Chúa Lên Trời

5/5/2013 7:47:20 PM
Mc 16, 15-20; Cv 1,1-11; Ep 1, 17-23

Bài đọc sách Tông Đồ Công Vụ mà chúng ta vừa nghe kể lại rất chi tiết việc Chúa lên trời với sự chứng kiến của hàng ngàn người. Sự kiện này làm chúng ta liên tưởng đến chuyện khoa học không gian. Rõ hơn, chuyện Liên Xô và Mỹ phóng phi thuyền vào vũ trụ. Từ năm 1957 đến nay, hai nước thi nhau phóng phi thuyền. Lúc đầu không có người đi theo. Nhưng tính đến bây giờ thì không biết bao nhiêu phi thuyền có người lái đã được phóng đi. Và mỗi lần phóng phi thuyền, thiên hạ đều đổ dồn đến xem.

Con người cảm thấy tự hào với thành quả này vì việc phóng phi thuyền vào không gian để khám phá vũ trụ nói lên được khả năng “vượt bực“ của con người. Nhưng thật ra, chuyện khám phá này càng cho thấy kiến thức nhỏ bé của con người trước vũ trụ bao la. Những hiểu biết con người khám phá được, nghĩa là đã có sẵn rồi, còn quá ít ỏi. Không biết phải mất thêm bao nhiêu ngàn năm con người mới khám phá hết những hành tinh, thái dương hệ ở gần mình.


Còn chuyện Chúa lên trời lại mang một ý nghĩa siêu việt, nói lên quyền năng vô biên của Thiên Chúa. Chúa Giêsu xuống trần gian để cứu chuộc nhân loại, không cần phải dùng phi thuyền nào cả. Và Ngài về lại “Trời“ cũng chẳng cần hỏa tiển nào đưa đi. Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng. Sự khôn ngoan của con người, dù có “vượt bực“ đến đâu, cũng chỉ phản ảnh một phần nào sự khôn ngoan siêu việt của Thiên Chúa. Và sự kiện Chúa lên trời không chỉ nói lên quyền năng vô biên thật sự của Thiên Chúa, nhưng còn biểu lộ tình yêu bao la Ngài dành cho con người nữa. Đó chính là sứ điệp lớn nhất mà Thiên Chúa muốn nói với nhân loại: sứ điệp yêu thương. Sứ điệp này đã được Ngài gởi gấm cho các môn đệ trong khi Ngài còn sống, và đặc biệt trước khi giã từ các ông: “Các con hãy làm chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem và cho đến tận cùng trái đất”. Làm chứng nhân điều gì nếu không phải là chứng nhân của tình yêu. Vì thế, sự kiện Chúa lên trời nói lên ba khía cạnh của tình yêu Thiên Chúa dành cho con người.


Trước hết: Chúa Giêsu đã hoàn tất sứ mạng cứu chuộc nhân loại mà Thiên Chúa Cha giao phó vì yêu thương con người. Ngài đã xuống thế làm người, giảng dạy, chịu nạn và sống lại để hoàn tất công cuộc cứu chuộc. Sau đó, Ngài tiếp tục hiện ra với các tông đồ và một số giáo dân để trấn an và dặn dò những điều cần thiết. Và cuối cùng, Ngài lên trời.

Điểm thứ hai: Chúa Giêsu trao lại cho các Tông Đồ sứ mạng của Ngài. Ngài truyền lệnh cho các ông: “Chúng con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Ai tin thì sẽ được cứu độ, ai không tin thì sẽ bị luận phạt”. Nói cách khác, Ngài giao cho các Tông Đồ và những ai tin theo Ngài nhiệm vụ làm chứng nhân, để tiếp tục mang tình yêu và ơn cứu chuộc của Thiên Chúa đến với mọi người. Phúc Âm kể lại, trong khi các ông còn bỡ ngỡ nhìn trời, thiên thần của Chúa xuất hiện và bảo các ông hãy trở về với cuộc sống thường ngày để làm chứng nhân cho Chúa.


Điểm thứ ba: hy vọng vào cuộc sống hạnh phúc với Chúa. Lời thiên thần: “Đức Giêsu cũng sẽ ngự đến như các ông đã thấy Người lên trời“ muốn nhắc nhở với các ông rằng một ngày nào đó các ông cũng sẽ được lên trời như Ngài vì Ngài đã hứa: “Ta ở đâu thì những kẻ tin Ta cũng sẽ ở đó“ và “Thầy đi để dọn chỗ cho các con“. Đây cũng là một lời hứa thương yêu. Ngài muốn tất cả những ai người tin vào Ngài, làm chứng nhân cho Ngài ở trần thế, đều được hưởng cuộc sống hạnh phúc muôn đời với Ngài.

Sự kiện này nói lên niềm vui mừng và hy vọng của người Kitô Hữu. Mà không hy vọng, không vui sao được khi biết chắc mình đã được Chúa hứa một chỗ trên Nước Trời. Và niềm vui mừng và hy vọng này chính là động lực giúp chúng ta sẵn sàng chấp nhận cũng như đứng vững trước mọi gian lao, thử thách, vì biết chắc rằng sau cuộc sống trần thế này, chúng ta sẽ được chung sống hạnh phúc muôn đời với Chúa.

Cha Thánh Maximilie Kolbe là một mẫu gương sống niềm vui và hy vọng này. Cuộc thế chiến thứ hai bắt đầu bằng việc quân Đức tràn chiếm Ba-lan, quê hương của Ngài. Để bảo đảm an toàn cho anh em, Ngài khuyên họ rời nhà dòng trở về với gia đình. Tuy nhiên, vẫn còn một số anh em xin ở lại với Ngài. Tối hôm đó, Ngài thân tình bộc lộ với những anh em còn lại: “Đức Mẹ nói cho Cha biết là Cha được cứu rỗi“. Và những người chứng kiến kể lại, lúc ấy, khuôn mặt Ngài sáng láng lạ thường. Ngài đã cảm động rơi lệ khi thốt lên những lời ấy.

Thánh Maximilia Kolbe đã vui mừng đến rơi lệ vì nghe được lời Đức Mẹ báo cho biết sẽ được cứu rỗi. Và niềm vui này đã giúp Ngài can đảm chấp nhận mọi thử thách, hy sinh, kể cả việc chấp nhận chết thay cho người bạn trong tù. Đó cũng phải là tâm tình của mỗi người chúng ta, vì Chúa Giêsu đã hứa Nước Trời cho những ai tin theo Ngài: “Ai tin thì sẽ được cứu rỗi”. Hơn ai hết, cuộc sống của chúng ta phải là cuộc sống của những người đầy hy vọng và tràn trào niềm vui, nhất là khi gặp thử thách, để những người chung quanh nhận ra sự hiện diện và tình yêu của Thiên Chúa qua chúng ta. Và đó cũng là cách làm chứng nhân cho Chúa.

Hôm nay, Lễ Chúa Lên Trời, chúng ta hợp ý cũng toàn thể Giáo Hội xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết hướng về trời trong niềm vui mừng và hy vọng, cùng với tâm tình tạ ơn, vì Thiên Chúa đã yêu thương con người, yêu thương tất cả chúng ta một cách lạ lùng. Và chúng ta cũng cầu xin Chúa ban cho chúng ta biết đáp trả tình yêu của Ngài bằng chính cuộc sống chứng nhân của chúng ta, ngay trong những công việc bổn phận thường ngày, với những người anh em đang sống kề cận chung quanh. Amen. 

 

ĐHY F.X Nguyễn Văn Thuận

Thứ năm 08-05-1991

 

Đạo đức

Bài huấn đức tối 08-05-1991

 

Trước đây chúng ta đã cùng nhau nói chuyện về tình hình thế giới, trong đó, mỗi người chúng ta đều có trách nhiệm làm cho môi trường sống được tốt đẹp hơn. Chúng ta cũng đã suy nghĩ về cách thức để đối phó với thế giới tiêu thụ, thế giới tục hóa đang làm băng hoại thế giới. Và sống tinh thần Phúc Âm chính là phương cách tốt nhất để tiếp tục sứ mạng mở mang Nước Chúa trong thế giới ngày nay. Lần trước, Cha đã nhắc đến mục sư Newman. Ông đã đề cập đến 3 lý do của cuộc khủng hoảng trong Giáo Hội thời đại này, trong đó có lý do bỏ quên khoa học Thánh Giá của Chúa Giêsu. Thánh Phaolô nói: “Đối với người Do thái, Thánh Giá là một sự điên dại, người Hy lạp xem đó là một vấp phạm... còn với chúng ta Thánh Giá là một vinh dự”.

Thánh Giá là một hình khổ đê nhục nhất đối với người Do Thái, vì chỉ có kẻ nô lệ mới bị đóng đanh, còn người dân thường khi bị trừng phạt thì chỉ bị ném đá. Nhưng đối với người Công Giáo, Thánh Giá là biểu tượng của tình yêu và vinh quang, vì Chúa Giêsu đã dùng Thánh Giá để chiến thắng tội lỗi và sự chết, mang lại ơn cứu độ cho con người. Vì thế, những người bắt đạo thường ép buộc người Công Giáo bước qua Thánh Giá, như là một hình thức chối bỏ đạo. Hơn nữa, khi chấp nhận Thánh Giá, người Công Giáo đồng thời cũng chấp nhận sống Tin Mừng của Chúa, khác với tinh thần của thế gian.


Chúng con chắc đã nghe đến chuyện Đức Hồng Y Joseph Mindszenty người Hungary khi Cộng Sản chiếm nước này sau thời Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc vào năm 1945. Ngài bị chính quyền kết án tử hình vì tội phản quốc, nhưng sau đó được giảm xuống thành án chung thân vì áp lực của dân chúng. Ngài qua đời năm 1973 khi bị lưu đày tại ranh giới của nước Áo. Đức Hồng Y Mindszenty đã âm thầm vác Thánh Giá của Chúa trong suốt 28 năm. Nhiều người cho rằng Ngài dại dột vì dám một mình chống lại những chuyện ngược đãi, bất công đối với Giáo Hội từ phía nhà nước. Nhưng rất nhiều người Công Giáo Hungary đã hãnh diện về sự can đảm của Ngài... Và mới đây, Thiên Chúa đã tôn vinh người tôi trung này bằng việc chính quyền Hungary chấp nhận đưa xác Ngài về lại thủ đô Budapest như một vị anh hùng. Khi nhận lại thi hài của Ngài tại biên giới Hung-Áo, ông Bộ Trưởng Hungary phát biểu: “Tôi nhận thấy rằng Đức Hồng Y là một công dân tốt và rất có công... tôi khẳng định các biên bản trước đây về Ngài đều sai sự thật”. Thi hài của Ngài được chôn ngay trong nhà thờ Chánh Tòa ở thủ đô Budapest, và nhà nước lấy tên của Ngài để đặt tên cho quảng trường ở đó: Quảng Trường Đức Hồng Y Mindszenty.

 Con đường Thánh Giá khác với con đường của thế gian. Chúa Giêsu đã nhiều lần nhắc đến sự khác biệt này: “Luật dạy rằng: mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Thầy bảo: đừng chống cự người ác... Luật dạy: hãy yêu đồng loại và ghét kẻ thù. Còn Thầy bảo: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi mình...“Và Phúc Âm kể lại khi Chúa và các Tông Đồ đi ngang qua một vùng của dân Samaria và bị họ ném đá xua đuổi, ông Gioan với tinh thần thế tục, đã xin phép Chúa để cầu xin lửa từ trời xuống thiêu đốt những người ngoại này. Rồi khi Phêrô được Chúa báo cho biết Ngài sẽ đi lên Giêrusalem và chịu nhiều đau khổ, ông cương quyết can ngăn Ngài và Chúa đã trả lời ông: “Satan... Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người“ (Mt 16, 21-23). Cũng với tinh thần thế gian muốn dùng sức mạnh, Phêrô đã dùng gươm chém đứt tai tên đầy tớ của vị thượng tế trong vườn Cây Dầu. Rồi sau đó, cũng với tinh thần thế gian sợ bị liên lụy, Phêrô đã liên tiếp chối bỏ sự liên hệ Thầy-trò với Chúa, khi bị tra hỏi trong dinh vị thượng tế, ngay cả khi đứng trước mặt một người tỳ nữ. Và cuối cùng, trong lần Chúa hiện ra để về trời, cũng với tinh thần thế gian, tất cả các Tông Đồ vẫn còn mơ ước chuyện Chúa khôi phục lại nước Israel (Cv 1, 6-7).       


Tuy nhiên, sau biến cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, các Tồng Đồ đã bỏ được tinh thần thế gian để hoàn toàn sống cho tinh thần Phúc Âm, sẵn sàng chấp nhận Thánh Giá, chấp nhận gian lao, thử thách vì Chúa, vì Giáo Hội.

Tinh thần thế gian vẫn luôn là một cám dỗ cho mỗi người chúng ta. Chúng ta chỉ có thể vượt qua được tinh thần thế tục này bằng lối sống của Tin Mừng mà Chúa Giêsu đã truyền dạy và đã sống. Và với tinh thần của Tin Mừng, không một khó khăn thử thách nào có thể làm cho chúng ta nao núng, như gương của các Tông Đồ, của các Thánh Tử Đạo, và của Đức Hồng Y Mindszenty mà chúng ta vừa nghe. Kẻ đứng mới sợ ngã, người nằm còn sợ ngã gì nữa. Cha biết một người ở Giang Xá rất ngỗ nghịch, chửi mắng cả cán bộ... Cha hỏi: “Ông làm thế mà không sợ cán bộ sao?“ Ông đáp: “Thưa Cha, con trọc đầu nên con chẳng sợ gì“. Ông áp dụng câu nói “Chụp thằng có tóc, chứ ai lại chụp kẻ trọc đầu“ để nói rằng ông nghèo lắm, nhà cửa chẳng có gì đáng giá, nên chẳng có gì làm ông phải sợ mất mát, thua thiệt. Cũng thế, một khi không còn dính bén với thế gian, yêu mến  khoa học Thánh Giá, người theo Chúa sẽ hoàn toàn dấn thân, chấp nhận tất cả những thua thiệt vì Nước Trời.


Nhưng làm thế nào để gạt bỏ tinh thần thế tục ra khỏi mình? Quyết tâm sống Tin Mừng. Chắc chắn đó không phải là chuyện dễ dàng. Phải tập luyện hằng ngày để có thể trở nên hoàn thiện. Ơn Chúa sẽ bù đắp những thiện chí và thiếu sót của chúng ta. Câu trả lời của Mạnh Tử ngày xưa khiến cho chúng ta phải suy nghĩ. Có người hỏi: “Thưa Thầy, chị dâu chết đuối làm sao mà cứu? Mạnh Tử trả lời: “Chị dâu chết đuối, lấy cái sào mà cứu“. Người ấy hỏi tiếp: “Thưa Thầy, nếu thiên hạ chết đuối, lấy gì để cứu“. Mạnh Tử trả lời: “Thiên hạ chết đuối, lấy đạo mà cứu”. Đúng vậy, phải có đạo đức mới cứu được thế giới. Người linh mục, trước hết phải là người đạo đức.


Sống trong thời đại ngày nay, chúng ta lại cần phải đạo đức hơn. Nhưng thế nào là đạo đức? Không phải đọc kinh, cầu nguyện dông dài là đạo đức. Không phải chỉ biết ru rú trong nhà thờ là đạo đức. Đạo đức chính là sống kết hiệp với Chúa, để cách suy nghĩ, lời nói và hành động của mình phù hợp với ý của Chúa. Chính Thiên Chúa hoạt động qua chúng ta và trong chúng ta. Và như vậy, không phải chúng ta giảng, nhưng chính Chúa giảng. Không phải chúng ta ban Bí Tích, nhưng chính Chúa ban... Chúng ta thật sự trở thành khí cụ Chúa dùng. Và khí cụ càng tốt, hiệu quả của công việc càng tốt đẹp hơn. Cũng như xe tốt thì giúp việc đi lại nhanh hơn và thuận tiện hơn.

Điều thứ hai là cần phải có khả năng. Thời đại càng văn minh, càng đòi hỏi linh mục có nhiều khả năng. Nhiều khả năng không có nghĩa là phải biết hết mọi sự, nhưng phải biết cập nhật hóa những vấn đề của thời đại để phục vụ tốt và hữu hiệu hơn. Trình độ của người giáo dân ngày nay đã tiến xa. Hơn nữa, phương tiện truyền thông càng giúp họ nắm vững những vấn đề thời sự. Nếu linh mục không chịu tìm tòi học hỏi thêm, lời giảng dạy và khuyên bảo của mình sẽ làm cho giáo dân ngủ gục hết.


Không tiến tức là lùi. Giáo Hội ngày nay cần những linh mục luôn tiến tới trong đạo đức và khả năng để thánh hóa mình và thánh hóa người khác nữa.

Lên đầu trang