Con số 70 vị thánh giáo hoàng đầu tiên

5/1/2012 7:11:17 AM
Có lẽ dữ liệu ít được nghiên cứu nhất trong Giáo Hội ngày nay là số lượng không cân xứng các thánh giáo hoàng trong những năm đầu tiên của Kitô giáo trái ngược với những năm sau này.

SaintPiusX.jpg  
Thánh Giáo hoàng Pius X

Chẳng hạn, trong 100 vị Giáo hoàng đầu tiên, đã có 70 vị được phong thánh. Rõ ràng, điều đó có nghĩa là 70% các giáo hoàng từ năm 33 đến năm 827 là những vị Thánh. Thật tốt đẹp! Thật sự tốt đẹp! Hơn nữa, dữ kiện đó làm cho các giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ và giáo dân trở nên thánh thiện hơn. Nói cách khác, nó có một hiệu ứng thông chuyển từ trên xuống. Việc này giải thích lý do có vô số cuộc hoán cải và sự ảnh hưởng nơi Giáo hội Công giáo trong những năm đó.

Tuy nhiên, bạn sẽ thấy rằng con số các vị thánh giáo hoàng giảm xuống kể từ sau 100 vị giáo hoàng đầu tiên. Trong 100 vị giáo hoàng kế tiếp từ năm 827 đến 1362, chỉ có 6 vị được phong thánh. Đúng vậy! Chỉ có 6 vị! Và trong 66 vị giáo hoàng kế tiếp từ năm 1362 cho đến nay, chỉ có 2 vị thánh: Thánh Piô V (1566-1572) và Thánh Piô X (1903-1914).

Chúng ta cùng xem lại những gì được cho là lý do làm cho các Kitô hữu thuộc thiên niên kỷ đầu tiên được phong phú với những vị thánh giáo hoàng và lý do tại sao trong thiên niên kỷ thứ hai lại không.

3 việc thực hành tạo nên sự khác biệt

Điều gì lý giải sự khác biệt như vậy? Hãy xem xét một quan điểm tiên tiến trong một cuốn sách có tựa đề “5 vết thương của Giáo Hội” của Lm. Antonio Rosmini, được xuất bản năm 1832. Tôi chợt nghĩ rằng đó là những lời tiên tri sâu sắc. Dưới đây là 3 điểm ngài trình bày tóm tắt:

1. Việc đào tạo linh mục: Giám mục thường đích thân dạy các chủng sinh và đào tạo linh mục. Việc truyền chức thánh tuỳ thuộc vào sự trưởng thành tâm tinh của họ. Thật vậy, ngôi nhà của giám mục là chủng viện. Và từ ngôi nhà của ngài tạo nên một nguồn cung ứng liên tục những con người thánh thiện.

2. Những tiêu chuẩn cho chức linh mục: Sự thánh thiện, thậm chí còn được coi trọng hơn việc học thần học, là một sự suy xét tối quan trọng trong việc lựa chọn ứng viên chức linh mục. Việc đề cao nhất không phải là việc học tập như ngày nay, mà đúng hơn, đầu tiên và trên hết là sự thánh thiện. Có một sự nhất trí giữa các Giáo phụ là người truyền chức (hay giám mục), khi phong chức một người không xứng đáng làm linh mục, sẽ cùng gánh chịu những tội lỗi của người đó. Việc chọn một ứng viên xứng đáng là rất quan trọng. Đức Giáo hoàng Piô XI, trong trong thông điệp về chức linh mục, đã trích dẫn Công đồng Lateran: “Nếu không thể duy trì số lượng linh mục cần có, thà có ít linh mục còn tốt hơn là có nhiều linh mục xấu”.

Hơn nữa, sự thánh thiện được coi là nguồn chủ yếu mà qua đó người Kitô hữu nhận biết Thiên Chúa. Đó là nguồn quan trọng nhất của kiến thức. Hai ví dụ tuyệt vời về quy luật tâm linh này (mà ngày nay bị quên lãng) có thể được tìm thấy vào thập niên 1800. Thánh Gioan Vianney, một linh mục kém thông minh đã phải cố gắng để vượt qua việc đào tạo trong chủng viện, nhưng hiện nay ngài lại trở thành Thánh Bổn mạng của các linh mục. Và vị Tiến sĩ Hội Thánh được tuyên bố gần nhất, Thánh Têrêsa Bông Hoa Nhỏ (Hài Đồng), người chưa bao giờ được đào tạo thần học một cách bài bản, lại là người truyền cảm hứng cho biết bao người về những hiểu biết tâm linh và thần học sâu sắc của ngài.

3. Nguồn nghiên cứu chính: Trong các thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội, Thánh Kinh là cuốn sách gối đầu giường! Đó là trọng tâm. Thật vậy, trong một thời gian dài, Lời Chúa là linh hồn của việc đào tạo giáo sĩ. Theo lời một đan sĩ Dòng Biển Đức: “Trước hết, Lời Chúa soi dẫn tôi, đánh động tôi, thách thức tôi, gây thương tích cho tôi và xét đoán tôi, nhưng cũng chữa lành và giải thoát cho tôi”.

Các Giáo phụ của Giáo Hội đã ý thức thực trạng rằng Giáo hội Công giáo là một sự tiếp nối của Giáo Hội thời Cựu Ước. Những lĩnh vực trí tuệ khác trợ giúp cho việc hiểu biết Kinh Thánh, nhưng tầm quan trọng chắc chắn vẫn dựa trên Lời Chúa, cả trong Cựu Ước và Tân Ước. Như vậy, các sách Tin Mừng và chính Giáo Hội được hiểu rõ hơn khi Cựu Ước được xem như gia phả riêng của chúng ta.

Việc nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Thánh Kinh như là công cụ chính của việc học tập sẽ tạo nên một định hướng hướng tới sự cứu rỗi các linh hồn như là mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của việc giảng dạy. Việc giáo dục nói chung và việc học hỏi đặc biệt về thần học là phương tiện để đạt được mục tiêu. Tất cả việc học tập, đào tạo và mọi nỗ lực cuối cùng đều nhằm đạt được mục tiêu này: để thánh hoá các linh hồn!

Kết luận

3 lưu ý trên đây đã chứng tỏ rằng chúng không đóng một vai trò nhỏ trong việc hình thành nên những vị giáo hoàng tuyệt vời; để nhờ đó, các ngài đã có một tầm ảnh hưởng sâu sắc cho toàn Giáo Hội. Hãy xem minh hoạ sau đây:

Nếu linh mục là một vị Thánh, giáo xứ của ngài sẽ thánh thiện.
Nếu linh mục thánh thiện, giáo xứ của ngài sẽ tốt lành.
Nếu linh mục tốt lành, giáo xứ của ngài sẽ tử tế.
Nếu linh mục tử tế, giáo xứ của ngài sẽ vô tín ngưỡng.


Nếu điều này đúng đối với một linh mục và giáo xứ của ngài, hãy tưởng tượng những gì một vị thánh giáo hoàng và giám mục có thể làm cho Giáo Hội! Trên thực tế, chúng ta biết những gì đã được thể hiện trong thiên niên kỷ đầu tiên của Kitô giáo. Kết quả thật ấn tượng. Nhưng trước khi Giáo Hội có thể được hưởng nhờ từ những con người thánh thiện này, thì đó phải là những người thánh thiện. Và trong thiên niên kỷ đầu tiên đó, đã có những nguyên tắc tâm linh và những việc thực hành mục vụ dẫn đến việc có 70 vị trong 100 vị giáo hoàng đầu tiên được phong thánh. Đây là điều mà con số 70 vị thánh giáo hoàng có thể nói với bạn!


Joe Tremblay
Mai Trang
chuyển ngữ

Lên đầu trang