Đạo đức sinh học dưới góc nhìn tâm linh

9/2/2022 10:50:26 AM
Với những tiến bộ nhanh chóng của y học và sinh học kể từ thập niên sáu mươi không những khiến cho các nền đạo đức truyền thống lung lay mà còn là hiểm họa đưa đến diệt vong cho nhân loại:

 “ Trong tập Dự Báo Về Tk 21, một tác giả đã xót xa viết: Con người hiện đại đang hưởng thụ  một nền văn minh vật chất chưa từng có trong lịch sử thì đồng thời cũng đang bị dày vò bởi những nỗi thống khổ mà loài người chưa từng gặp phải. Rene’ Durant cũng đã nhận định: Loài người đang phải đối phó với hàng loạt các hiểm họa lớn lao chưa từng có vì lần đầu tiên trong lịch sử con người đang phải đặt lại vấn đề tồn vong của chính mình” ( Dionigi Tettamanzi & Guy Durant – Tân Đạo Đức Sinh Học Ki Tô )

dao-duc-sinh-hoc.jpeg

Để biết tại sao sự tiến bộ của y, sinh học đã khiến  các nền đạo đức truyền thống lung lay và do sự lung lay đó có thể đưa đến nguy cơ diệt vong cho nhân loại, chúng ta cần nhận định về quan điểm của các nhà khoa học và thần học  về  vấn đề Đạo Đức Sinh Học đã và đang được giáo hội rất mực quan tâm.

Linh mục tiến sĩ Trần Mạnh Hùng vừa cho ra mắt cuốn “ Đạo Đức Sinh Học và Những Thách Đố Hiện Nay”. Sau đây tôi xin trình bày một số đề tài có liên quan đến Đạo Đức Sinh Học dưới góc nhìn tâm linh:

I/- Nguồn gốc sự sống con người

Con người bởi đâu sinh ra là một trong ba thắc mắc lớn của triết học ( Nhân sinh hà tại ? ) mà cho đến nay vẫn chưa thể giải quyết. Riêng với giáo hội Công giáo cho rằng: “ Toàn bộ sự sống đều là tặng phẩm của Thiên Chúa. Điều này càng đúng hơn với sự sống con người ở bất cứ giai đoạn nào trong tiến trình sự sống” 

Qua khẳng định trên đây cho thấy ngoài mục đích để bảo vệ lập trường chống phá thai, giáo hội một lần nữa  còn nói lên quan điểm vũ trụ vạn vật trong đó có con người là do Thiên Chúa tạo dựng. Quan điểm về việc tạo dựng ấy  đã được giáo hội nhất quyết bảo vệ. Thế nhưng quan điểm này từ lâu đã bị Thuyết Tiến Hóa của Darwin ( 1809 – 1882 ) bác bỏ khi chứng minh rằng con người đã có mặt trên trái đất này không dưới 100.000 ngàn năm. Đang khi đó vào năm 1744 trong quyển Lịch Sử vạn Vật, Buffon chủ trương trái đất đã có khoảng 70.000 năm thế mà đã bị giáo hội thời đó cho là một xúc phạm lớn lao và tác phẩm đã bị cấm đoán và tiêu hủy. Khi Darwin chết, người ta vẫn dạy rằng vũ trụ được tạo dựng 4963 năm ( TCN ) và cuốn Tự Điển La Rousse xuất bản năm 1882 ghi rằng đó là niên hiệu duy nhất được chấp thuận trong các trường học” ( BS Nguyễn Văn Thọ  - Le Comte Du Nouy và Học Thuyết Viễn Đích ).

Tuy vẫn còn chấp giữ quan điểm về Tạo Dựng, thế nhưng  việc tạo dựng ấy hiện nay qua Đạo Đức Sinh Học đã được lý giải chỉ trong phạm vi của một…phôi thai. Trong huấn thị Domini Vitae do Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin ban hành ngày 22/2/1987 giáo hội một lần nữa tái khẳng định lập trường  không thay đổi  về việc tôn trọng phôi thai  người đã có từ lâu trong truyền thống giáo hội:” Ngay từ giây phút thụ tinh  sự sống của mỗi người phải được tôn trọng cách tuyệt đối vì con người là thụ tạo duy nhất trên trần gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính nó và linh hồn của mỗi người được Thiên Chúa trực tiếp tạo thành”

Qua Huấn Thị này cho thấy Thiên Chúa đã tạo dựng con người cả về thể xác lẫn linh hồn. Thế nhưng cũng trong Huấn Thị ấy lại cho biết sự sống con người là do việc…thụ tinh tức qua việc giao hợp giữa người  nam và người nữ chứ Thiên Chúa…đâu có  vai trò gì  ở đó ?

Lại nữa cũng Huấn Thị ấy nói: “Ngay từ khi trứng được thụ tinh, một sự sống mới được bắt đầu mà sự sống ấy không phải của cha cũng chẳng phải của mẹ nhưng đúng hơn đó là sự sống mới của một con người mới và nó có thể tự mình phát triển”

Sau khi  đã được thụ tinh, một sự sống mới của một con người mới bắt đầu. Nếu đã có con người mới thì  cũng phải có…con người cũ, điều ấy là lẽ tất nhiên nhưng sao lại nói sự sống mới ấy là do Thiên Chúa tạo dựng ? Để có thể giải thích điều này chúng ta chỉ có thể giải thích cái con người ( Sinh Linh ) cũ ấy cũng đã có mặt trên cõi đời này một thời gian ngắn, dài nào đó và chết đi để rồi  nhân việc giao hợp của đôi nam nữ ( cha mẹ ) kết  thành một phôi thai, sống trong bụng mẹ đủ chín tháng mười ngày sinh ra thành con người...mới.

Chết để rồi sinh, sinh rồi để chết đó là tiến trình vô tận của đời sống chẳng những của loài người  mà còn của cả động và thực vật. Nói cách khác  tiến trình sinh diệt, diệt sinh ấy  là một quy luật của tự nhiên  hoàn toàn không có sự can thiệp của một…đấng nào  cả. !

Phần khác, cho rằng Thiên Chúa tạo dựng cả  phần xác lẫn phần hồn ( Linh hồn ) thì sẽ không bao giờ có thể  giải thích về những nỗi khổ đau và hạnh phúc của con người. Lý do là vì nếu linh hồn là do Thiên Chúa ban cho thì lẽ ra Ngài phải…ban cho một cách đồng đều có nghĩa bất cứ ai cũng phải được lãnh nhận một linh hồn sáng láng tốt lành chứ sao lại có người sinh ra  đã bị thiểu năng tâm trí hoặc đui mù câm điếc bẩm sinh v,v,,,

Thuyết linh hồn bất tử và được Thiên Chúa…ban cho mỗi người như vậy không thể được chấp nhận. Mặt khác cũng do đó  sẽ không sao nhận ra được nguồn gốc đích thực của con người ! Để có thể nhận ra nguồn gốc ấy chúng ta cần giải Sách Sáng Thế không phải là tạo dựng nên thế giới vật chất nhưng là tạo con người nên giông Hình Ảnh Ngài ( St 1, 26 ).

Thiên Chúa dựng con người nên giống Hình  Ảnh Ngài  có nghĩa hết thảy chúng ta đều mang Bản Tính Thiên Chúa là Con Thiên Chúa từ trong tiềm thể. Mặc dầu chân lý này chưa bao giờ được giáo hội nhìn nhận nhưng đây mới là Sự Thật mà Đức Ki Tô muốn mạc khải: “ Chúa Giê Su phán với những người Do Thái đã tin Ngài rằng: Nếu các ngươi cứ ở trong đạo của Ta thì thật là môn đệ Ta, các ngươi sẽ nhận biết sự thật và sự thật sẽ giải thoát các ngươi” ( Ga 8, 31 -32 ).

Chúa không nói Ngài đến để giải thoát nhưng là Sự Thật. Điều ấy có nghĩa nếu chúng ta nhận biết nguồn gốc xuất sinh của mình từ nơi Thiên Chúa Đấng là Cha thì sẽ vào được  Sự Sống Đời Đời: “ Còn sự sống đời đời là nhận biết Cha cùng Giê Su Ki Tô mà Cha đã sai đến” ( Ga 17, 3 ).

II/- Cái chết của bộ não

Hễ đã có sinh thì ắt có tử, có sống thì phải có chết. Thế nhưng nếu hỏi chết là gì và cái gì chết thì đây lại là vấn đề khác. Thông thường người ta cho rằng khi tim ngừng đập và mũi không còn thở ra hít vào  thì người đó  được cho là đã chết. Tuy nhiên gần đây, nhờ vào những phát minh mới và các kỹ thuật tiên tiến của ngành y, các bác sĩ có thể giúp cho não bộ hoạt động trong khi tim và  hệ thống hô hấp không còn hoạt động. Bởi vậy để có thể tuyên bố một người nào đó đã chết chúng ta không chỉ dựa vào hai yếu tố tim ngừng đập và phổi ngừng hô hấp.

Nếu không dựa vào hai yếu tố ấy để tuyên bố cái chết của một người, vậy phải căn cứ vào đâu ? “ Một số các chuyên gia và thần học gia luân lý đã biện luận mang tính thuyết phục rằng: Khi  đã hội đủ các chứng cớ cho thấy bộ não không còn hoạt động và tất cả các chức năng của nó không thể phục hồi  thì đây được coi như là tiêu chuẩn y khoa chính xác về sự chết của con người. Theo nhận xét của các chuyên gia ngành y thì vỏ não là trung tâm của ý thức và hành động tự nguyện, vì thế khi mà não bộ bị hủy diệt  thì coi như cuộc sống dương thế  của người đó cũng chấm dứt”

Luận cứ cho rằng bộ não chết  có nghĩa người đó đã chết cũng chính là quan niệm của giáo hội hiện nay: “ Cho nên bài viết này nhằm chứng minh rằng việc bộ não hoàn toàn bị hủy diệt là lý chứng tiên quyết cho việc thẩm định cái chết và điều này phù hợp với quan điểm triết học hiện  đại cũng như truyền thống luân lý của giáo hội Công giáo”.

Một đàng nói vỏ não là trung tâm của ý thức, một đàng thì nói bộ não chết thì người đó cũng chết. Vậy thì phải nói sao ? Ý thức cũng…chết luôn sao ? Nếu ý thức  cũng chết thì phải chăng chết là… hết sao ? Thật sự thì không phải vậy, chết không phải là hết và cái…không hết ấy người Công giáo gọi là Linh Hồn. Thế nhưng chúng ta cần phải hiểu Linh Hồn theo nghĩa nào ? Đó có phải là Linh hồn bất tử mà Thiên Chúa đã…phú cho hay không ? Nếu linh hồn là bất tử thì sao nó lại phải đày trong Hỏa Ngục đời đời ? Phải chăng cũng vì không thể giải thích được điều ấy nên có một số người không ít hiện nay không tin  sự hiện hữu của Hỏa Ngục ?

Bộ não chết nhưng ý thức hiểu như Nghiệp Thức không chết. Con người ta chết mang theo cái Nghiệp  đã làm qua Thân, Khẩu, Ý khi còn sống trên cõi dương gian  để …đi vào đời sau. Nói theo Duy Thức Học, con người gồm bởi tám cái Thức ( Bát Thức Tâm Vương = Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý ). Trong tám cái Thức đó thì Thức thứ tám gọi là Tàng Thức chứa đựng hai loại chủng tử hữu lậu và vô lậu. Chủng tử Hữu Lậu là hạt giống tùy duyên  mà phát sinh ra thiên sai vạn biệt tức hiện tượng giới. Còn chủng tử vô lậu ( Xuất Thế Gian ) đưa đến giải thoát.

Nói  chết không phải là  hết tức còn cái Nghiệp Thức  sẽ…mang theo vào kiếp sau. Nghiệp nhân nào sẽ tạo Nghiệp quả đó: “ Ta sẽ tùy công việc của mỗi người mà báo ứng” ( Kh 2, 23 ).

III/-  An tử  và trợ tử

Là người ai cũng sợ chết nhất là những cái chết  quằn quại trong đau đớn  vì nỗi bệnh tật lâu ngày mà vô phương  chữa trị. Khi ấy chỉ muốn chết cho mau cho chóng và cái chết ấy được gọi là An Tử ( Euthanasia ).

An Tử như thế chẳng qua cũng là…tự tử  dưới hai danh nghĩa. Một là tự tử có sự trợ giúp đang khi được chăm sóc ý tế. Đây đúng là tự nguyện vì việc giết chết được thực hiện thể theo yêu cầu của bệnh nhân và bác sĩ tin rằng bệnh 

nhân có lý do  chính đáng để được kết liễu mạng sống do tình trạng tâm lý  và sức khỏe hiện nay hay ở tương lai có thể tiên liệu được. Hai là tự tử không tự nguyện  là khi bệnh nhân  không hề bày tỏ ước muốn  cũng không hề đưa ra bất cứ bằng chứng vững chắc nào cho thấy mạng sống ấy cần phải được kết liễu.

Đối với trường hợp không tự nguyện  vì nhiều lý do hoặc cấm khẩu, trẻ sơ sinh bất thường hoặc tâm thần  thì việc An Tử vẫn được dùng trong ý nghĩa đặc biệt gọi là “ Giết vì lòng thương xót” với mục đích là để tránh cho người bệnh phải kéo dài một cuộc sống khốn khổ một cách…vô ích ?

Phe ủng hộ cái chết êm dịu thì nêu ra… cái quyền gọi là Quyền Được Chết với lập luận: “ Nếu ta đã chấp nhận quyền của bệnh nhân được tự do chọn cái chết bằng cách tự tử như thế thì có gì là sai trái khi họ thực thi cái quyền ấy bằng cách để người khác giết mình ? Nếu con người có quyền được chết và đã đi đến  quyết định kết liễu mạng sống mình sau khi đã cân nhắc không muốn tiếp tục sống đau khổ  thì cớ sao là sai trái khi nhờ người khác thi hành sự lựa chọn hợp pháp của mình ?

Trước lập luận có vẻ…thuyết phục về việc chấp nhận An Tử, giáo hội đã đưa ra quan điểm của mình: “ Sự sống con người là thánh thiêng do Thiên Chúa ban tặng cần phải được nuôi dưỡng và bảo vệ. Định đoạt về mạng sống  không phải là quyền của con người nhưng là quyền của Thiên Chúa. Con người chỉ quản lý công trình sáng tạo, do đó  chỉ có quyền phần nào và tự do phần nào đó với mạng sống của mình mà thôi”

Cho rằng sự sống là do Thiên Chúa ban tặng vì vậy cần nuôi dưỡng, bảo vệ. Thế nhưng đó chỉ là một thứ nguyên tắc thần học không quan hệ gì tới nỗi thống khổ của bệnh nhân mà người ngoài không sao  thấu hiểu !!!

Như đã biết, an tử hay trợ tử cũng vẫn là…tự tử. Ngoài lý do muốn kết liễu đời mình khi phải chịu nỗi đau đớn vì bệnh tật vô phương cứu chữa. Còn nhiều lý do khác nữa và một trong những lý do đó là do người ta không tìm thấy ý nghĩa gì trong cuộc sống. Chỉ con người mới có hành vi tự tử còn con vật thì không. Điều này cho thấy việc tìm ra ý nghĩa của đời sống và sống với ý nghĩa đó là điều vô cùng quan trọng. Trái lại nếu không thấy ý nghĩa của đời sống này là gì  thì dù cho cuộc sống của  một Ki Tô Hữu cũng chỉ trôi qua trong nhàm chán, vô vị !

Mặt khác cũng chỉ khi nào tìm ra ý nghĩa  cũng như mục đích của cuộc sống, con người mới có thể nhận ra giá trị lớn lao của khổ đau để rồi vượt qua nó. Thánh Faustina kể trong một lần thị kiến, chị tỏ vẻ…trách Chúa Giê Su: “ Lạy Chúa Giê Su, Chúa đang đùa với con đấy nhé. Chúa cho con thấy cổng Thiên Đàng đã mở rồi Chúa vẫn bỏ con ở chốn trần gian. Chúa liền phán với chị: Khi về Thiên Đàng, con sẽ nhìn thấy những ngày hiện nay, con sẽ vui sướng và sẽ muốn nhìn thấy càng có nhiều ngày như thế càng tốt” ( NK 1787 ).

IV/-  Hôn  nhân và Tính dục

Cả loài người lẫn loài vật đều có bản năng sinh tồn  với  mục đích để lưu truyền nòi giống qua đường sinh dục. Tuy nhiên có sự khác biệt lớn lao giữa con người và con vật ở chỗ con người có đời sống hôn nhân còn con vật thì không. Nói như thế có nghĩa hôn nhân đặt nặng vấn đề truyền giống hơn tình dục. Do đó việc sinh con đẻ cái của con người cũng khác với con vật. Con vật chỉ  một thời gian ngắn sau khi sinh thì hai  mẹ con không còn liên hệ gì với nhau. Trái lại đối với con người thì mối liên hệ huyết thống kéo dài không những  chỉ trong một mà tới… ba đời.

Cũng trong mối liên hệ huyết thống ấy con người mới có bổn phận nuôi dạy con cái nên người, đem danh giá lại cho cả dòng tộc. Vì vậy người ta mới có câu…một giọt máu đào hơn ao nước lã ?

Bởi việc lưu truyền nòi giống quan trọng như thế  nên giáo hội mới đặt nặng hôn nhân lên trên tính dục: “ Xét đến vấn đề riêng của tính dục hôn nhân, Cast Connubii ( Huấn Thị) rõ rệt nêu lên hai mục đích của việc giao hợp, một mục đích chính và một mục đích phụ như sau: Hành vi  giao hợp tiên thiên  theo bản tính phải nhắm đến việc sinh con ( nhưng ) do quyền lợi trong  đời sống hôn nhân cũng còn có những mục đích phụ nữa như trợ giúp lẫn nhau, chăm sóc tình yêu đôi lứa và việc làm dịu cơn thèm khát xác thịt mà chồng và vợ không bị cấm đoán  bao lâu  họ vẫn tuân thủ mục đích đầu tiên  và bao lâu mà bản chất nội tại của hành vi đó vẫn còn  được gìn giữ vẹn toàn. Trong mạch văn đó, điểm nêu dẫn trên cho rằng bất cứ lúc nào giao hợp họ phải tiến hành sao cho hành vi không được tránh né khả năng tự nhiên và của Thiên Chúa và ai vi phạm thì không thể không mắc tội nặng” 

Việc nêu lên mục đích chính, mục đích phụ như thế chỉ có  nghĩa là việc lưu truyền nòi giống  là mục đích chính của hôn nhân. Tuy nhiên trong thực tế, điều này hầu như không thể thực hiện. Lý do bởi vì  cả hai người nam và nữ thoạt đầu đến với nhau là do bản năng tình dục chứ không phải vì mục đích truyền giống. Riêng với người nữ nếu cứ nghĩ đến việc truyền giống chỉ như là việc mang nặng đẻ đau thì có lẽ chẳng ai muốn lấy chồng làm gì ?

Có thể nói cái bản năng thôi thúc của tình dục đến trước hôn nhân hoặc hôn nhân làm cho tình dục thăng hoa chứ không phải ngược lại. Thế nhưng cái điều…ngược lại ấy đã xảy ra trong cái gọi là “ Cách mạng tình dục”. Cuộc…cách mạng này diễn ra dưới ba phương cách. Một là ngừa thai, hai là thụ tinh trong ống nghiệm và ba là mang thai hộ. Cả ba phương cách ấy  đều có mục đích tách rời tình dục khỏi sự sinh sản.

Việc ngừa thai hay tránh thai dù dưới bất cứ hình thức nào, uống thuốc, phương pháp Ogino, bao cao su hoặc ngưng nửa chừng cuộc giao hợp tựu chung cũng chỉ có mục đích để thỏa mãn xác thịt mà không muốn sinh con tức là đã lấy tình dục làm cứu cánh thay vì  đó chỉ là phương tiện  của việc truyền giống. Điều ấy thì có khác gì con vật ?

Nguyên nhân sâu xa khiến cuộc “ Cách Mạng Tình Dục” xảy ra và còn tác hại ghê gớm  đến xã hội loài người hôm nay đó là vì đã mất đi ý thực của việc truyền giống  mục đích là để duy trì một xã hội tốt đẹp, nhân văn và phát triển. Không những thế việc mất ý thức con diễn ra  ngay trong lãnh vực tâm linh, tôn giáo. Thay vì nòi giống  cần lưu truyền là dòng giống Con Thiên Chúa lại là dòng giống xác thịt cho rằng việc sinh con đẻ cái là việc…cộng tác với Thiên Chúa trong việc tạo dựng: “ Kinh Thánh còn khẳng định rằng Thiên Chúa quan tâm đến việc sáng tạo sự sống con người. Và cuối cùng  các tác giả Kinh Thánh hiểu rằng lời mời gọi sinh sản đông con nhiều cháu phải được coi là trách vụ trong việc cộng tác vào việc tạo dựng”

Phải chăng chính vì  quan niệm…con người cần phải cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản…đầy mặt đất như thế mà giáo hội Công giáo đã bị kết án là nguyên nhân  gây ra  nạn nhân mãn hiện nay ? Chẳng những thế, quan niệm này còn là nguyên nhân sâu xa của nạn Tục Hóa cho rằng Đức Ki Tô đến để rao giảng và thiết lập Nước Trời ở nơi gian trần !!!

Hôn nhân Công giáo không có mục đích để lưu truyền con cái xác thịt nhưng là con cái của Lời Hứa:“ Cũng không phải  vì họ là dòng giống Apraham  mà hết thảy đều là con cái đâu. Bởi duy kẻ ra từ Isaac mới là dòng giống ngươi. Nghĩa là  chẳng phải con cái thuộc xác thịt là con cái Thiên Chúa, duy con cái thuộc lời hứa mới kể là dòng giống vậy” ( Rm 9, 7 -8 ).

Đạo Đức Sinh Học là vấn đề lớn của thời đại nhưng nếu nó chỉ được  nhìn nhận trên phạm vi luân lý thì sẽ không bao giờ có thể nhận ra chân lý trong mọi vấn đề. Tại sao ? Vì rằng luân lý trong bất cứ khía cạnh nào cũng chỉ là cái nhìn phiến diện về sự thật,  nếu không muốn nói là sai lầm bởi đã cho thế giới này là thật có, “ Cái Ta” này là thật có. Đang khi đó thế giới  cũng như “ Cái Ta ( Ngã ) dưới góc nhìn tâm linh thuần là ảo ảnh, duyên hợp gọi là có, duyên tan gọi là mất…Bao lâu còn bám víu vào thế giới, vào “ Cái Ta” cho nó là thật có thì  không thể không giữ lòng tham, tham được thì còn tham mãi. Không tham được thì nổi  sân hận, ghen ghét, đố kỵ v.v…

Cũng chính vì cái lòng tham ái bất tận ấy, nhân loại hôm nay mới đứng trước nguy cơ của sự diệt vong, bầu khí quyển nóng lên từng ngày, động đất, núi lửa phun trào, hạn hán, lũ lụt diễn ra  như chưa từng có v.v…Tất cả  chẳng phải là sự cảnh tỉnh của thiên nhiên đó sao ?

Nhận ra những hiện tượng ấy không phải để bi quan nhưng là việc cần thiết cho con đường trở về: “ Nhưng anh em ơi ! Tôi bảo điều này: Từ nay về sau, kẻ có vợ nên như không có. Kẻ đương khóc nên như không khóc. Kẻ đương vui nên như chẳng vui. Kẻ đương mua nên như chẳng được gì. Kẻ dùng thế gian  nên như kẻ chẳng quá dùng nó. Vì hình dạng của thế gian đang qua đi từng ngày” ( 1C 7, 29 -31 )./.

Phùng  Văn  Hóa

Lên đầu trang