Cuộc hành trình tinh thần ngang qua châu Á trong thập kỷ

7/2/2015 10:35:01 AM
Tài liệu gợi ý cho các cuộc thảo luận trong kỳ Đại Hội Khoáng Đại lần thứ năm của Liên Hiệp các Hội Đồng Giám Mục Châu Á (FABC).

1. DẪN NHẬP

 

 Những biến cố xảy ra trong mấy tháng gần đây đã  mang lại đủ chất liệu cho công tác suy tư về những  năm sắp tới. Những biến cố đó cũng đã đảo  lộn tình hình trong một số lãnh vực, đã làm nhiều  vị "tiên tri" bối rối, và còn mở ra cả  một chuỗi những vấn nạn hầu như về hết mọi khía cạnh  trong cuộc sống cá nhân cũng như tập thể. Những người  nông nổi đã vội vã chạy theo các nhà giảng  thuyết rẻ tiền nhất thời, để đi bán dạo những  viên ngọc khôn ngoan có liền, rất hào nhoáng nhưng thuộc  loại đồ giả. Những bậc hiền nhân thì đã cuốn  gọn những bản đồ cũ và thu mình vào một  góc mà suy nghĩ, mong làm sao hiểu lại cho đúng hầu  ghép thêm một trang vào trong bộ sử còn cần phải  xét lại. Còn người kitô, giống như Đức Maria, họ giữ  tất cả những điều ấy lại trong lòng. Trong cõi  thâm sâu, những biến cố mới xảy ra phối hợp làm  một với những biến cố cũ, và với Thiên Chúa  hằng sống, là Đấng nói lên qua cả cái cũ lẫn  cái mới... cho những ai biết lắng nghe.

 

Qua các biến cố bi thảm xảy ra gần đây, chúng ta cũng  nhận ra được những đổi thay và những diễn biến  khác, đang ảnh hưởng đến tận gốc rễ cuộc sống  của Châu Á. Người kitô chấp nhận và hội nhập  những hiện tượng đó cách chậm chạp, âm thầm không thấy  được, và bằng rất nhiều đường lối khác nhau, đến  độ không bao giờ có ai dám cho là mình đã biết,  đã hiểu rõ được. Khám phá ra những con đường  đó có thể là một trong những thành quả của  cuộc họp này. Và đồng thời, việc đó cũng  sẽ cho thấy rõ là những suy tư này chỉ có  tính cách tương đối, đưa ra chỉ nhằm đóng góp một tay mà  thôi. Thực trạng của những hoàn cảnh tinh thần,  tôn giáo, văn hóa, xã hội rất khác nhau tại Châu Á,  là một thách đố thường xuyên đập vào mắt cả  hai thái độ: kinh ngạc về tính cách phong phú khác thường  của chúng, và khiêm tốn trước bất kỳ một cố  gắng nào nhằm suy nghĩ về toàn thể vùng này.  Là một bản đề cương dùng để thảo luận, những  trang này rồi sẽ hòa tan vào các phiên họp  và sẽ mãn nguyện chìm sâu vào trong sự khôn  ngoan mới sẽ nẩy lên các phiên họp đó.

 

 2. MỘT THẾ GIỚI VỚI NHỮNG ĐỔI THAY KHÁC THƯỜNG

 

 Để tránh lặp lại và dẫm chân lên các tài liệu  gợi ý khác, thì xin chỉ nêu vắn tắt ra đây một số những  biến đổi đang ảnh hưởng đến Châu Á, đến cuộc  sống và cảnh trạng tinh thần tại đây. Từ lâu  nay, có một điều mới mẻ nào đó đang xảy ra tại  lục địa này. Hình như những đổi thay chúng ta đang trải  qua, có một sức mạnh vượt xa ngoài những kinh nghiệm  từng sống qua trước đây của chúng ta. Dù về mặt  văn hóa và tôn giáo, về mặt tổ chức xã hội và  hệ thống chính trị, có những điểm khác biệt lạ thường,  thì cũng có những chiều hướng và những đổi  thay được xem như là nhất thiết phải xảy đến, không  thể tránh được, hệt như tứ thời bát tiết trong năm. "Cái  ngôi làng toàn cầu” (the global village) càng  ngày càng hiện rõ như một thực tại sống động  trong cuộc sống loài người, và những bước tiến  phát mới trong thị trường quốc tế làm như bao giờ  cũng khai mở được một lối ngõ để thâm nhập xuyên  qua các bức tường dày nhất của văn hóa và  tôn giáo, đi vào trong cuộc sống của dân chúng, bất  kể họ có mức sống cao hay kém thấp hơn. Ngay cả những  người nghèo, - tức là ngay cả những người  có lẽ không bao giờ hưởng được những hứa hẹn  về một "Thế giới Mới", - cũng đang cảm thấy  chán chường thất vọng vì không đạt tới được nơi ấy.

 

Không thể chối cãi được là đối diện với các thực  tại mới mẻ ấy trong thế giới hiện nay (được miêu tả  qua các tài liệu khác của Đại Hội này), không  ai mà không cảm thấy kinh ngạc thán phục và hân  hoan phấn khởi. Những tiến bộ thì thường có sức  chữa lành, mang lại sinh lực, đào tạo con người,  và mở ra trước mắt những chân trời mới lạ  đầy mộng mơ. Còn những tâm hồn sống cầu nguyện thì  thường đi đến chỗ cảm tạ và kính phục, để  cho lòng mình hướng theo đà tự phát của thái độ  niềm nở đón nhận những gì phát hiện được như là  một phúc lành, và ca tụng ghi ơn Chúa của mọi  ân phúc.

Nhưng những thập kỷ vừa qua cũng làm cho  ta cảm thấy phải biết thận trọng và đánh dấu  hỏi đối với những ơn lành bất ngờ và lạ  lùng ấy. Thế kỷ con người đang sống đây, đã  dồn dập mục kích tận mắt những kinh nghiệm thất vọng  chồng chất với đầy dẫy ảo tưởng mơ theo những  hứa hẹn hấp dẫn về cái mới điều lạ. Càng ngày  con người càng cảm nhận ra rõ hơn tính chất  nhất thời của những gì thường được gọi là  phát minh, là tiến bộ, và mất dần tin tưởng đối  với chúng. Dần dần con người khiêm tốn học biết được  là trong bất cứ một thế hệ nào, cũng có thể  gặp thấy lối suy luận thuần lý hạn hẹp như thế cả. Hiện  tượng thường thấy tái diễn là thái độ lạc quan  của thập kỷ trước đã biến thành tai ương cho  thập kỷ kế sau. Và như thế, đã có thời tân  đại (modernity), rồi tiếp đó là thời hậu tân  đại (post-modernity); trong khi đó, thì càng ngày  dân chúng càng cảm thấy bị cô lập hơn. Hiện tượng  tục hóa đã tiếp tay để gây ra "tình trạng vô gia cư"  về mặt tinh thần và nhân bản, cũng như tình trạng  thiếu khả năng hội nhập những chiều kích thường  đi liền với nhau của bản chất loài người. Kỹ  thuật đã thâm nhập vào trong cõi lòng con người,  và từ đó nắn gò nên những bản sao mang  hình dạng "chúa tể máy móc” (machine-god) hay "chúa  tể chất dẻo” (plastic-god). Tiến bộ đã đến và  đã ra đi để rồi đến trở lại trong thế kỷ này  mà mê hoặc mọi người cho đến lúc có người lên  tiếng vạch ra cho thấy giá cao tiến bộ đòi cộng đồng  nhân loại phải trả, cũng như cho thấy những  giấc mơ xinh đẹp và Trái Đất Mẹ mà nó hứa hẹn chỉ  là những ảo ảnh viễn vông. Trong những  thập kỷ vừa qua, tinh thần dân chúng đã bị thử  thách rất nặng nề. Vì vậy, "thị trường tinh thần"  tất phải bị xáo trộn, và trong những tháng năm  cuối của thế kỷ này, đang thấy nhan nhản vô  số những sản phẩm quen thuộc nhưng lại mang nhãn  hiệu ngoại quốc. Những con đường Kitô giáo đưa dẫn  đến "Núi Thiên Chúa" đã bị tắc nghẽn lối đi  bởi những cỏ hoang gai dại mọc đầy. Tìm cho ra Con  Đường là việc làm đã trở thành khó  khăn hơn nhiều.

 

 3. CẢNH HUỐNG CHÂU Á

 

 Cho dù tại Châu Á, các quốc gia, dân tộc, và  các tín ngưỡng có rất khác biệt nhau, thì ở vào  bất cứ thời điểm nào, không ai mà không khỏi  kinh ngạc trước sức sinh động hằng tiếp tục tồn tại của  những truyền thống và những nền văn hóa lớn lao  đã có từ lâu đời và đã làm kim chỉ  nam cùng truyền thông sinh lực cho lục địa này suốt  hàng ngàn năm nay. Các truyền thống và các nền  văn hóa ấy đã ảnh hưởng và tiếp tục ảnh  hưởng sâu đậm đến bản chất, đến các giá trị, đến  thái độ xử sự và đến các mối quan hệ giữa các  dân tộc khác nhau. Bằng cách này hay cách khác, ảnh  hưởng của chúng đã tỏa đến và làm  cho mọi nơi trong lục địa này nên phong phú. Cần phải  đi từ chính sự kiện này mà suy nghĩ và tiên  liệu cho tương lai. Có thể trình bày tóm tắt về trạng  huống ấy qua bốn điểm sau đây.

 

 A. Di sản tinh thần của Châu Á là  một di sản khôn ngoan tích lũy , tức là một  kho tàng khôn ngoan đã được phát hiện, thu thập, đào  sâu, truyền đạt qua hàng ngàn năm dài, và  đã đâm rễ sâu vào trong những giá trị tinh  thần đạo đức làm nên bản chất đặc trưng của đời  sống lục địa này: khôn ngoan trong cuộc sinh tồn giữa  những dân nước, những điều kiện thời tiết và  những quá trình lịch sử rất đỗi khác nhau; khôn  ngoan đã từng làm nẩy sinh nên những tư tưởng, những vũ trụ quan, những giá trị nói lên mức độ  đặc biệt sâu sắc của kinh nghiệm, thể cách suy tư, khả  năng thấu suốt và phán đoán vững chắc. Rồi mặt khác,  khôn ngoan ấy cũng thường chan chứa thấm nhuần ý thức  tôn giáo về "Sự Hiện Diện" của Đấng nhiệm mầu  trong toàn bộ thực tại; và đồng thời, lại giữ  được cả một truyền thống kiên cố về Đấng siêu việt,  Đấng khôn tả và khôn đạt. Đối với Châu Á, lặng  thinh cũng quan trọng không kém gì cuộc mừng và  lễ hội; siêu việt tính cũng toàn diện hệt như  nội tại tính; phía bên phải của bộ não cũng  được trau dồi như phía bên trái.

 

 B. Nhưng không bao giờ có khôn ngoan nào  là an toàn và khỏi phải trả giá cả. Nó luôn luôn bị đe dọa bởi thái độ thiên kiến,  hành vi vô nghĩa, và bởi vô vàn động cơ ích  kỷ và tư lợi phe nhóm. Cuộc tấn công vũ bão  như thế vào khôn ngoan còn trở thành đặc biệt  tàn bạo hơn trong giai đoạn cuối của thế kỷ này.  Và như mọi người thấy rõ trước mắt, khôn ngoan  hiện đang gặp phải nguy cơ bị đè bẹp dưới sức ép khuynh  đảo của các trào lưu thời nay:

 

-- " Bị đe dọa bởi đời sống tân tiến và bởi  những đòi hỏi lệch lạc của lối suy luận một  chiều. " Bị kỹ thuật và toàn bộ những huyền thoại  khoa học thách đố, vì chúng hứa hẹn những điều chắc chắn  với những yếu tố bí ẩn mà trước đây hằng được quần  chúng luôn luôn tôn trọng. Và đến khi nhận ra những  hứa hẹn kia chỉ là chuyện hư không, thì đã quá muộn  để có thể tìm lại cho được những huyền thoại đã mất.

 

-- " Bị quấy rối bởi hàng loạt những dữ kiện  mới ồ ạt xâm nhập vào từ bên ngoài, mà không  có những phương thế hoặc nhịp độ cần thiết để giúp chúng  hội nhập cho tốt đẹp, theo tinh thần xây dựng. Điều đó đã  làm cho trọn cả hàng khối người dân phải  đứng trước "thực trạng đa dạng" phát sinh ra không  phải là từ nổ lực sáng tạo và sức năng phong  phú của cuộc sống, nhưng là từ một hành động  áp đặt cách giả tạo, dựa theo những quy luật của  thị trường.

 

-- " Những cuộc chiến ý thức hệ bên Tây phương cũng  đã lan rộng tới bến bờ của Châu Á, và  đã giành quyền kiểm soát trí óc tưởng tượng cũng  như thiện chí của cả giới trẻ lẫn người  già. Tính cách toàn thể và đóng kín của các  ý thức hệ này đã phương hại nặng nề đến di sản  khôn ngoan thu tích từ nhiều thế kỷ, cũng như đã  tiếp tay để làm cho cả”những người tin theo"  lẫn những người vỡ mộng bị mất gốc.

 

-- " Tình trạng kém phát triển, cảnh bất công và  hình thái nghèo đói kiểu mới của những thời  thuộc địa và hậu thuộc địa, của thời công nghiệp  kỹ thuật, vẫn tiếp tục đe dọa trầm trọng đến di sản  khôn ngoan vốn là nguồn mạch đã từng mang lại  hứng khởi và ánh sáng cho công tác xây dựng nên  mối hòa hợp, cuộc chung sống hỷ hoan và niềm hy  vọng giữa cộng đồng các dân nước.[2]

 

 C. Những đe dọa ấy không chỉ là một mớ  suy diễn lý thuyết, hoặc chỉ thoáng hiện lờ mờ  ở cuối chân trời. Chúng đã thâm nhập vào  trong cuộc sống Châu Á, và đã biến đổi tâm trạng  nơi nhiều người. Những thiệt hại thì to lớn,  và đã làm cho mất mát đi những điều kiện rất  quan trọng và thiết yếu để có thể thực hiện được một  cuộc hành trình tinh thần đầy ý nghĩa qua những thập  kỷ sắp tới. Thử nêu ra sau đây một số những mất  mát ấy:

 

-- " Tận căn nhất có lẽ là tình trạng đánh mất  những niềm trung thành cố hữu . Ở đây,  không có ý nói đến lòng trung thành gắn liền với  lịch sử chế độ phong kiến và những thời áp  bức trong quá khứ. Những hình thái trung thành này  chỉ giới hạn ở nơi một phạm vi nhỏ trong đời chúng  ta. Quan trọng hơn nhiều là lòng trung thành gắn  bó có từ hàng ngàn năm đối với Mẹ Đất, đối  với ruộng vườn và sức năng của nó, đối với những  chu kỳ và nhu cầu của thiên nhiên hầu giữ  cho khả năng sáng tạo của nó được mãi sinh động.  Cũng phải lưu ý đến những dạng thể khác của  lòng trung thành: niềm trung thành đối với đại  gia đình các dân tộc, đối với gia đình rộng lớn đã nâng  đỡ chúng ta qua những nạn đói kém, lũ lụt, nghèo  khổ và bệnh tật; rồi còn những thái độ trung  thành bao gồm trọn các mối quan hệ với các dân nước,  các chủng tộc, các làng xã láng giềng, cũng  như bao gồm lòng ngay thật cùng tín nhiệm đối với nhau  giữa các nhóm và các cộng đồng, v.v...

 

-- " Mất đi lương tri (common sense) sống động mà mọi  người có chung . Cuộc sống tân tiến với thực trạng  đa dạng đã tiếp tay hữu hiệu để làm cho các giá  trị cố hữu và những chờ mong trong đời sống  hằng ngày của người dân thường, biến mất đi  một cách mau chóng. Khoảng cách giữa các thế hệ đang  ngày càng lớn rộng dần đến độ nguy ngập. Cả đến  việc giao tế liên hệ giữa những người cùng  xứ sở với nhau cũng đã trở thành khó khăn,  xa lạ: có học lại thì mới sử dụng được.

 

-- " Mất đi ý thức về nguồn gốc (sense of belonging ):  là tình trạng mất mát đặc biệt thấy rõ ở nơi  các phong trào và các nhóm mới đang đua nhau mọc lên  như nấm để tiếp cứu các số dân vô gia cư ở khắp nơi.

 

-- " Còn có một tình trạng mất mát rất quan trọng  khác nữa, đó là việc đánh mất đi những phương  pháp trị liệu cổ truyền cố cựu được dùng để chữa  cho những chứng bệnh thể xác và tâm hồn. Những  nghi thức có khả năng chữa lành " theo nghĩa  rộng nhất của từ ấy " đã biến mất đi hoặc  đã biến thành những dịp quảng cáo cho giới  làm chính trị hoặc cho các xí nghiệp. Các mối quan hệ và  các sinh hoạt trong các nhóm chữa trị cũng đang biến  dạng để biến chúng thành những nhóm "cầu lợi."  Việc viện dẫn giáo lý và thực hành tôn giáo  đã bị mất uy tín và bị tước mất hết khả năng chữa  lành và xoa dịu các khổ đau trong tâm hồn cũng  như nơi con người toàn diện.

 

" Có thể gói trọn những mất mát kia vào trong  tình trạng thiếu khả năng phối hợp chính mình, cuộc  sống, các mối liên hệ, trách nhiệm xã hội, và những  thực tại đầy đe dọa của viễn ảnh tương lai lại  thành một tổng thể thống nhất. Còn các nền văn  hóa và các bộ môn thần học thì đã đánh mất đi nhiều  sức năng tiếp trợ từng có trước đây.

 

 D. Tất cả những điều đó cho thấy cả  một loạt những nhu cầu đang hiện lên trước mắt,  đòi phải được ứng đáp nhằm xây dựng một cuộc sống  tinh thần lành mạnh tại Châu Á trong thập kỷ 90.  Những nhu cầu ấy có tính cách bao quát, và vì thế,  nếu muốn góp một phần "tinh thần" vào trong công  cuộc xây dựng tương lai, thì không thể phớt lờ chúng đi  được. Chủ yếu, những nhu cầu đó là:

 

-- " Nổ lực phục hồi lòng trung thành căn cội, vì  niềm trung thành này sẽ hội nhập những thế  hệ sắp tới vào trong trào lưu cơ bản nhất của  cuộc sống, vào trong thực tại của trái đất, vào  trong nhân loại với những chiều kích quảng mạc hơn,  tức là vào trong những giá trị có sức nâng cao  cuộc sống, lòng tin tưởng, niềm hy vọng, khả năng  trị liệu, niềm vui và an bình.

 

-- " Một ý thức mới về sự việc mình là thành phần  của một nền văn hóa, của một cộng đồng, của  những thực thể tự tại-siêu việt.

 

-- " Một hệ thống giá trị vững mạnh và nhất quán,  khả dĩ giúp cho ta nhận ra rõ những gì sẽ xảy  đến trong thời đại sắp tới, và góp phần xây dựng  trong tinh thần trách nhiệm đầy sáng tạo đối với xã hội.

 

-- " Một nền công lý mới cho hết thảy mọi người,  không phân biệt tuổi tác, chủng tộc, giới tính, khả  năng thể lý, tài chánh hay xã hội. Nhưng cũng  cần một nền công lý mới cho trái đất, cho tất cả mọi  sinh vật và môi trường sống của chúng. Nói cách  khác, điều đó biểu đạt rõ một nền công lý mới ra trước  mắt những thế hệ sắp tới của các dân tộc Châu Á,  là những thế hệ sẽ thấy cần phải gặp gỡ  cho được Thiên Chúa hằng sống và công trình tạo dựng  kỳ diệu của Ngài, trong những gì là xinh  đẹp huy hoàng mà Ngài đã tỷ mỷ gia  công sáng tác nên qua một tiến trình kéo dài hàng  tỷ năm trời; chứ không phải đành chịu chấp  nhận một cuộc tìm kiếm chán ngấy để nhận cho ra bóng Ngài  nơi những vùng đất đã trở thành hoang phế vì bị tàn phá và lạm dụng khai thác, như vẫn thấy  ngày càng nhiều, trong thời đại này.

 

-- " Càng ngày càng cần đến chiều sâu nhiều hơn,  vì có đi vào chiều sâu thì mới góp phần xây dựng được  cho những khả năng mới trong các công tác chữa  trị, hội nhập, hòa hợp, dựa trên thái độ kính trọng và  nâng đỡ lẫn nhau. Cũng còn cần phải đi  vào chiều sâu thì mới có thể thắng vượt được những  huyền thoại nông nổi và ngọn sóng thần của "những  sấm ngôn đầy hứa hẹn về một tương lai hưng thịnh hạnh phúc"  đang ùn ùn kéo tới. Và cũng chính chiều sâu  sẽ lại vén mở cho thấy Lời hằng sống của  Thiên Chúa với trọn bản chất tươi sáng và sức sinh  động nguyên thủy của nó.

 

-- " Cuối cùng, là cần phải làm cho người  dân của chúng ta có được một ý thức mới về giá trị  riêng của cá nhân mình, và về sứ mạng của họ  trong công tác góp phần xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn  cho Châu Á, rồi từ Châu Á, cho toàn thế giới.

 

 4. CHỐNG LẠI TÌNH TRẠNG CHÊNH  LỆCH KHÔNG LÀNH MẠNH

 

 Đời sống tâm linh luôn luôn tiến phát ở giao điểm  giữa một bên là tâm lòng con người với những  cảm thức của nó, và bên kia là lịch sử  của dân tộc với những biến cố (tích cực hoặc tiêu  cực) quan trọng trong tiến trình lịch sử ấy. Mối liên hệ  ấy vốn là nguồn phát sinh tình trạng căng thẳng cũng  như thái độ đối thoại xây dựng. Thiên Chúa mà Kinh Thánh  theo truyền thống Do Thái-Kitô miêu tả, là một Thiên  Chúa ngỏ lời với con người từ trong cõi  thâm sâu của con tim, trong yên lặng và cô tịch; nhưng  đồng thời, cũng nói với con người qua các biến  cố và các giai đoạn thăng trầm trong lịch sử nhân  loại. Đời sống tu đức không chỉ dành riêng cho giới  "nhà nghề" chuyên thực hành chiêm niệm và  sống đời trực nghiệm huyền nhiệm (thần bí). Có những  vị vua chúa, những người hành khất, những đấng  lập dòng, những người y tá, những bậc học  giả đã từng sống trọn ơn gọi kitô ngay ở giữa  cuộc sống bận rộn của mình. Ngôn sứ là nhân vật  biểu hiện chỉnh nhất và cùng một trật, cả mối  căng thẳng lẫn việc hội nhập: hoàn toàn dấn thân  vào giữa cuộc sống thực tế, mà vẫn trọn vẹn  chìm sâu vào trong sự sống thần linh. "Giữ kỹ  mọi điều ấy (những cuộc viếng thăm, những lời  nói, những biến cố, những lời hứa...) trong lòng"  là, nhân danh Giáo hội, Đức Maria đề xuất một thể dạng  tổng hợp mới.

 

Có thể phát biểu khác đi để nói rằng đời sống thiêng  liêng cũng như tác động qua lại giữa tinh thần và  thực tại thì luôn luôn là một động tác từ bên  trong , từ đức khôn ngoan nội giới . Vì thế, việc  nhận định thiêng liêng vốn là phương thức mà người  kitô thường ứng dụng để "được thôi thúc và chỉ  đạo từ bên trong, theo đúng đường hướng của Thần  Linh Thiên Chúa tác động trong tâm hồn và trong cuộc sống  của cá nhân hay của cộng đoàn." Đó là  cuộc sống đặt nền móng trên niềm thâm tín về hồng ân Thánh  Linh mình đã nhận được và về sự việc Ngài hằng  hiện diện đồng hành bên cạnh. Sự sống ấy phún trào  lên từ sức năng nội tâm phong phú của trạng thái  hiệp thông với Thiên Chúa. Sức phong phú nội tâm này  hằng không ngớt tăng cường thêm lên nhờ biết tận  dụng di sản khôn ngoan chung quanh môi trường  sống: khôn ngoan của trái đất và của văn hóa  hay của cộng đoàn; di sản khôn ngoan ấy dần dần  sẽ được nội tâm hóa và trở thành của  riêng mỗi cá nhân. Ngoài ra, nó còn được di sản  khôn ngoan tôn giáo làm cho cường thịnh hơn nữa,  bởi lẽ đó là di sản đã được các truyền  thống tôn giáo cố cựu của Châu Á biểu đạt và  lưu chuyển cho đến ngày nay.

 

Đồng thời, các Giáo hội và các cộng đoàn hằng  luôn luôn chăm chú lắng nghe tiếng Thiên Chúa nói qua những  niềm vui và những ước vọng, qua những khổ đau và  những lắng lo sợ hãi của nhân loại. Những  gì đang xảy đến trong thế giới, đó là chính những  gì làm nên đấu trường thử thách mối hiệp thông  của chúng ta với Thiên Chúa. Vấn đề là ở chỗ  những hoàn cảnh trong thế giới bên ngoài có  thể trở thành một thử thách quá lớn đối với  những khả năng tinh thần của chúng ta, và như  thế, chúng ta gặp phải cơ nguy lạc mất hướng đi nội tâm.  Lúc đó, chúng ta trở thành như những người  đã bị xao động ngay khi mới gặp luồng gió đầu tiên thổi  lên; dĩ nhiên, bao giờ cũng có phản ứng, nhưng  họa hiếm mới xích lại gần sự sống nội tâm và ân sủng  bên trong.

 

Ngay từ buổi đầu cuộc sống con người, đã gặp thấy  tình trạng giằng co căng thẳng đó. Và cuộc đối đầu đấu  tranh với tình trạng ấy lại vẫn xảy đến mỗi khi  con người cảm nhận ra là mình được mời gọi  để sống cho Tin Mừng. Thế nhưng, trong thời đại này,  tình trạng căng thẳng ấy đã trở thành đặc biệt  nguy kịch. Lịch sử ngày nay thì diễn tiến mau lẹ,  những phát minh thì nhiều, những thách đố thì triệt  để, những khả năng thì hứng thú, đến độ ngay cả  đến những người sống đời chiêm niệm cao nhất cũng  cảm thấy hụt hơi, mất đi bớt thân tình gần gũi với  thực tại bên trong. Thế nên, trong những năm tới đây,  rồi sẽ gặp phải cơ nguy bị lèo lái điều khiển  từ bên ngoài và mất hẳn đi cái cốt lõi  của tâm linh, là nơi mà khôn ngoan đích thực tỏa  sáng rạng ngời.

 

Bởi vậy, có một mối nguy đang đe dọa chúng ta; mối nguy  đó là đà đổi thay đường hướng, lấy "lối chỉ  đạo bên ngoài" thế cho "cách chỉ đạo bên trong,"  và đi từ chỗ làm những người cùng  với Thánh Linh sáng tạo nên cuộc sống mới, đến chỗ hóa  thành những kẻ đối kháng chống lại tất cả  những gì xảy ra chung quanh mình. Có thể là tình  trạng căng thẳng đó là một lời nhắc nhở xây  dựng cho nhớ lại rằng Thiên Chúa thì vĩ đại hơn những  con tim bé nhỏ của chúng ta nhiều. Vấn đề là ở  chỗ tình trạng căng thẳng có thể làm cho óc bén nhạy  mất đi, và có thể là lúc đó chúng ta sẽ bị thông  tin, chuyển động và tiếng ồn làm cho tê bại đi, để  không còn biết lưu tâm gì tới sứ mạng hợp tác với Thiên  Chúa hầu xây dựng Nước Ngài.

 

Ngày nay, đà đổi thay "hướng ngoại" mất quân  bình kia đã dẫm tới mức đặc biệt nguy kịch, bởi  lẽ những tiếng nói liên tục vọng lên và những  biến cố không ngừng xảy ra giữa cuộc sống chúng  ta, thường thì không phải là những tiếng nói  hay những biến cố tự phát, có sức sáng tạo, khôn ngoan,  khả dĩ xây dựng tốt đẹp cho con người hay cho cộng  đồng xã hội, qua khổ đau hoặc niềm vui. Hầu hết những  tiếng nói thường nghe ngày nay, đều bị kiểm soát, đều  do khiêu khích mà nói lên, đều đã được xếp đặt trước  và chỉ là sản phẩm do thế giới đồng tiền làm  ra. (Chính thế, ông thần tài cũng có dư sức để gây  ra cảnh đại náo.) Thế giới đồng tiền sẽ tiếp tục  công bố tin mừng về thị trường toàn cầu, hoặc  về các phương tiện truyền thông, hay là về các ý thức  hệ đang tranh giành nhau kiểm soát trí não của người  thời nay. Thường xuyên, chúng ta phải đối diện  với những thách đố nêu lên từ phía các khả năng  mới thuộc lãnh vực nhân bản và kỹ thuật,  đòi chúng ta phải tán đồng và ủng hộ. Trong  khi đó, chúng lại giấu bặt đi những vấn đề thực sự đi  kèm theo, chẳng hạn: Những khả năng kia sẽ  được phát triển và hưởng dùng theo một mô mẫu  nào của cuộc sống con người hoặc của cuộc  sinh tồn trái đất? Có phải mô mẫu đó là mô mẫu  của chia sẻ toàn cầu (cho mọi người được hưởng  dùng) trong niềm tôn trọng sự sống và trong lối sống  bình dị hay không? Hay đó chỉ là một mô mẫu khuôn rập  theo lối xử dụng và lạm dụng tài nguyên cách  ích kỷ và bất nhân? Chúng ta có đang gia công xây  dựng một thế giới nhân bản thấm đặm tình người cho  các thế hệ ngày mai hay không? Hay là đang chồng chất  lên vai cháu chắt chúng ta những món nợ phải trả  cho kiểu sống tiêu thụ cẩu thả hiện nay của chúng  ta? Ngoài ra, những tiếng nói vọng lên như thế, cũng  có thể là những phát ngôn tôn giáo đưa ra để hứa  hẹn mang lại cho một "cuộc sung mãn thiêng liêng"  có ngay tức khắc (hưởng liền/instant "spiritual fulfillment ");  nhưng làm thế là thủ tiêu mất đi con đường  tập luyện lâu dài của mọi cuộc trở lại đích thực.

 

Chúng ta cần phải dành nhiều chú tâm hơn cho con tim  và cho sự sống, cho phía phải (lẽ phải) lý  của trí não và cho việc nẩy sinh an bình mà  đớn đau của lòng trắc ẩn từ bên trong. Còn  có những tiếng nói khác cần phải được lắng nghe,  luôn được Thiên Chúa để ý lắng nghe, và chỉ có thể nhận  ra cho đúng được khi biết lắng chìm vào trong cõi thâm  sâu của tâm hồn. Linh đạo Kitô giáo dành cho thời  đại chúng ta, có sứ mạng phải mở rộng những cặp  tai liệt cóng của chúng ta ra lại để chúng ta có thể  nghe được những gì Thiên Chúa đang làm (Ephatha ,  Mc 7, 34), và nhận ra những gì Ngài đang nhìn thấy.  Linh đạo là ý thức, là lắng nghe, là được tác  động và tăng cường sinh lực, là được Thánh Linh  hướng dẫn đến chỗ dấn thân sống theo Tin Mừng.  Nhưng trước tiên, cần phải biết bắt đầu lắng nghe tiếng nói lặng thinh của những người mà cả  cuộc sống là không gì khác ngoài một lời phán  ra từ miệng Thiên Chúa.

 

-- " Người nghèo , mà dưới rất nhiều dạng  thái khác nhau, chúng ta thường gặp thấy trong thế giới  tiên tiến ngày nay, một thế giới giống một cuộc chạy  đua hơn là một ngôi làng toàn cầu; những người  đó là: " Những người ốm yếu, bệnh tật, không  có gì ngoài hai bàn tay trắng...những kẻ thiếu  ngay cả sức để đặt chân vào cuộc đua, vì ngay từ  đầu, tình cảnh thiếu thốn về tài chánh hoặc về mặt  tâm thể lý đã loại họ ra mất rồi. Những "người  thua" của cuộc đấu. Những người như thế cứ  thấy càng ngày càng tăng nhiều hơn, và xem  ra họ còn tiếp tục tăng thêm nhiều hơn nữa. "  Những "người làm công bị áp bức": hầu hết  những người đó không bao giờ có được phần thắng,  và cũng không bao giờ được coi là thua cuộc  cả. Người ta cần giữ cho họ khỏe đủ để  còn tiếp tục chạy mãi ở trong cuộc đua không bao  giờ cùng.

 

-- " Những người già , các trẻ em , những người trẻ , tức là những người  đã bị mất đi mối tương liên giữa các thế hệ, là  yếu tố đã từng giữ cho cộng đồng toàn thể  được lành mạnh, được no ấm, được săn sóc, được cảm  thấy thuộc về nhau và được hưởng cùng một tiến  trình liên đới xây dựng hỗ tương nhằm giúp nhau đạt tới  mức trưởng thành, có trách nhiệm cùng tinh thần  hợp tác. Ngày nay, họ là những thành phần  mới của những nhóm nằm bông lông bên lề xã hội,  mất hết cơ may cùng với những người khác, phát  huy cá nhân của mình theo một đường lối có tổ chức.  Người già bị coi thường, mất giá, bởi phần  đóng góp đầy ý nghĩa của họ cho xã hội đã bị  chối bỏ. Trẻ em thì bị "đóng hộp" vào trong  khuôn khổ của một hệ thống tiền chế giả tạo, bắt  ép chúng phải lo điều chỉnh vận mạng của mình sao cho  đúng với một số kiểu mẫu và mục tiêu đã đề  ra sẳn. Người trẻ thì đang ra sức đánh trận đánh cuối  cùng và duy nhất của họ, để dành cho được  quyền nói lên giấc mộng đã vỡ của mình, giấc  mộng trở thành những trung tâm điểm độc đáo của  sự sống và của khả năng sáng tạo, trước khi đành  chịu bỏ cuộc để mất hút vào trong lực lượng nhân  công để dùng hoặc là vào lớp người thất nghiệp  kinh niên.

 

--" Giới phụ nữ : rốt cục, tại nhiều nơi trong  thế giới, tiếng nói của họ đang được lắng nghe. Có thể  tự hỏi tại sao trong Giáo hội, phụ nữ chưa cảm  thấy là họ được lắng nghe. Họ không đòi cho có chức  phận, quyền hành hay quyền đại diện tượng trưng. Điều  rõ ràng họ đang đòi, là làm sao cho có  được khôn ngoan toàn diện hơn . Lắng nghe phụ nữ  là một hoạt động thiêng liêng, là một tiến trình  học hỏi về Thiên Chúa và Nước của Ngài. Thái  độ lắng nghe ấy đòi chúng ta phải có tâm lòng  thanh thoát để đừng còn bị ràng buộc bởi những  quan niệm và hình ảnh hẹp hòi, giản lược, ngột  ngạt về cả nữ giới lẫn nam giới. Cần phải  bỏ lại đằng sau những cơ cấu mang tính chất lệ thuộc  về mặt thiêng liêng và hành chánh, để tiến đến chỗ  sống thực con người mới, là chính Đức Kitô sống động  nơi mỗi người chúng ta; cần phải bỏ lại đằng  sau thái độ thiếu tôn kính và đánh giá thấp phụ nữ,  không đúng như họ đáng phải được, thái độ nói lên một  hình thức chối bỏ nhân phẩm con người nơi họ, chối  bỏ khả năng phục vụ và biểu tượng hóa của  họ, để tiến tới chỗ nhận ra rõ gia đình của Thiên  Chúa, trong đó, mỗi người đều góp phần của mình theo mức độ các ân huệ Thánh Linh ban cho. Và muốn được  như vậy, thì cần phải có một cuộc trở lại tinh thần  ở nơi mỗi người chúng ta, trở lại với thái  độ "lắng nghe cho chăm chú," "cảm nhận qua chiêm  niệm" và "khẳng định cho hào hiệp như Đức Kitô."

 

-- " Trái đất cũng có một tiếng nói mà từ  lâu chúng ta đã không để tai lắng nghe. Và bây giờ,  chúng ta đang bắt đầu lắng nghe "tiếng kêu gào của  môi sinh," niềm thống khổ của Mẹ Đất trước cảnh  tàn phá quy mô làm tiêu tán đi rất nhiều sinh lực  của mình và trước nỗi lo âu cho số phận của  những gì còn lại. Nhờ một số ít những người  và những nhóm có năng khiếu tiên lượng cảnh giác,  chúng ta bắt đầu nhận ra rằng tuyệt đối, chúng ta đã không "giống Thiên Chúa" chút nào khi chỉ biết  lấy thái độ tàn nhẫn, khinh suất của những  kẻ chỉ biết gieo rắc chết chóc ác độc, mà đối xử  với các tạo vật khác trong công trình tạo dựng. Thử đọc  lại Kinh Thánh và nghe lại lời của Thiên Chúa  nói với chúng ta về tình bằng hữu, về việc chăm sóc  cho Trái Đất của Ngài, về thái độ tử tế đối  với loài vật, về những ước mơ chung sống hòa bình  với toàn thể tạo vật, ngõ hầu Địa đàng đánh mất  sẽ không mãi mãi mất đi. Thánh Phaolô đã nghe  thấy tiếng kêu gào ấy của vũ trụ và đã  ngay từ đầu, nhận ra phẩm giá của nó, một phẩm giá  được gắn liền với với chính cuộc hiện hữu của Đức  Kitô (Rm, Cl, Eph). Thánh Phanxicô thành Assisi và nhiều  vị thần bí khác cũng đã nghe và thấy điều đó.  Chúng ta đã và còn chậm trễ, chần chừ  không chịu lắng nghe và đổi thay não trạng. Chúng ta  chưa đủ sức để thấy và để hiểu rằng tiếng kêu gào  ấy của Trái Đất chính là của chính thị xã chúng  ta đang ở, một tiếng kêu vọng lên từ sự khôn ngoan  tiềm ẩn trong lãnh vực di truyền học, trong vũ trụ  và trong lịch sử, khôn ngoan mà vì thương yêu và  quan tâm tinh tế, Thiên Chúa đã kiên nhẫn xây đắp  nên bên trong toàn bộ công trình tạo dựng.

 

Đây là lúc cần quyết định phải lắng nghe những  tiếng nói nào, cũng như cần lựa chọn xem phải  lắng nghe như thế nào. Sức ép từ bên ngoài thì  rất mạnh, và có vẻ như là đòi phải ứng  đáp ngay lập tức cho những thị trường giả tạo ngày  nay. Khôn ngoan tinh thần của các truyền thống Kitô và  Châu Á nhắn nhủ chúng ta là nên dành nhiều  chỗ hơn nữa cho con tim, và nên cả dám để cho  tinh thần đảm nhận trở lại vai trò lãnh đạo  nhằm xây dựng một lối sống đúng như Lòng Thiên Chúa  mong ước. Cần phải kháng cự lại sức ép, và tiếp  tục rút ra từ những cõi thâm sâu bên trong, cái  khôn "cũ và mới" mà cống hiến cho thế  giới.

 

Đã ở vào một thời điểm như thế, thì tất yếu  chúng ta có bổn phận phải triệt để rút tỉa cho được từ  bất cứ một nguồn suối nào có khả năng mang lại đà  hứng khởi sinh động, những bài học kinh nghiệm  hữu ích và cần thiết. Cuộc hành trình nội tâm  hướng về tương lai phải là một cuộc hành hương  toàn diện (bao gồm mọi khía cạnh và lãnh vực cuộc  sống). Ánh sáng cần thiết cho công tác, phải tỏa  đến từ mọi nguồn suối. Không thể quan niệm về một thời  đại tinh thần mới mà không nghĩ tới việc cần thiết phải  xây dựng nó trên cơ sở của tiến trình đối thoại với  các nền văn hóa và các tôn giáo của Châu Á.  Hễ càng mở rộng chân trời của chúng ta ra, thì những phạm trù có tính cách giới hạn và  giản lược, sẽ mất hết ý nghĩa, và chúng ta sẽ  được mời gọi để chấp nhận như là món quà Thiên  Chúa gửi đến, không những các nền văn hóa và  các tôn giáo được coi là "lớn," mà hết thảy  mọi nền văn hóa và mọi tôn giáo, vì trong đó, có thể  còn tiềm ẩn một món quà nào đó của Thiên  Chúa, đang chờ đợi chúng ta phát hiện.

 

 5. NHỮNG CON NGƯỜI MỚI ĐANG XUẤT HIỆN?

 

 Nhiều cuộc phân tích về đời sống tân tiến và hiện  tượng biến đổi, đang cố tìm cho biết những gì đã xảy  đến cho các cá nhân từng chịu ảnh hưởng của  chúng. Khỏi cần phải nói thì ai cũng đều biết  rằng bàn tới linh đạo (đường lối tu đức) là phải  đối diện với một vấn đề gai góc. Ai là người sẽ  thực hiện cuộc hành trình? Con người Châu Á hiện  đại có còn giống con người sống hai thế hệ trước  đây không? Con người mới có được trang bị đủ để đương  đầu với tương lai bấp bênh và đầy thách đố hay không?  Khi bàn về những đường lối thiêng liêng khác nhau,  chúng ta nghĩ tới loại người tinh thần nào? Và  đây, một lần nữa, thực trạng đa dạng của các dân  nước, các nền văn hóa và các hoàn cảnh khác  nhau tại Châu Á không cho phép dựng lên một mẫu người  máy " dù là tinh vi " để rồi từ đó rút  ra những kết luận cụ thể. Nhiều lắm là chỉ có thể  nêu ra một số đặc nét chung để rồi cuộc bàn thảo  tiếp theo sẽ vén mở cho thấy những khác biệt hoặc  mâu thuẫn phát hiện trong kinh nghiệm cùng nhận định  của các địa phương hay các vùng. Dù sao, ai cũng  đều đã rõ là có tinh vi và hữu ích đến  mấy đi nữa, thì các kiểu mô mẫu và các lối xếp  loại vẫn không bao giờ có thể biểu đạt con người  cho đầy đủ được. Ở đây, chỉ xin nhận định về ba  khía cạnh.

 

 A .Những con người mới lớn lên tại Châu  Á nhận thấy là họ đang sống trong một thế giới sẳn  sàng cung ứng cho mình những khả năng dồi dào  chưa từng thấy bao giờ, và mở ra trước mắt  mình hàng loạt những triễn vọng, những cơ hội  để lựa chọn. Kỹ thuật, kinh tế, truyền thông, khoa học,  nghiên cứu... làm như đang tiến vào những chân  trời phát triển và sáng tạo không biên giới. Dĩ nhiên  là không phải tất cả mọi người đều thông  phần như nhau vào trong các khả năng và triển vọng  ấy; nhưng chắc chắn là phần lớn các người trong họ  sẽ mơ ước được như vậy, và để cho ước mơ ấy làm  động lực của đời mình.

 

Điều đó cũng có nghĩa là các con người kia sẽ  bị bắt buộc phải thường xuyên chọn lựa, phải quyết  định điều này hay điều nọ trong những điều có thể.  Họ cũng sẽ phải quyết định ngay cả việc chính  mình đích thân làm cuộc chọn lựa hay để người khác  " chẳng hạn như là các chính trị gia, các hãng xưởng  lớn, hoặc là các vị lãnh đạo tôn giáo " làm  thay cho mình. Nhưng, càng ngày họ càng nhận ra là  các sự việc trong đời họ không còn phải là  những chuyện dĩ nhiên như trong quá khứ.

 

Sự kiện đó cho thấy rằng con người mới sẽ sống trong  những điều kiện gò ép rất khắt khe, chẳng hạn như  là: phải nhất thiết quyết định, có khi phải quyết  định cả đến vấn đề sống hay chết, điều mà trước kia,  không một ai bị ở vào thế phải quyết định một  mình cả; phải thường xuyên cập nhật hóa cuộc sống  của mình, phải làm quen với kỹ thuật mới, với  những loại máy vi tính mới, với những dụng cụ mới;  phải hấp thu hàng đống những tài liệu, những  chỉ dẫn giải thích, rồi phải lo mà quên bẵng  chúng đi ngay khi không còn hữu dụng, để có đầu óc  mà hấp thu những điều mới; phải sản xuất,  phải kiếm tiền để sinh sống, phải cạnh tranh. Nói  cách khác, con người mới phải là con người  mạnh mẽ, nhanh nhẹn, dẻo dai, dễ thích nghi và  giàu tưởng tượng, thì mới có đủ điều kiện để  vui hưởng thời đại mới này được.

 

 B. Đồng thời, con người đang thành  hình ấy cũng sẽ bị tước đoạt thê thảm để  không còn có được những điều mà trong những  thời đại ngày trước, đã từng mang lại ý nghĩa,  mạch lạc và chủ đích cho cuộc sống. Các nhà xã  hội học đã có bàn đến loại "tâm trí vô gia cư,"  tức là loại người không có những huyền thoại  để thống nhất cuộc sống, để nhận ra mối liên hệ của  mình đối với quá khứ hay với tương lai. Những huyền thoại  thời mới này chỉ là những bản sao các chuyện  cũ, nhưng có cái khác là chúng không có giá, không  có sức thuyết phục, và không được cộng đoàn chấp  nhận như những chuyện ngày trước đã từng có  được. Huyền thoại thời mới thuộc loại sống yếu chết  yểu giống như những kiểu sống thời thượng và những  mục tiêu mà chúng thể hiện.

 

Các con người mới sẽ phải sống trong tình cảnh  thưa thớt xác tín. Cảnh trạng đa dạng và tính cách  nhất thời của cuộc sống ngày nay làm cho hầu  hết những điều thường được nhận là chắc chắn,  trở thành như là tương đối. Và đó không phải  là một hình thức tương đối hóa lành mạnh phát sinh  từ những nổ lực suy tư sâu sắc về những bí nhiệm  kỳ diệu của thực tại; mà thường chỉ là  một thái độ nói lên thực trạng thiếu khả năng khảo  sát, nghiên cứu và suy nghiệm, thiếu khả năng cân  nhắc " trong thầm lặng một mình hay theo phương thức cộng  đoàn " những sự thật sâu sắc tiềm ẩn nơi di sản  khôn ngoan giữa nhân gian và trong các cơ cấu muôn  thuở của cuộc sống loài người. Điều đó sẽ  làm phát sinh ra nhiều nỗi lo âu mới, và càng  làm cho nhiều người cảm thấy thấm thía hơn tình  cảnh lạc lõng vô gia cư của mình.

 

Chiều kích siêu việt cũng phải chịu ảnh hưởng  thảm khốc của tiến trình này. Các xã hội tân  tiến tại Châu Á hiện đang nhan nhản trưng bày cho  thấy con người mới, một mẫu người cả đời  ngụp lặn trong những đòi hỏi của nhu cầu sản  xuất đến độ không còn có thể tìm ra thì giờ cho những  thực tại tinh thần, cho chiều sâu và bầu khí tĩnh mịch,  cho một ánh nhìn hướng thẳng vào trong chính thực tại siêu  việt đã từng làm nên kho tàng đặc trưng của  Châu Á, để thế giới phải khâm phục và ngưỡng  vọng. Chịu cùng một cảnh mất mát giống như chiều kích  siêu việt là ý thức về tính chất thánh thiêng trong mọi  sự vật, là chiều kích nội tâm ẩn tàng của tinh  thần tôn giáo truyền thống, là toàn bộ những  sức năng chữa trị và truyền lực, tiềm ẩn trong các  giá trị ấy.

 

 C. Sau cùng, các con người mới là  những người có sẳn những khả năng và triển  vọng dồi dào như chưa từng thấy, nhưng lại bị tước  đoạt mất đi chính bản ngã sâu thẳm của mình, và  vì thế, họ sẽ là những con người yếu đuối  hơn nhiều ý thức về phẩm giá riêng  của cá nhân bị giảm thiểu đi, và sẽ nắn đúc  nên loại người tiêu thụ.

 

Sức ép của tập đoàn từ phía những người  đồng trang đồng lứa, từ phía các nhà chính trị, từ  phía công ăn việc làm hay các hiệp hội tôn giáo, có  thể ảnh hưởng nhiều đến những người yếu bản  lĩnh như thế. Nhu cầu thuộc về một đoàn nhóm, một tổ  chức có thể dễ dàng biến thành con đường dẫn  tới quá khích. Nếu biết cách đưa ra những phần thưởng  hưởng được ngay, và những câu giải đáp đơn  giản cho người thời nay, thì các tôn giáo hoặc  giáo phái mới và những huyền thoại mới cũng có  thể có sức hấp dẫn rất lớn đối với những người  sống trong tình cảnh vừa nói.

 

Nỗi lo sợ phải làm những cuộc cam kết dấn  thân lâu bền sẽ tiếp tục kéo dài và sẽ có  thể trở thành to lớn hơn. Nếu không được giải  quyết êm đẹp, thì những khó khăn trong lãnh vực các  mối tương quan liên bản vị cọng với những dồn ép của  tuổi tác, sẽ làm cho khó mà đạt đến được mức  trưởng thành trong tiến trình phát triển con người.  Không có sự trợ giúp của một cộng đoàn, của  một nền văn hóa, hay của chiều sâu nội tâm, thì những  hành động dấn thân như vậy xem ra chẳng khác chi một cuộc  hành trình băng đồi vượt núi, làm cho nhiều người  sợ hãi lẩn tránh. Những con người thời nay  thì rất giòn mỏng về mặt tâm lý. Đối với họ, lời  Thiên Chúa mời gọi đến và nghỉ lại nơi Ngài, có  một ý nghĩa và một tầm trọng yếu mới. Nhưng làm sao  để làm cho điều đó trở thành một lối sống? Đó  là một trong những vấn đề then chốt đặt ra cho Giáo  hội của thập kỷ 90 này.

 

 

 6. MỘT LINH ĐẠO CHO THẬP KỶ 90

 

A. Nhận định tổng quát

 

 Linh đạo cần tới phải có đủ khả năng để ứng  đáp cho cả hai chiều kích của các nhu cầu ngày  nay, tức là: một đàng, phải đủ sức đương đầu  với những thách đố, những vấn đề, những đổi thay  và cơ nguy mà thời đại mới với những bước  phát triển đi kèm theo, mang lại; và đàng khác,  phải đủ sức đem lại ý nghĩa và làm nguồn trợ  lực cho mẫu người " xét theo cá nhân riêng rẽ  hay theo dạng thức nhóm đoàn " đang xuất hiện/có mặt  ở giữa chúng ta. Linh đạo ấy có sứ mạng phải  đóng góp cho việc thực hiện một tiến trình hội nhập nhất  quán và có ý nghĩa của những nhu cầu, những  yếu nhược cũng như những năng lực của họ.

 

Linh đạo ấy phải biết rút tỉa kinh nghiệm cần thiết từ  hết thảy mọi mguồn liệu sẵn có, tức là từ các  truyền thống Kitô cũng như Châu Á, cũ cũng  như mới, đại chúng cũng như thần bí. Ngày nay, chúng  ta nhận ra với một mức độ bức thiết mới, tầm trọng yếu  của lời Tin Mừng khen người khôn ngoan biết  lấy từ kho tàng phong phú của mình, những viên  ngọc khôn ngoan cũ cũng như mới, ra mà dùng  khi cần (Mc 13, 52). Vô số những nhu cầu, kinh nghiệm và  hoàn cảnh khác nhau trong cuộc sống của người  dân và của các Giáo hội, đòi buộc chúng ta phải  biết để mọi lối ngõ sẳn sàng rộng mở mà  đón nhận ân sủng cùng đường lối chỉ đạo của  Thiên Chúa hằng thông ban xuống cho cuộc đời chúng ta.

 

Linh đạo mà các thập kỷ sắp tới cần đến, đã  thật sự có mặt quanh đây rồi, đã được phát hiện, đã  được cấu tạo, hoặc tắt một lời, đang được sống thực  nơi các cộng đoàn và các cá nhân. Linh đạo không  phải và không thể là chuyện xếp đặt theo phương  án: linh đạo phún trào ra từ bên trong, từ nội  tâm, và tại Châu Á, thì thực sự nó hiện đang phún  trào lên, khi mà người tín hữu và những  người thiện tâm thiện ý ứng đáp theo chiều kích sâu thẳm,  những thực tại trong thế giới và giữa xã hội.

 

Đó là điều hết sức quan trọng, bởi vì nó chỉ cho thấy  một số những cách thức xử sự mà người ta  đang chờ đợi từ nơi các vị lãnh đạo Giáo hội.

 

1. Trước tiên, chúng ta cần phải học ở nơi đời sống tinh thần của những người  phải hụp lặn giữa xã hội tân tiến ngày nay  tại Châu Á mà vẫn dấn thân sống trọn vẹn một  đời sống đức tin đầy sáng tạo. Họ có mặt trong nhiều  lãnh vực khác nhau của cuộc sống xã hội, trong  một số các phong trào, các nhóm, hay chỉ đơn giản sống  cuộc đời chứng tá hằng ngày của họ.

 

2.Chúng ta cần phải tán trợ những  sáng kiến, những phong trào và phương án như thế:  những cố gắng ấy hiện đang gặp khó khăn và hiểm  nguy không ít khi bắt tay đối thoại với các tôn giáo hay các  ý thức hệ khác cũng đang cùng nhau đi tìm một chiều  kích sâu sắc hơn nữa trong việc cầu nguyện, trong cố gắng  thấu hiểu về tôn giáo, hay trong công tác dấn thân đem lòng  thương mà phục vụ trái đất và các dân tộc sống trên  trái đất.

 

3. Chúng ta cũng được mời gọi để cổ  vũ, ủng hộ những tiến trình và những  cách thức giúp nhận định theo phương pháp Kitô, đang được rất  nhiều nhà chuyên môn công giáo lưu tâm nghiên cứu và  đẩy mạnh nhằm ứng dụng rộng rãi vào trong thực tế.  Làm sao để có thể nhận định theo tinh thần Tin Mừng,  trong những vấn đề liên quan đến vô số lãnh vực,  kể từ các vấn đề sinh nguyên học (biogenetical) cho đến các vấn đề phế liệu hạt nhân hay thương mại quốc  tế: đó là một vấn nạn đang đè nặng trên lương tâm  của rất nhiều người chân thực. Có lẽ chúng ta  nên đặt nhận định thành một trong những điểm chủ  yếu của chương trình Giáo hội hiện đang đề ra cho công  tác giáo dục đức tin và huấn luyện thiêng liêng.

 

4. Dĩ nhiên, chúng ta cũng phải tiếp  tục cổ vũ cuộc đối thoại đang tiến hành ở  mọi cấp bậc, với các tôn giáo khác, và đặc biệt là  thái độ mở rộng đang có đối với đà hướng dựa theo  tinh thần Kitô mà thử nghiệm những hình thức cầu  nguyện và những lối tu tập khổ hạnh đã từng  giúp cho không biết bao nhiêu người Châu Á trong quá  khứ, đạt được tới trạng thái giác ngộ, có được tự do nội  tâm và biết lấy lòng nhân hậu dấn thân phục vụ  cho những điều hay lẽ chính, cho công lý công ích.

Không cần phải nói, thì cũng rõ là những  tiến trình bàn đến trên đây phải được đặt cơ sở  trên những chương trình huấn luyện tinh thần tốt. Cần phải  dựa theo ánh sáng ấy mà xét lại đường lối dạy giáo  lý của chúng ta, đặc biệt là giai đoạn khai tâm; trong  đó, cần phải biết dành chỗ cho việc dẫn nhập  khéo léo vào cách thức cầu nguyện; vì cầu nguyện sẽ  dạy cho biết phải làm thế nào để lớn lên trong  Đức Kitô, để được đổi mới, để dùng chính hành động  mà nội tâm hóa Tin Mừng thành cuộc sống của  mình, nội tâm hóa cả nội dung lẫn phương pháp của  chính việc cầu nguyện. Cũng còn cần phải xét lại  cả đời sống bí tích của chúng ta nữa, làm  sao để cuộc hành trình bí tích qua tưởng nhớ và  biến đổi, nhờ bởi Đức Kitô, ôm trọn và hướng  dẫn được cuộc hành trình lịch sử của những  năm sắp tới.

 

Niên lịch các ngày lễ mừng cũng cần phải  được tổ chức sắp xếp lại làm sao cho có thể nói lên  được ý nghĩa biểu tượng của mầu nhiệm kitô một cách  quân bình hơn. Ý nghĩa sâu sắc tiềm ẩn trong tình phụ tử-mẫu  tử của Thiên Chúa đối với con người, mầu nhiệm  công trình tạo dựng, sự sống trong Thánh Linh, là những  chân lý đã không được tưởng nhớ, thể hiện và  ý thức cho cộng đoàn trong một cách thức cân bằng thích  đáng so với mầu nhiệm của Chúa Con, của Đức Mẹ và  các thánh. Sự việc nhiều người kitô hiểu biết và  ý thức rất ít về các mầu nhiệm cội nguồn truyền ban sự  sống ấy và mối liên hệ của chúng đối với trái đất,  về niềm tự do nội tâm và việc chiêm niệm thẳm lặng,  không phải là không dính dấp gì với sự việc họ đã  không được chỉ giáo cho biết sống chiều kích tập thể của  việc tưởng niệm qua các ngày lễ và các cuộc  mừng.

 

Cũng vậy, cần phải đào sâu và mở rộng  việc đọc Kinh Thánh. Có thể điều hiện nay đang cần là  biết đem những phương thức phong phú và rất khác nhau  trong việc nghiên cứu Sách Thánh, ứng dụng hài hòa  vào trong lòng ham chuộng và nổ lực học hỏi  Kinh Thánh của chúng ta, vì những phương thức ấy giúp  cho nhận ra Sách Thánh thật là nguồn suối mang lại ánh  sáng, nghị lực, hứng khởi và ủi an. Chắc hẳn công  tác thuyết giảng không phải là một khởi điểm  không đáng lưu ý tới trong một cuộc tiến công mới theo đường  hướng ấy.

 

Cuối cùng, linh đạo mà chúng ta đang kiếm tìm, sẽ  phải cần đến một thái độ quyết tâm trường kỳ,  đượm nhuần tinh thần cầu nguyện và tận tụy: quyết tâm  đem hết lòng mà làm bạn đường cùng đi với  vô số người kitô đang vướng mắc tứ bề ở giữa  những vấn đế phức tạp khó khăn trong các lãnh vực  kỹ thuật, công bằng xã hội, biến đổi chính trị, kinh  tế, các ngành công tác phục vụ, công ăn việc làm  và đời sống chuyên nghiệp. Cố làm sao để có thể  làm bạn đường cùng đi trong Chúa với họ: có lẽ  đó là một trong những công tác phục vụ có tính cách  đoàn sủng (charismatic) nhiều nhất mà Giáo  hội ngày nay đang cần đến. Qua công tác ấy, cả người  dấn thân trong cuộc lẫn người đồng hành, đều có  thể rút tỉa ra được kinh nghiệm về cách thức nhận định, rồi  nhờ đó, có thể mở ra những lối ngõ mới trong  tiến trình nhận định thiêng liêng, cho những người khác  cùng dõi bước theo.

 

 B. Linh đạo kitô là linh đạo ba ngôi

 

 Chúng ta đang tiến dần tới một tương lai vượt hẳn ra ngoài  những thứ biên giới cũ kỹ phân cách giữa  các dân nước, các nền văn hóa hay các ngôn ngữ. Những  thách đố gặp thấy thì có tính cách toàn diện, và  đòi Giáo hội phải có một câu trả lời toàn  diện, qua đó, có thể tìm thấy được những đường hướng  cụ thể. Muôn đời, câu trả lời toàn diện ấy  vẫn không là gì khác ngoài chính Thiên Chúa Ba  Ngôi. Chính từ mầu nhiệm ấy, những nguồn suối sâu  thẳm nhất của sự sống kitô phún trào lên, và  cũng chính từ đó, chúng ta tìm gặp được những nền  móng vững chắc nhất của cuộc đời chúng ta. Đồng  thời, cũng chính vòm trời toàn diện ấy  là thực tại khả dĩ bảo quản những truyền  thống tinh thần của các tôn giáo và các nền văn  hóa Châu Á, cũng như làm cho thấu hiểu được chúng  một cách hoàn toàn sáng tỏ. Chính nhờ mầu  nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi mà chúng ta tránh khỏi được  cám dỗ chỉ biết khăng khăng dùng cặp mắt cận của  những phạm trù và những cơ cấu chật hẹp mà  nhìn ra thế giới.

 

1. Thiên Chúa Cha là mầu nhiệm tại  gốc cội, mầu nhiệm chưa ai từng thấy, là nguồn mạch  mọi sự, là Đấng ban sự sống. Ngài là khởi  nguyên và là nguồn suối, là Đấng Tạo Hóa. Qua  công trình tạo dựng, chúng ta biết được rằng sự sống của  Ngài là sự sống trao ban chính mình ra dưới vô số dạng  thái rất khác nhau. Ngài tạo dựng và hiện diện nơi  tất cả mọi thể loại sự sống và mọi hình thức hiện  hữu trong vũ trụ. Truyền thống kitô dùng từ  ngữ Tình Phụ Tử-Mẫu Tử mà biểu đạt  mầu nhiệm khởi thủy đó. Là tín hữu, chúng  ta được mời gọi bước vào lặng thinh, cố gắng nâng  lòng lên và đem hết tâm hồn chiêm niệm, mà tiến  lại gần với mầu nhiệm ấy.

Nếu đã tìm cách để hiểu biết về những gì đang xảy  tới cho lục địa và cho các dân tộc Châu Á, thì bao  giờ cũng cần phải tự hỏi rằng: "Cái gì  hiện đang xảy tới cho mầu nhiệm của Châu Á?";  dĩ nhiên, đây không phải là thứ mầu nhiệm đã  được lãng mạng hóa theo kiểu tưởng tượng của Tây  Phương, nhưng là niềm cảm thức nghiệm thấy mình đang  chìm ngấm ở trong sự sống thần linh. Có phải vì chịu  sức ép của lý tính thời nay đè nặng mà chúng  ta đang đánh mất dần cảm thức ấy đi? Làm thế nào  để cộng đoàn kitô có thể góp sức vào việc đề cao  và đào sâu cảm thức ấy, cũng như mang nó vào  giữa niềm thông hiệp đượm tình chia sẻ trong vương quốc  của Thiên Chúa Cha? Ngày nay, chúng ta đang được mời  gọi để sống trung thực lòng tin chúng ta có, vào Thiên  Chúa Cha, và làm cho đức tin ấy sống mạnh dậy "  cả một cuộc hành trình thiêng thiêng là đấy "  trong một ý nghĩa mới của thái độ chiêm niệm đối với  hết thảy mọi thụ tạo, và trong ý thức về trách nhiệm  làm quản lý thế giới của Thiên Chúa; vì có thế,  chúng ta mới có thể nhìn rộng tiến xa hơn, vượt khỏi khuynh  hướng ích kỷ và lối nhìn thiển cận của chúng ta,  và mới có thể hợp tác vào trong trách vụ cao cả  thánh thiêng nhất, tức là góp phần xây dựng sự sống  dưới hết mọi dạng thể của nó. Tin vào và thực  thi ý muốn của Chúa Cha phải được biểu hiện qua niềm  ưu ái chăm lo cho người khác, cho trái đất, cho niềm cảm  phục và thái độ kinh ngạc trước sức năng phong phú của  nhân loại và của sự sống hiển hiện chung quanh chúng  ta: nơi các dân nước, các chủng tộc, các giới tính và  các nền văn hóa.

 

Một linh đạo đặt nền tảng trong Thiên Chúa Cha có thể  là phương thức tốt nhất để đề phòng chống lại mọi  thái độ nông cạn, mọi hình thức nói nhiều mà không sống,  mọi thứ não trạng hẹp hòi, cuồng tín hoặc vụ giáo  điều. Việc đề phòng ấy sẽ còn được củng cố  và tăng cường nhiều hơn, nếu chúng ta biết nới rộng  những hình ảnh biểu tượng về Thiên Chúa-Cha thường  được dùng, ngay cả trong Kinh Thánh, để đưa đến chỗ  quan hệ với Thiên Chúa như là với một Người Mẹ nữa.  Ngoài giới hạn của cuộc tranh luận đang diễn ra  ngày nay, để tìm lại những chiều kích nữ tính đã  bị thần học đánh mất đi, còn có cả một nền linh đạo  cần được hội nhập vào trong cuộc sống của chúng ta,  vì những thập kỷ tới đây sẽ hết sức cần đến  nó.

 

2. Đức Giêsu Kitô, Người Con , là  thực thể biểu hiện mầu nhiệm khởi thủy của Thiên  Chúa ra trong lịch sử, theo thể cách tiên tri (ngôn sứ).  Mầu nhiệm cơ bản của Thiên Chúa Cha đã mặc lấy  hình thái lịch sử qua cuộc sống đầy sức năng chữa  lành và tâm tình nhân hậu trong Đức Kitô. Giêsu có nghĩa là cứu độ, và đó là sứ mạng của  Ngài. Những gì loài người đã phá hủy  mất đi qua hành động phản đối của tội lỗi  và thái độ ích kỷ kiêu căng, thì đã được Người  Con phục hồi qua một cuộc sống tự hủy đến tột độ như  chúng ta đã biết. Thực kiện Ngài thể hiện sự sống  Thiên Chúa Cha theo thể cách tiên tri, đã tỏ rạng  rõ ràng nhất qua mối lưu tâm xót thương và cuộc  sống đồng hóa với người nghèo, người sống bên  lề xã hội, và người tội lỗi. Ở đâu  sự sống bị đe dọa trầm trọng nhất, thì ở đó Ngài  tuôn đổ tràn đầy tình thương của Ngài xuống, và  sự việc đó đã trở thành một dấu chứng mới đối  với những ai tin vào Ngài.

 

Cái mà tương lai đang đến trước ngưỡng cửa của Châu Á, sẽ đưa tới cho các dân nước tại đây, là  một bước tiến bộ phiến diện cùng với những hứa hẹn  toàn diện. Tuy nhiên, cho dù một số thử nghiệm  có thành công đến mấy đi nữa, thì "người nghèo  sẽ vẫn tiếp tục có mặt ở giữa chúng ta rất  ư lâu dài." Sức năng trị liệu, cũng như công lý  và ơn cứu độ sẽ còn không ngớt được cần tới,  dĩ nhiên là dưới rất nhiều thể dạng. Lời mời  gọi của Đức Kitô sẽ còn mãi là một lời  mời gọi thức thời và là nguồn suối phát nguyên  của sức tăng trưởng thiêng liêng cho tất cả chúng  ta. Câu ứng đáp lời mời gọi của Người Con  bao giờ cũng được nói lên bởi hành động tưởng  niệm (mà chúng ta hằng làm qua việc đọc Kinh Thánh  và việc cử hành các bí tích), bởi tinh thần  liên đới và thái độ dấn thân đầy ý nghĩa tiên tri (biểu  hiện những chân lý và thực tại siêu việt của  Tin Mừng). Đó vẫn là những gì đóng vai mấu  chốt trong thời nay, và vai trò ấy lại còn  trọng yếu hơn nữa trong tương lai. Những cuộc di dân  mới đây tại Châu Á, thấy được rõ tại các trại tồ  nạn và qua các đợt công nhân di trú, đang đặt ra nhiều  vấn đề về đầu óc thành kiến, về lối sống ích kỷ  và những hình thức dân tộc chủ nghĩa phi lý; để  giải quyết chúng và xoa dịu các vết thương chồng chất  từ ngày này qua ngày khác, tất phải cần  đến sức năng tràn đầy của tình liên đới, của  lòng trắc ẩn và tình nhân ái. Đàng khác, con số  ngày càng tăng dần của "những nạn nhân  trong cuộc chạy đua chiếm thành công" sống trong các  tầng lớp tiên tiến hơn, đang đổ đầy vào giữa xã  hội hàng khối phẫn uất, thất vọng và chán ghét  chính mình. Tình trạng sức khỏe hiện nay của các thành  thị chúng ta đang sống, là một tình trạng nguy kịch. Lời  Đức Kitô gióng lên để mời gọi mọi người trở  thành những môn đồ và những cộng đoàn  có sức năng chữa trị, là một lời mời gọi  khẩn trương và hoàn toàn thích đáng đối với thời  đại ngày nay.

 

Linh đạo đặt nền tảng như thế trong Chúa Con, cũng  là một tiếng gióng lên lời cảnh cáo phê bình  chống lại lối sống đặt cạnh tranh và lòng tham làm  mẫu mực, làm động lực. Đức Kitô sống động giữa  hiện tại, vẫn tiếp tục lên án hành động xúc phạm  đến sự sống con người, tức là những khi mà  thế giới loài người bị bất công và phá hoại bóp  méo mất hẳn đi diện mạo đến độ không còn phải là  nhà cầu nguyện nữa, mà thành hang động của  phường trộm cướp. Kitô học cũng lên tiếng tố giác  chủ nghĩa biệt lập và thái độ tự mãn, cũng  như tất cả những gì tiếp tay vào việc áp đặt hoặc  củng cố một "nền văn hóa vụ thành công."  Văn minh tình thương mà các vị Giáo Hoàng gần đây thường  nêu cao, sẽ cần đến bàn tay của nhiều người  Châu Á có cuộc sống khuôn rập theo mẫu gương của  Đức Kitô, để có thể trở thành hiện thực sống động  nơi các đất nước của chúng ta.

 

3. Thánh Linh là giòng sự sống  của Thiên Chúa tuôn chảy vào mọi thời và  trong mọi sự vật. Thần Khí là sức mạnh biến đổi, là  hành động tái tạo vũ trụ. Thần Khí là đức khôn  ngoan, là niềm vui, là vũ điệu và là mối  thông hiệp toàn vũ. Thần Khí không ở một nơi nào  cả, nhưng lại làm cho mọi sự được tràn đầy. Thần  Khí có sức năng kỳ diệu hòa tan chính mình vào  trong điều tốt điều lành, vào trong công trình tạo  dựng, vào trong tình yêu và cuộc lễ, vào trong  hành động chữa trị và niềm an bình. Thần Khí thấm  nhập vào trong toàn bộ thực tại, và qua hành  động ấy, Ngài giữ gìn cho thực tại được sống động,  xinh đẹp và có sức thu hút kêu mời tất cả chúng  ta đến với tự do, với cuộc mừng và với thái trạng  quan sát nhận định.

 

Thập kỷ 90 rất cần đến Thần Khí. Chỉ thử nêu lên  đây hai thực trạng đang kêu gào đòi cho có được một  lối sống "hướng theo Thần Khí" nhiều hơn. Thực trạng  thứ nhất là hiện tượng gia tăng "tâm trạng tiêu cực"  trong thế giới chúng ta. Cọng với các thiên tai và sự  kiện hiển nhiên của tội lỗi loài người, gần  đây, chúng ta lại còn thấy xuất hiện ngày càng  nhiều hơn, những hình thức mới của sự ác, như: ma túy,  khủng bố, tội phạm, thất nghiệp, tàn phá môi sinh  đến độ hủy hoại vô phương cứu chữa. Không thiếu gì  tác giả đã báo trước về một thời kỳ "suy  thoái văn hóa." Hơn bao giờ hết, chúng ta đang cần  có một kinh nghiệm mới về "Thần Khí sáng tạo." Thế  giới thì đang cần đến chứng cử của một Giáo hội sống  liên kết với Thần Khí và với sức năng của Ngài,  ngõ hầu có sức biến đổi những gì xem ra không thể  đảo ngược được, có sức đổi thay cách sống của chúng  ta thế nào để chận đứng đừng cho tâm trạng tiêu cực  kia trở thành một thứ quái vật ngày càng lớn  mạnh thêm lên, nhưng ngược lại, trở thành kích tố  làm cho những sức năng chữa trị của "Thần  Khí tái tạo" có cơ hội bừng dậy trong những người  tín hữu. Cần phải cho thế giới thấy rằng chúng ta  có thể "vũ theo điệu múa của chúng ta trên bước  đường tiến về tương lai," nhờ nhận được tình yêu  dư đầy Thần Khí ban xuống nhằm trang bị cho chúng ta. 

 

Hiện tượng thứ hai là hiện tượng liên quan đến những  "nỗi sợ hãi" về phương diện tâm lý và  văn hóa, do giai đoạn kết thúc của một kỷ nguyên  gây ra. Chúng ta đang bị những sấm ngôn bi quan chỉ biết  báo những điềm diệt vong, bao vây oanh tạc tứ bề. Trong  khi đó, thì chúng ta vẫn còn chứng kiến cảnh hăm  hở đi tìm nào là "những dấu kỳ điềm  lạ" như kiểu thời xưa, nào là những thứ  đai an toàn khả dĩ che chở cho khỏi những  biến cố kinh hoàng sắp xảy đến. Trong Giáo hội, chúng  ta được mời gọi để nêu cao một kinh nghiệm sống tươi sáng  và trung thực về Thần Khí, là Đấng có đủ năng  quyền trợ giúp làm cho chúng ta biết đem hy vọng và  can đảm mà đương đầu với tương lai bấp bênh. Cần phải  cởi bỏ đi thái độ coi trọng những dấu kỳ điềm  lạ, để mở lòng ra cho những dấu chỉ thật sự của  Thiên Chúa hằng sống ở nơi các tâm hồn, ở nơi thái  độ ưu ái quan tâm của các cộng đoàn và ở  nơi cảnh trạng công lý và hòa bình trong thế giới  nhỏ bé của chúng ta.

 

Và như thế, linh đạo đặt nền tảng trong Thánh Linh,  là thực sự liều thuốc giải độc cho chủ nghĩa đặc  thù, cho tình trạng suy thoái, thất vọng và chán nản.  Linh đạo ấy sẽ động viên con người lấy cuộc sống  xuất phát từ những chiều kích hân hoan của niềm  thông hiệp với tất cả những gì là sinh động, mà  phản kích lại các lực lượng phá hoại; vì trong cuộc sống  ấy, chúng ta gặp được và đón mừng sự hiện diện của  Thần Khí Thiên Chúa. Thánh Linh sẽ vạch trần chủ trương  sai trái của những ai cố biến thế giới đã được  tạo dựng nên cho muôn chim, cho muôn hoa và cho muôn bữa  tiệc tạ ơn, trở thành một chiếc máy siêu đẳng  (super-machine).

 

 Bởi vậy, có thể nhận ra được rằng Thiên Chúa Ba Ngôi  tiềm tích trong Ngài và biểu hiện cho thấy những  con đường rộng thênh thang của cuộc hành trình đi  xuyên qua thời đại sắp tới. Tầm vĩ đại của tất cả  những điều đó là ở chỗ những gì trong thực  tế, chúng ta đã phân chia ra để xem xét nhận định, đều  chỉ là một; rồi vì đã được sống theo chiều sâu và  qua thông hiệp, nên trong thực thể ấy không có một lằn mức  phân cách nào cả, vì cả ba chiều kích đều cuộn  trào hòa lẩn vào nhau. Chính ở trong tình trạng  tương nhập ấy, mối hài hòa theo truyền thống Châu  Á sẽ phát hiện ra được những khả năng và  cơ hội sáng tạo mới.

 

 C. Để phục vụ con người mới đang xuất hiện

 

 Sau hết, xin có một nhận định gửi đến cho những người  mà chúng ta muốn được cùng đi với trong lộ trình tinh  thần xuyên qua thập kỷ sắp tới. Nếu hiểu đúng, thì chúng  ta đang nắm một trách vụ lớn trong tay. Chúng ta có bổn phận  phải ứng đáp cho nhu cầu cần có một hệ thống cấu trúc  mới, một toàn bộ, một tổng thể mới có khả năng  hội nhập, làm khuôn khổ cho việc phát triển đời sống  kitô. Nếu những người nam những người nữ  thời nay đang càng ngày càng cảm thấy mình  bơ vơ hơn, càng trở thành "vô gia cư" hơn  trong thế giới mới này, thì đây là lúc cần phải cống hiến một mái ấm tinh thần mới, nơi đó, họ cảm nhận  ra được bầu khí niềm nở tiếp đón với những điều kiện  thuận lợi và thích đáng cho đời sống con người.

 

Dĩ nhiên, không có chuyện quan niệm về một hệ thống đã  được lắp ráp đầy đủ để sẳn sàng thay thế cho một  hệ thống đã lỗi thời. Những hệ thống kiểu  đó không bao giờ có thể áp dụng cho được vào trong  thực tế, và nếu chúng có mang lại được một lợi ích nào,  thì " ít nhất mà nói " lợi ích đó cũng chỉ có  tính cách mơ hồ, nước đôi mà thôi. Kitô hữu là  những người đang đi trên đường, là những  lữ hành đang tiến về Núi Thánh. Mái ấm tinh thần  chúng ta cần, phải rất giống chiếc lều đóng trại dùng  cho một cuộc hành hương lâu dài cùng đi với Thiên  Chúa. Tuy nhiên, đó là một ngôi lều có sức ủi an,  che chở và là nơi gặp gỡ với Thiên Chúa. Và  lộ trình kia phải là một linh đạo mềm dẽo, cởi  mở, bén nhạy đối với mọi dấu chỉ và mọi dạng thức  hiện diện của Thiên Chúa, cũng như đối với tất cả  những gì là tốt đẹp, là ánh sáng tiềm ẩn nơi  các truyền thống khác.

 

Một mái ấm như thế thì không thề nào là chật hẹp,  là có tính cách độc chiếm, là một chiều hoặc là  bị giới hạn bởi chủ hướng vụ giáo điều được. Nó  phải được thoải mái giữa bầu khí đa dạng với nhiều  thể dạng và ngôn ngữ biểu đạt khác nhau, với nhiều  cách sống và giai đoạn phát triển khác nhau. Một linh  đạo cho con người Châu Á tương lai thì phải làm  sao cho giống như một "kho bảo vật," từ đó,  cộng đoàn cứ theo nhu cầu mà rút ra những gì cần,  và trong đó, luôn luôn có thêm mãi; hoặc là giống  như khi Đức Giêsu ăn với dân chúng trong sa mạc: khi mọi người  đã ăn no đủ như họ cần, các môn đồ vẫn có thể  thu lại được 12 thúng đầy bánh còn dư.

 

Đó cũng là lý do tại sao cuộc hành trình kia không  thể là chuyến đi của một trí tuệ biệt lập riêng rẽ  được, mà phải là một cuộc hành trình của  con tim biết hội nhập vào trong mối hiệp thông nó có  với Thiên Chúa, tất cả những gì trí tuệ khám phá  ra được. Những khi cùng nhau tụ họp lại để nói lên  đức tin của chúng ta, luôn luôn chúng ta cần dùng  đến những ngôn từ và những biểu tượng, những  quy tắc, những nghi thức và những bí tích; và  cố làm sao cho chúng trở thành những cách thức  biểu đạt dễ hiểu đối với người thời nay; tuy nhiên,  chúng ta cũng ý thức rằng chính Thiên Chúa mới là  mái ấm thực sự của chúng ta. Không, Lề Luật không có  khả năng để cứu độ; các hệ thống thần học cũng  không, cả đến các cuộc lễ có tính cách bí tích mà  cộng đoàn mừng kính, cũng không. Tất cả những  điều đó chỉ thực sự có được ý nghĩa và sức năng cứu  độ, khi con tim đầy tin yêu biết tự hiệu chỉnh để thu nhận  cho đúng tiếng của Thần Khí Thiên Chúa nói lên trong lặng  thinh. Mái ấm chúng ta đang đề cập tới, là "trạng  thái sung mãn bên trong," và vì vậy, đó chính là  nguồn mạch đem lại sức mạnh và hướng đi để đương đầu  chống lại những mời mọc và cám dỗ quyến rũ  vang lên inh ỏi từ những bước phát triển nông  cạn của môi trường sống chung quanh.

 

Nếu bây giờ chúng ta nối kết nhu cầu ấy lại với những  gì đã được đề cập đến trên kia, thì sẽ thấy rằng  điều được cần đến nhiều nhất chính là một "tầm ý  thức" toàn diện, một lề lối mới trong cách sống và  cảm nhận giữa thế giới và trong Giáo hội. Chúng  ta có thể biểu đạt nhu cầu ấy qua ba tiêu đề như sau:

 

 1. Ý thức sâu xa về sự kiện thuộc về:

 

 

 a. Thứ nhất, thuộc về gia đình của Thiên Chúa là  tất cả những người nam cũng như nữ đã,  bằng nhiều cách thức nhiệm mầu khác nhau, đâm rễ trong  Ngài, và sống niềm hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi.  Có thể là khó mà quan niệm hay hình dung ra được gia  đình thực sự rộng lớn ấy; nhưng đó là một gia đình có  thực, và chỉ một mình Thiên Chúa mới xác định được ranh  giới của nó.

 

b. Thứ hai, là ý thức về sự việc chúng ta thuộc  về trái đất của Thiên Chúa, sống hiệp thông với hết  thảy mọi sinh vật, với sự sống phát xuất từ Thiên  Chúa tuôn trào xuống trong tất cả chúng ta. Cần phải  cởi bỏ mọi hình thức cá nhân chủ nghĩa hẹp hòi  đang cùng với đà tân tiến hóa, du nhập vào trong  các nền văn hóa của chúng ta; cũng như cần phải  ra sức đem chiều kích vũ trụ và kitô học lồng vào  trong ý nghĩa toàn diện của sự sống, là một cấu  tố làm nên những truyền thống tốt đẹp nhất của  Châu

c. Thứ ba, cần phải nghiên cứu cho sâu hơn về sự  kiện chúng ta thuộc về gia đình bí tích của những người  tin vào Đức Kitô. Những kinh nghiệm và những  điều học hỏi được ở nơi các Cộng đoàn Kitô Cơ  bản và các nhóm hoặc phong trào tập thể khác,  có thể và phải giúp chúng ta lúc này, trong công  tác làm cho các Giáo hội của chúng ta trở thành  những trung tâm của hiệp thông, chia sẻ và  tham dự. Điều đó cũng còn bao hàm cả một cuộc  canh tân trong đời sống bí tích, tức là làm sao  để các bí tích kết hợp làm một và hội nhập tốt đẹp  hơn, các thực tại trần thế trong cuộc sống chúng ta và  tính cách làm môi giới cho mầu nhiệm tiềm ẩn mà chan  hòa trong thế giới, các tín hữu và chính cuộc lễ  mừng.

 

 2. Ý thức sống động về Thánh Linh hiện diện trong cuộc sống đức tin

 

 a.  Một mái ấm tinh thần là một "mái ấm nội  tâm hóa." Được như vậy không phải là do những  quy tắc, những lề luật bên ngoài, hoặc do cố gắng  cá nhân. Mái ấm là nơi nghỉ ngơi thoải mái, là  nơi để lấy lại sức. Điều đó đòi hỏi phải làm  sao để hệ thống giáo lý và cuộc triển phát tinh thần  ngày càng biết lưu tâm nhiều hơn đến việc đặt nền  tảng trên "thái độ niềm nở tiếp đón" Thần  Khí và trên kinh nghiệm về sức năng truyền sinh lực của  việc Ngài hiện diện trong chúng ta.

 

b. Một mái ấm vắng bóng niềm vui thì không còn phải  là mái ấm. Sách Công Vụ Tông Đồ làm chứng về niềm  vui chan chứa trong cộng đoàn các kitô hữu đầu tiên,  ngay cả giữa những cơn bách hại và hiểu lầm.  Thần Khí là Đấng ủi an, là Đấng bầu chữa,  sưởi ấm cõi lòng, là nguồn mạch đem lại sự  sống. Nhưng những chân lý ấy vẫn chỉ là những  lời lẽ nói suông, nếu chúng ta không biết dùng  đến một đà lực tinh thần mới mà kiến tạo cuộc sống  thực tế cho những năm 90.

c. Ý thức như thế về Thần Khí sẽ là cách  thức che chở tích cực hay nhất để đối phó với cơn sốt  đi tìm "những dấu kỳ điềm lạ" trong thời  cuối kỷ nguyên. Chúng ta đi tìm dấu chỉ ở bên ngoài,  vì bên trong, chúng ta thiếu hẳn chúng. Nếu có thể và  dù phải xây nhà ngay cả ở trên trăng sao  hầu tránh cho khỏi nỗi lo âu kinh hoàng của  cảnh cô thân đơn chiếc khi phải đối diện với tương  lai, thì những người vô gia cư tinh thần cũng sẽ  lập tức đồng ý, không chút ngần ngại.

 

d. Đó là lý do tại sao trong việc mục vụ của  những năm sắp tới, chúng ta cần phải dành nhiều  chỗ hơn cho công tác "đồng hành", bằng cách  cùng sống và cùng đi với người dân trong cuộc  hành trình chung, băng vượt qua nhiều hiện tượng cùng  biến cố xô đẩy làm lạc hướng, để tiến về với Thiên  Chúa. Có thể những hình thức mới của việc thực hành  "linh hướng cổ truyền" cho cá nhân cũng như cho  cộng đoàn, sẽ là một trong những cách thức  ứng đáp thích đáng cho các nhu cầu. Vấn đề linh hướng là  một vấn đề liên hệ đến các truyền thống chung của cả  bên Đông lẫn bên Tây Phương, và các truyền thống  đều đòi phải có một cuộc canh tân trong lãnh vực  đó.

 

 3. Ý thức về các giá trị kitô: một ý thức  hướng tới hành động:

 

 a. Một lòng nhân hậu lành mạnh, quảng đại  và đượm tinh thần xây dựng, đang xuất hiện và tăng  trưởng một cách tự phát từ những con tim được  uốn nắn và hun đúc trong bầu khí thân mật gần gũi  với Đức Kitô.

 

b. Một tình liên đới đại kết (giữa các Giáo hội  Kitô) và toàn vũ đối với tất cả những  ai đau khổ, những ai chịu cảnh thiếu thốn cùng cực,  những ai bằng cách này hay cách khác đang phải  bị đàn áp bất hay bị gạt ra ngoài lề cuộc sống dưới  bất cứ hình thức nào: thể lý, văn hóa, chính trị, kinh tế, tông giáo.

 

c. Một ý niệm mang tính chất "Vượt Qua" về chính  mình, về Giáo hội và về thế giới, một ý niệm có sức  đưa dẫn đến chỗ dấn thân để sống cho người khác,  để cho hơn là nhận, để tha thứ thay vì oán thù, để  yêu thương bằng một tình thương có sức chữa lành những  tâm hồn, có sức làm cho xã hội trở nên công  bằng hơn, cho dù việc dấn thân như thế có đưa thẳng đến  con đường Thập Giá.

 

Adolfo Nicolás, S.J .[1] 

 

[Phạm Văn Vượng trình dịch, HTTH SỐ 9, NĂM THỨ TƯ (1994)

 


[1] Cha Adolfo Nicolás là giáo  sư thần học tại Tokyo, Nhật Bản. Ngài đã từng  làm giám đốc Học Viện Mục Vụ Đông Á (East Asian  Pastoral Institute) tại Manila, Philippines, và đang làm  cố vấn cho một số Ủy Ban của Liên Hiệp các Hội Đồng  Giám Mục Châu Á. Hiện ngài là giám tỉnh Tỉnh Dòng  Tên Nhật Bản. Đây là văn kiện do ngài soạn thảo  để làm đề cương cho các cuộc thảo luận trong kỳ  Đại Hội nói trên, họp tại Bandung, Inđônêxia, trong các ngày  17-27 tháng 7 năm 1990, với chủ đề: " Những thách  đố thập kỷ 90 đặt ra cho Giáo Hội tại Châu Á: cần  được trả lời .”

[2] Lưu ý: Ở  đây, không mảy may chủ trương loại bỏ ra khỏi  lịch sử của Châu Á, sự có mặt và ảnh  hưởng của tội lỗi hoặc bất công, của chiến  tranh và đàn áp. Khi đặc biệt dồn chú tâm vào  di sản khôn ngoan của Châu Á, chúng tôi không  quên ý thức rõ ràng về tính chất dòn mỏng  của nó, và về sự kiện này là không bao giờ  có thể chiếm hữu khôn ngoan một lần cho tất cả, vì  khôn ngoan là một lời mời gọi. Chính ở giữa  bối cảnh yếu đuối của thân phận làm người  và của chiều hướng đánh mất Con Đường, thì ý nghĩa  vai trò chữa lành của khôn ngoan mới hiện rõ  hẳn lên.

Lên đầu trang