguyện Dòng Ursuline, sấp mình cầu nguyện liên tục trước Thánh Thể 8 tiếng đồng hồ[2]. Khao khát một đời sống nội tâm như thế, Đức Gioan Phaolô II ngay cả khi đã là Giáo Hoàng vẫn thực sự là một mẫu gương vĩ đại trong đời sống thiêng liêng. Ngài yêu mến việc chầu Thánh Thể, cầu nguyện sốt sắng lâu giờ (trung bình 7 tiếng 1 ngày[3]), yêu mến Đức Mẹ (Khẩu hiệu Giáo Hoàng của ngài là Totus Tuus, nghĩa là “tất cả cho Mẹ”) và lần chuỗi mỗi ngày. Ngài đã thấy bí mật Fatima thứ ba được ứng nghiệm trong triều đại của ngài, và sùng kính Mẹ Fatima cách đặc biệt[4]. Cái nhìn sâu xa về tâm linh của ngài đã cho ngài nhận ra vị “giám mục áo trắng” đó chính là mình. Ngài yêu mến các thánh và là người đã tuyên phong nhiều vị thánh nhất so với các vị giáo hoàng tiền nhiệm. Việc tôn kính các thánh cho thấy ngài là một người yêu mến đời sống đạo đức thiêng liêng như thế nào, và qua việc tuyên dương vô vàn các mẫu gương thánh thiện như thế, ngài muốn cổ võ một đời sống thánh thiện trong Giáo Hội. Có một cuốn sách ngài viết nói về ơn gọi và đời sống thiêng liêng của riêng ngài được dịch sang tiếng Việt mà người viết rất tâm đắc, đó là cuốn “Ơn gọi của tôi, ơn ban và nhiệm mầu”. Theo ông Arturo Mari, nhiếp ảnh gia của sáu đời Giáo Hoàng gần đây, tấm hình đẹp nhất của Đức Gioan Phaolô II là tấm hình Ngày thứ sáu Tuần Thánh năm 2005 (Ngày thứ sáu Tuần Thánh cuối cùng của ngài), khi ngài ngồi cầm cây thánh giá trong nhà nguyện riêng. Ông nói: “Tôi chụp được cử chỉ mà tôi là người duy nhất thấy: ngài tựa đầu trên thánh giá, hôn Chúa Kitô, sau đó ngài để thánh giá vào quả tim và cầu nguyện trong thinh lặng. Bức hình này được phát khắp thế giới. Tôi nghĩ riêng bức hình này là đã tóm tắt hết cả ý nghĩa triều giáo hoàng của ngài”[5]Con người ấy là một người vĩ đại trong đời sống thiêng liêng.

4. Một người mục tử trên ngai Phêrô:

Có nhiều góc nhìn người ta có thể khám phá về Đức Gioan Phaolô, như đã nói ở trên. Nhưng dù sao đi nữa, trước nhất ngài vẫn được Giáo Hội tưởng nhớ là một Giáo Hoàng, và là một Giáo Hoàng thánh thiện. Là người kế vị thứ 264 của Thánh Phêrô, ngài là một vị mục tử của Giáo Hội hoàn vũ cai quản Giáo Hội Công Giáo. Ngài đã thi hành sứ vụ này một cách tuyệt vời, như một tôi tớ trung tín và khôn ngoan. Ngài tông du tới 129 quốc gia, với 247 chuyến tông du. Đức Gioan Phaolô II đã đi 1.167.295 km (hay 700.380 dặm), trên 28 lần chu vi của Trái Đất (hay 3 lần khoảng cách giữa Trái Đất và Mặt Trăng), nhiều hơn tất cả những Giáo hoàng trước cộng lại. Những chuyến đi này là dấu hiệu của nỗ lực bắc cầu nối lại những quốc gia và tôn giáo trong triều giáo hoàng của ngài. Ngài gặp gỡ biết bao con người giàu cũng như nghèo, sang cũng như hèn, tư bản cũng như cộng sản, người trí thức lẫn người bình dân, người thiện cảm hay ác cảm… Ngài chăm sóc cho mọi thành phần trong Giáo Hội. Người ta còn liệt kê những kỉ lục mà ngài nắm giữ trong suốt triều giáo hoàng dài ¼ thế kỉ của mình, nhưng cách chung, ngài là một người mục tử vĩ đại đã sống tinh thần phục vụ như Chúa dạy. Nếu Đức Gioan XXIII khai mở Công Đồng, Đức Phaolô VI bế mạc công đồng và khởi sự áp dụng công đồng, thì Đức Gioan Phaolô I và đặc biệt cách riêng Đức Gioan Phaolô II đã đưa những xác tín và chủ trương của Công Đồng Vatican II vào thực tế đời sống của Giáo Hội. Cho dù có nhiều người chỉ trích ngài về nhiều vấn đề, chẳng hạn cách chung người ta cho ngài là tập quyền, bảo thủ và cứng nhắc về những vấn đề luân lý chẳng hạn. Dầu vậy, chúng ta luôn cần phải đứng ở nhiều góc nhìn để nhận xét cho khách quan và công tâm. Không chỉ trong đạo mà đa số các vị lãnh đạo ngoài đời cũng tỏ lòng ngưỡng mộ ngài. Đứng ở vai trò của vị mục tử của Giáo Hội hoàn vũ chưa từng là một vị trí dễ dàng, điều đó cũng xảy ra thường tự với Đức Biển Đức XVI và Đức Phanxicô hiện nay đó thôi. Dầu có thể vẫn là con người với những thiếu sót và khuyết điểm nhất định, những gì Đức Gioan Phaolô II đã sống, giảng dạy và thi hành là một mẫu gương thánh thiện cho cả Giáo Hội lẫn nhiều người thành tâm thiện chí. Người ta vẫn thường hay nói vui rằng: “Người ta đến Roma để NHÌN Đức Gioan Phaolô II và để NGHE Đức Biển Đức XVI, và để LÀM cùng với Đức Phanxicô”. Tạ ơn Chúa đã ban cho Giáo Hội các vị Giáo Hoàng, mỗi vị mỗi nét mỗi vẻ, nhưng đều là những người mục tử trung thành với Chúa và Giáo Hội. Đức Gioan Phaolô II thật sự là một Giáo Hoàng vĩ đại.

Như vậy, Đức Gioan Phaolô II có được gọi là Cả hay không, đó là chuyện của Tòa Thánh, nhưng qua chứng từ đời sống thánh thiện của ngài, chúng ta thấy ngài quả thật là một con người có tố chất vĩ đại. Không chỉ là một người tài giỏi về nghệ thuật và trí thức, ngài còn là một con người có tính kiên cường bất khuất. Nhưng sâu xa hơn, ngài còn là một bậc thầy về đời sống thiêng liêng, và sau cùng, hình ảnh của ngài được biết đến rõ nhất là một vị Giáo Hoàng vĩ đại. Gioan Phaolô II có thể là một người có tố chất vĩ đại, nhưng sự vĩ đại đó trước nhất đến từ sự thánh thiện của tâm hồn ngài. Và nếu nói như thế, thì chúng ta dù không có tố chất để trở thành những người nổi tiếng hay vĩ đại như ngài, chúng ta vẫn có thể trở nên vĩ đại, nhờ sự thánh thiện từ tâm hồn mình. Sự vĩ đại ấy chính Thiên Chúa nhìn thấy và làm chứng, và điều đó làm đẹp lòng Người.

Lễ thánh Gioan Phaolô II

22/10/2021

Con chiên nhỏ



[1] Chúng ta có một số vị thánh Giáo Hoàng mang danh hiệu là cả như như Lêô Cả (Leo I) và Grêgôriô Cả (Gregory I), ngoài ra có một số vị là giám mục như Điônysiô (Dionysius) Cả, Basiliô (Basil) Cả, Alberto (Albert) Cả, Nersết (Nerses) Cả, Isaac Cả... Một số vị khác là ẩn sĩ và vị tuyên giáo như Antôn (Anthony) Cả người Ai Cập, Arsêniô (Arsenius) Cả, Marcariô (Marcarius) Cả. Một số vị khác là đan sĩ hay viện phụ như Hugô (Hugh) Cả, hay là các vị vua như Anphrét (Alfred) Cả vua nước Anh, Stêphanô (Stephen) Cả vua Hungary, Thêôđôricô (Theodoric) Cả, Vlađimia (Vladimir Cả), cả Hoàng Đế Constantine, người đã tha bỏ bách hại Kitô giáo và là con của thánh Hoàng Hậu Helena cũng được gọi là Cả và được tôn kính như một vị thánh ở Giáo Hội Đông Phương. Còn có một số vị thánh nữ cũng được gọi là Cả như Ghêtruđê (Gertrude). Từ Cả có nghĩa là vĩ đại.

[2] BERNSTEIN & MARCO POLITI, "Pope John Paul II -The Biography" và "His Holiness – John Paul II, and the Hidden History of our Time"

[3] THANH VÂN, Đời sống tâm linh của Đức Gioan Phaolô II, đăng ngày 21/10/2016, truy cập ngày 22/10/2021, tgpsaigon.net

[4] VŨ VĂN AN, Fatima, Đức Gioan Phaolô II và bí mật thứ ba, đăng ngày 17/05/2016, truy cập ngày 22/10/2021, giaophandanang.org

[5] FABIO MARCHESE RAGONA, Đức Gioan-Phaolô II qua lời kể của nhiếp ảnh gia riêng của ngài, Marta An Nguyễn dịch, đăng ngày 16/10/2018, truy cập ngày 22/10/2021, phanxico.vn

Lên đầu trang