ĐÓN NHẬN CHÂN LÝ BẤT CỨ TỪ PHÍA NÀO TỚI

2/6/2013 7:22:03 AM
THỨ TƯ SAU CHÚA NHẬT 4 THƯỜNG NIÊN - NĂM LẺ

Mk6_1-6.jpg 

Lời Chúa: Mc 6, 1-6

1 Đức Giê-su ra khỏi đó và đến nơi quê quán của Người, có các môn đệ đi theo.2 Đến ngày sa-bát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên. Họ nói: “Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì?3 Ông ta không phải là bác thợ, con bà Ma-ri-a, và anh em của các ông Gia-cô-bê, Giô-xết, Giu-đa và Si-môn sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao? ” Và họ vấp ngã vì Người.4 Đức Giê-su bảo họ: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.”5 Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó; Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ.6 Người lấy làm lạ vì họ không tin. 
 
  
 
   
   
  


-----

 

Ai biết đón nhận Chân Lý từ Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô là Thầy, để hoán cải đời sống nên chứng nhân cho Chúa. Đó là điều Đức Giê-su muốn.

Thực vậy, trong Tin Mừng Mc 6,1-5 ghi nhận : Đức Giêsu  về quê Nadareth giảng, dân không muốn nghe. Vậy mà Ngài vẫn thương dân : chữa lành đủ thứ bệnh tật, trừ quỷ xuất khỏi nhiều người, nhưng người đồng hương lại muốn xô Ngài xuống vực thẳm cho chết sớm ! (x Lc 4,28-29) Vì thế mà tác giả Tin Mừng Marcô xác nhận : “Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó; Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ!” (Mc 6, 5)

Thế thì dù Đức Giêsu  có chữa lành các bệnh nhân, Ngài vẫn chưa coi đó là phép lạ. Vì dân không đạt hai mục đích việc Đức Giêsu chữa lành bệnh cho họ:

a-  Mục đích thứ nhất : Để cho dân nhận ra Ngài là Đấng Cứu Độ mà tôn thờ, đúng như lời ngôn sứ Is 53,4 đã báo trước : “Đấng Cứu Độ mang lấy bệnh tật của chúng ta”. Mà ai nhận biết Đức Giêsu  là Đấng Cứu Độ (người Do-Thái gọi là Đấng Mêsia), Đấng được Chúa Cha sai vào trần gian, thì người đó được sống đời đời, như lời Đức Giêsu  nói : “Sự sống đời đời nhận biết Chúa Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và Đấng Cha sai đến, là Đức Giêsu Kitô !” (Ga 17,3) Thánh Gioan nói : “Ai đã tin Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, thì họ thắng được thế gian” (1Ga 5,5).


Ai được Đức Giêsu ban ơn cho thân xác thì phải tiến tới tôn thờ một Thiên Chúa nhờ, với, trong Đức Giêsu mà thôi (x Rm 11,36). Cụ thể có 10 người cùi đều được Đức Giê-su chữa lành, nhưng chỉ có một người Samari bị mang tiếng là dân ngoại, anh không đến Đền Thờ nào để dâng lễ theo Luật, nhưng khi được khỏi cùi, anh quay lại sụp lạy trước mặt Đức Giêsu để tạ ơn Ngài (x Lc 17,11-19). Sở dĩ anh không đến Đền Thờ nào để dâng lễ, vì hết mọi thể thức tế tự đều vô giá trị, trừ những ai tôn thờ Thiên Chúa trong Thần Khí và Sự Thật mới được Cha trên trời chiếu nhận (x Ga 4,23). Thần Khí là Lời Chúa (x Ga 6,63) ; Sự Thật là Chúa Giêsu (x Ga 14,6). Đây là hai bàn tiệc trong Hy Tế Chúa Giêsu thiết lập, rồi truyền cho Hội Thánh cử hành cho tới ngày cánh chung, hòng thâu họp muôn dân về cho Chúa.

b-  Mục đích thứ hai : Để họ hoán cải đời sống nên chứng nhân cho Chúa. Đặc biệt nhất là gương hoán cải của ông Phaolô, nhờ được nghe tiếng Đức Giêsu hỏi tội ông đang lúc ông hằm hằm thở ra mùi sát khí, đi lùng giết các tín hữu tin vào Đức Giêsu Phục Sinh, thì bị luồng ánh sáng chiếu vào, làm ông ngã vật xuống đất ! Đức Giêsu trách : “Saolô, Saolô, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Ông thưa : “Ngài là ai?” Tiếng rằng : “Ta là Giêsu, ngươi đang bắt bớ. Hãy trỗi dậy mà vào thành, sẽ nói cho ngươi biết phải làm gì”. Lúc ấy mặc dù mắt ông vẫn mở, nhưng ông không trông thấy gì ! Ông nhận ra tội mình, biết sám hối bằng việc ngoan ngoãn đi học giáo lý nơi môn đệ của Đức Giêsu, những người bị mang tiếng là vô học thức (x  Cv 4,13). Ông được lãnh Bí tích Thánh Tẩy, Chúa đã chữa lành mắt ông khỏi mù, và từ đó ông trở nên chứng nhân xuất sắc cho Chúa Giêsu Phục Sinh (x 2Cr 11,5), nhất là nơi dân ngoại ! (x Gl 1,16) Đó mới thực là phép lạ Chúa muốn làm cho hết mọi người đang lao mình vào con đường lầm lạc về đức tin.


Ai không đạt hai mục đích trên, thì dù cho họ tin vào Đức Giêsu, vì đã chứng kiến những việc lạ lùng Ngài làm, thì Đức Giêsu vẫn không tín nhiệm họ
! (x Ga 2,23-24).

Ngày nay, có phong trào đặt tay xin ơn Chúa Thánh Thần nói tiếng lạ, chữa lành bệnh, nhiều người cho đó là đặc sủng Thiên Chúa ban. Nhưng ta hãy coi chừng ! Đành rằng chính Đức Giêsu đã chữa lành nhiều bệnh nhân, và Ngài còn ban quyền cho các môn đệ, cũng làm được như Ngài (x Mt 10,1; Mc 16,17-18). Vậy việc chữa lành bệnh bản chất nó là tốt, nhưng Chúa dùng nó để làm dấu chỉ ơn cứu linh hồn người ta thoát tội, thóat Satan, thoát tử thần, để những ai được Ngài chữa lành về thân xác, họ phải thăng tiến về đời sống đức tin, cụ thể nhất họ phải ham mê nghe Lời Chúa và năng dự tiệc Thánh Thể, hầu đời sống được hoán cải, trở nên thánh thiện hơn, đó là mục đích Chúa làm phép lạ  chữa lành bệnh thân xác người ta.

Chúng ta lại biết Chúa đã ấn định về số phận con người ai ai cũng phải trải qua : “Sinh, bệnh, lão, tử”, đó là quy luật tất yếu, xem ra Chúa cho ta có mặt trên đời là để chịu khổ ! Nhưng đó là ý định của Thiên Chúa muốn con người từ bất toàn khi chưa được tháp vào Chúa Giêsu qua Lời và các Bí tích, một khi đã được ở trong Chúa Giêsu, dần dần Ngài làm cho họ được trở nên hoàn hảo, tiệm tiến theo thời gian, lộ dần con người giống Thiên Chúa, nên trọn lành như Cha trên trời (x Mt 5,48) : Khi sống trên dương thế Chúa cho khả năng hiểu và làm theo Lời Ngài dạy, lúc chết hồn được lên Thiên đàng ; ngày cánh chung Chúa mới cho hồn xác sống lại tuyệt vời giống Chúa Giêsu  (x 1Ga 3,2). Vậy nếu ta cứ nghĩ ngày nào Chúa cho ta hết khổ thì Ngài mới thương ta, còn khổ là Chúa ghét ta, như thế ta đã đi vào vết chân sai lầm của Phêrô khi ông được Thầy cho biết : “Thầy sẽ bị giết do hàng niên trưởng, các thượng tế và ký lục, ngày thứ ba thì sống lại”. Nghe thế, ông Phêrô kéo Ngài lại với mình lên tiếng trách : “Thiên Chúa thương, chứ sẽ có đâu như thế !” Tức khắc, ông bị Thầy Giêsu xua đuổi : “Xéo đi sau Ta ! Hỡi Satan, ngươi làm cớ vấp phạm cho Ta, và ý tưởng của ngươi không phải của Thiên Chúa mà là của loài người”  (Mt 16, 21-23).

Thánh Tôma Tiến sĩ nói : “Mỗi vấn đề phải được giải quyết trong lãnh vực của nó”. Lãnh vực bệnh tật phải giải quyết nhờ thầy thuốc, nhờ dùng thuốc. Làm cách này mà bệnh không thuyên giảm, thì mới xin lãnh Bí tích Xức Dầu, là Bí tích có ơn đặc thù làm cho thân xác ta khỏe mạnh lại, nếu đó là đẹp lòng Chúa. Chứ đừng khi nào đau ốm mà chỉ cầu nguyện rồi phó thác cho Chúa, bắt Chúa phải chữa lành bệnh. Nếu không được như ý xin là “nghỉ chơi Chúa luôn” !


Sở dĩ người đồng hương Đức Giêsu không tin Ngài là Thiên Chúa để đón nhận Lời Ngài mà hoán cải cuộc sống, vì họ chỉ biết Đức Giêsu là “
người thợ mộc con bà Maria và là anh em của các ông Giacôbê, Giôxết, Giuđa và Simon, chị em của ông chỉ là những người lối xóm với chúng ta” (Mc 6,3-4 : Tin Mừng).

Chúng ta biết rằng mọi Chân Lý chỉ phát xuất từ Cha trên trời qua Thầy dạy duy nhất là Đức Giêsu, cho nên ai tin nhận Lời Đức Giêsu là đón nhận được chân lý, đón nhận chính Thiên Chúa, dù chân lý ấy xuất ra từ cửa miệng một người bất xứng (x Mt 23,1-12).

Nói cách khác, phải đón nhận Chân Lý bất cứ từ phía nào tới : phía đó có thể là con nít, là người thất học, là kẻ thù ta, nếu họ nói Chân Lý phát xuất từ Thiên Chúa, mà giáo lý Hội Thánh Công Giáo đã công bố, thì ta phải đón nhận. Ai khước từ Chân Lý ấy, là loại trừ Thiên Chúa.

Tâm lý người đời ai cũng cho là chân lý phát xuất từ những người :

- Có chức quyền cao : Vua, tổng thống, chủ tịch, Giáo hoàng, Giám mục …

- Người giàu : triệu phú, Giám đốc một xí nghiệp hay một cơ quan lớn …

- Đã từng theo học nhiều trường nổi tiếng trên thế giới.

- Có bằng cấp cao : Tiến sĩ, Thạc sĩ…


Thế thì Đức Giêsu, dưới cái nhìn của người đồng hương Ngài không có quyền chức nào trong xã hội cũng như trong tôn giáo. Nếu Đức Giêsu là Hoàng đế, hay ít ra là một vị trong hàng đầu mục Do Thái, thì chắc chắn họ sẽ hăm hở đón nhận Lời Ngài (x Ga 7,47-48), nhưng người ta chỉ thấy Ngài là bác thợ mộc (x Mc 6,3 : Tin Mừng) làm trong xưởng mộc tại gia, là con bác thợ mộc Giuse (x Lc 4,22), do đó họ khinh dể Lời Ngài giảng dạy, đúng với nhận định của Ngài : “
Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi” (Mc 6.4 : Tin Mừng).

Nếu Đức Giêsu có du học ở nhiều trường nổi tiếng trên thế giới, thì ai cũng nể nang Ngài, nhưng người Do-thái chỉ xếp Ngài vào lũ dân quèn không biết gì về Lề Luật (x Ga 7,49).

Nếu Đức Giêsu có nhiều bằng cấp cao, thì Ngài nói ai chẳng muốn nghe, nhưng người ta chỉ thấy Ngài là người miền quê Nadareth, một địa danh không ai quan tâm, vì Nadareth chẳng có một vĩ nhân nào cho người ta phải ngưỡng mộ ! (x Ga 1,46)

Tâm lý của người đời như thế, nên mỗi khi Hội Thánh chọn một vị làm Giám mục, vẫn phải chọn người đi “du học Tây”, biết nhiều ngoại ngữ, có bằng cấp. Trong thực tế, không phải chỉ những ai có nhiều uy tín mà được chọn làm  Giám mục mới có khả năng chăm sóc đoàn chiên Chúa trao phó. Ta cứ thử nghĩ : nếu cha Gioan Maria Vianey không bị ai khinh dể là người học dốt, mà ngài được chọn làm Giám mục, thì chắc chắn Giám mục Gioan Maria Vianey làm bốc lên sức sống đạo của địa phận ngài đang phục vụ hơn là vị Giám mục đương nhiệm thời bấy giờ.

Vậy Chân Lý không chỉ dừng ở nơi người có lý lịch đáng kính nể, mà điều chính yếu phải là người nỗ lực làm việc, biết triệt để dùng ơn Thiên Chúa ban phục vụ mọi người trong yêu thương giống như cha Gioan Maria Vianey. Đó là lý do mà Hội Thánh lặp lại Lời Chúa Giêsu nói : “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi” (Ga 10,27 : Tung Hô Tin Mừng)

Hội Thánh nhắc đến chuyện vua Đavid trong Thánh Lễ hôm nay có ý minh chứng rằng : Ai cậy dựa vào thế lực nơi thế gian này là một trọng tội, gây tai họa khôn lường cho những người xung quanh. Thực vậy, vì vua Đavid ra lệnh kiểm tra dân số để biết lực lượng của mình hùng mạnh thế nào ! Đó là ông đã cậy dựa vào thế lực người đời, chứ không cậy vào bàn tay Thiên Chúa phù trợ. Bởi đó, tai họa đã xãy đến, nhưng Chúa vẫn thương và cho ông chọn một trong ba tai họa :

- Bảy năm đói trong vương quốc của Đavid ?

- Ba tháng phải chạy trốn kẻ thù ?

- Ba ngày bị ôn dịch ?


Lúc đó, vua Đavid mới bừng tỉnh biết rằng Thiên Chúa vẫn thương và phù hộ ông, bởi vì tai họa từ nhiều dần dần rút xuống. Đavid rất khiêm tốn và khôn ngoan nên ông thưa với Chúa : “
Con đã lâm cảnh rất ngặt nghèo. Thà chúng ta sa vào tay Thiên Chúa còn hơn, vì lòng thương của Ngài bao la, nhưng ước chi con đừng sa vào tay người phàm”. Quả thực, khi thần của Chúa giáng ôn dịch xuống Israel mới bắt đầu từ sáng và đang lan ra giết hại bảy mươi ngàn người, Thiên Chúa đã thấy đau lòng, Ngài nói với thần tru diệt : “Đủ rồi, bây giờ rút tay lại”  (2 Sm 24,2-17 : Bài đọc năm chẵn).

Bởi vì “Chúa không làm ra sự chết, Ngài không vui gì khi sinh linh bị hư mất” (Kn 1,13). Do đó khi Chúa để cho tai họa ập đến là để huấn luyện và giáo dục ta. Tác giả thư Do Thái nói : “Con ơi, đừng coi nhẹ lời Chúa sửa dạy, chớ nản lòng khi Người khiển trách. Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt. Anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy? Ngay lúc bị sửa dạy, thì chẳng ai lấy làm vui thú mà chỉ thấy buồn phiền. Nhưng sau đó, những người chịu rèn luyện như thế sẽ gặt được hoa trái là bình an và công chính.

Anh em phải gắng trở nên thánh thiện; vì không có sự thánh thiện, thì không ai sẽ được thấy Chúa. Anh em phải coi chừng, kẻo có ai lừng khừng mà mất ân sủng của Thiên Chúa, kẻo có ai trở nên rễ đắng nảy mầm, gây xáo trộn và do đó làm hư hỏng nhiều người” (Dt 12, 4-7.11-15 : Bài đọc năm lẻ). Bởi vì “ân tình Chúa thiên thu vạn đại, Chúa dành cho ai kính sợ Người” (Tv 103/102,17 : ĐC năm lẻ).

Vậy những ai mù quáng, tự mãn, tự tôn, dựa vào thế lực trần thế mà không cậy vào những ơn Đức Giê-su đã ban qua dấu chỉ những phép lạ Ngài làm cho người bệnh tật được lành mạnh (x Mc 6,5 : Tin Mừng), thì chắc chắn tai họa cũng sẽ ập đến, trừ khi họ biết sám hối như vua Đavid : “Chính con đã phạm tội, chính con có lỗi ; nhưng đàn chiên đó đã làm gì, xin tay Ngài cứ đè trên con và nhà cha con” (2 Sm 24,17 : Bài đọc năm chẵn). Có như thế họ mới cảm nghiệm được lòng Chúa xót thương, ngăn cản tai họa đến và còn ban ơn dồi dào hơn lòng mọi người mong ước, như lời kinh đọc : “Hạnh phúc thay, kẻ lỗi lầm mà được tha thứ, người có tội mà được khoan dung. Hạnh phúc thay, người Chúa không hạch tội,và lòng trí chẳng chút gian tà. Lạy Chúa, xin tha thứ tội vạ cho con” (Tv 32/31,1-2.5 : ĐC năm chẵn).

THUỘC LÒNG

Chân lý chỉ phát xuất từ Cha trên trời thể hiện qua lời giảng dạy của Thầy Giê su mà thôi ! (x Mt 23,1-12).

 

Lm. Giuse Đinh Quang Thịnh

Lên đầu trang