BAN MÊ THUỘT

Giáo phận Ban Mê Thuột 

(tiếng LatinDioecesis Banmethuotensis)

Giáo phận Ban Mê Thuột
Dioecesis Banmethuotensis
Vị trí
Địa giớiĐắk LắkĐắk Nông và phần lớn Bình Phước (Việt Nam)
Giáo tỉnhGiáo tỉnh Huế
Thống kê
Dân số
- Địa bàn
- Giáo dân

2.955.911 (2017)
440.942 (2017)
Giáo xứ1076 (2017)
Thông tin
Nhà thờ chính tòaThánh Tâm Chúa Giêsu
Linh mục đoàn185 (2017)
Linh mục triều134 (2017)
Linh mục dòng51 (2017_
Lãnh đạo giáo phận hiện tại
Giám mụcVinh Sơn Nguyễn Văn Bản
Tổng Đại diệnStêphanô Nguyễn Văn Đậu
Chưởng ấnPhanxicô Xavier Nguyễn Kim Long
Trang mạng
http://gpbanmethuot.vn/

I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ ĐIẠ LÝ

Trở về thời xa xưa, vùng đất thuộc Giáo phận Banmêthuột ngày nay là nơi định cư của ba sắc tộc chính: Dân tộc Êđê ở vùng Đăklăk, dân tộc M’Nông ở Quảng Đức (Đăk Nông) và vùng Phước Long có dân tộc S’ Tiêng. Cả ba sắc tộc đều có thổ ngữ riêng. Họ thờ rất nhiều Thần linh, gọi chung là “Yang”.

Trước thời Pháp thuộc, triều đình Việt Nam không mấy quan tâm đến vùng đất cao nguyên này nên ở đây chưa có cơ cấu hành chánh. Năm 1893, người Pháp lên chiếm đất ở vùng Đăklăk và đã xảy ra những cuộc xung đột đẫm máu với các bộ tộc Êđê. Đến năm 1923, Người Pháp đặt tỉnh Đaklăk dưới quyền cai trị của Công sứ Sabatier. Vào thời này, người Kinh không được phép đi lại và cư trú tại đây.

Năm 1910, một chuyên viên khảo sát người Pháp là Henri Maitre và đội quân viễn chinh Pháp đã đặt chân đến vùng Tây Nam cao nguyên (Quảng Đức, ĐăkNông). Họ thẳng tay đàn áp những bộ tộc người M’Nông không hàng phục. Năm 1932, người Pháp đặt cơ sở hành chánh tại ĐakMil, đến năm 1950 thì chuyển qua ĐakSong và năm 1952 thì ĐăkSong trở thành Quận của tỉnh Đăklak. Năm 1959, quận ĐăkSong được tách khỏi tỉnh Đaklăk để trở thành phần đất chính của tỉnh Quảng Đức (vùng ĐăkNông hiện nay).

Còn đất Phước Long, vào thế kỷ 17 thời Chúa Nguyễn Phúc Chu là huyện Phước Long, có Dinh trấn biên để bảo vệ địa đầu biên giới. Vùng đất này có đồng bào S’Tiêng sinh sống. Năm 1929, người Pháp mở quốc lộ 14 ngang qua đây để bình định các buôn làng. Năm 1957, quận Sông Bé được tách khỏi tỉnh Biên hòa và quận Bố Đức (Bù Đốp) tách ra khỏi tỉnh Thủ Dầu Một để lập thành tỉnh Phước Long. Ngày nay, Phước Long thuộc tỉnh Bình Phước.

Giáo Phận Banmêthuột nằm trong địa giới hành chính của ba tỉnh Đăklăk, Quảng Đức và Phước Long (trước 1975). Còn bây giờ là Đăklăk, ĐăkNông và một phần của tỉnh Bình Phước.

II . LƯỢC SỬ GIÁO PHẬN

A. SỰ HÌNH THÀNH GIÁO PHẬN

Thành lập Giáo họ Banmêthuột: 15.8.1934

Ngày 29.01.1934, Đức Cha Jannin Phước, Giám mục Kontum dẫn một phái đoàn đến Banmêthuột để nghiên cứu tình hình và chọn địa điểm cho một cơ sở Công giáo tương lai. Khu đất được chọn để thành lập Giáo họ là một khu rừng thuộc đất quy hoạch, được Công sứ Pháp là Desteney nhường cho Địa phận Kontum. Nhưng giấy tờ chưa được ký thì viên Công sứ Pháp này phải chuyển đi làm Công sứ tỉnh Thừa Thiên...

Sau đó Đức Cha Jannin nhờ Thầy Hiền, một Thầy giảng già có gia đình (nay gọi là Giáo phu) thuộc Họ đạo Mang Yang đi giúp lập Họ đạo Banmêthuột. Thầy đến nhiệm sở ngày 15.5.1934. Thầy và bổn đạo Banmêthuột cùng đồng tâm nhất trí để cất Nhà nguyện Giáo họ.

Nhưng... “Vạn sự khởi đầu nan!”, vì đất đai chưa có giấy tờ nên phải hoãn lại việc xây dựng do thông cáo số 187-CA ngày 15.3.1934 của Tòa Khâm sứ Trung kỳ (Pháp) tại Huế, đình chỉ tất cả việc cấp đất thành phố cho bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào và phải đợi chỉ thị mới của Phủ Toàn Quyền Đông Dương...!

Đức Cha Jannin lại đưa Thầy Hiền qua Banmêthuột để tiếp xúc với đồng bào Êđê, học tiếng và dạy đạo cho họ. Nhưng công việc lại bị cản trở vì thông cáo số 3614 ngày 15.11.1930 của tòa Khâm sứ Trung kỳ cấm truyền đạo cho người Thượng trong tỉnh Đaklăk cho đến khi có chỉ thị mới!

Tuy có lệnh cấm cấp đất thành phố, nhưng bổn đạo Banmêthuột cứ nôn nóng làm Nhà nguyện trên khu đất đã nhường cho Địa phận Kontum mặc dù chưa có giấy tờ chính thức... Và ngày 15.8.1934, một Nhà nguyện mái tranh vách đất đã được dựng lên. (Sau này các Nữ tử Bác Ái Vinh Sơn đã xây một Nhà nguyện mới trên nền Nhà nguyện tiên khởi này. Hiện nay nó thuộc phạm vi của Trường Trung học cơ sở Phan Chu Trinh).

Nhà nguyện Họ đạo Banmêthuột tuy được xây cất bất hợp pháp, nhưng Công sứ tỉnh Đăklăk là ông Henri Gerbinis và ông Trương Kỳ, quan An nam đầu tỉnh đã nhắm mắt làm ngơ, vì cả hai ông đều là người Công giáo. Trong khi đó Đức Cha Jannin vẫn tất bật ngược xuôi để lo liệu giấy tờ hợp pháp cho thửa đất đó. Và sau hơn bốn năm trời thơ đi thơ lại, cuối cùng Tòa Khâm sứ Trung kỳ mới chấp thuận giải quyết cho Đức Cha được mua khu đất trên với giá 2 xu (0,02 đồng) một mét vuông. Quyết định cấp đất này do ông Graffeuil, Khâm sứ Trung kỳ ký, số 195/942, ngày 29.11.1938. Và Tòa Giám mục Kontum đã trả 201 đồng để mua 10.050m2 đất, ngày 16.12.1938. Như vậy không phải là “Đối với Chánh phủ bảo hộ do các quan Tây cầm đầu, mấy ông cố Tây xin gì mà không được”! như một số đồng bào khác đạo thời ấy suy nghĩ.

Thành lập Giáo xứ Banmêthuột: 30.3.1937

Trong thời gian ngôi Nhà nguyện cất lên bất hợp pháp trên khu đất chưa có giấy phép, tình cảnh rất bấp bênh vì nó có thể bị triệt hạ bất cứ lúc nào, thì Đức Cha Jannin Giám mục Địa phận Kontum lúc ấy vẫn tin tưởng, Ngài viết thư cho Công sứ Đăklăk biết quyết định của Tòa Giám mục Kontum về việc nâng Giáo họ Banmêthuột lên hàng Giáo xứ và việc bổ nhiệm một linh mục “Annam”: Cha Phêrô Nguyễn Đức Cẩn làm Cha sở. Ngài còn viết thư cho ông Lê Đức Cầu, câu họ Banmêthuột, để chuẩn bị đón tiếp Cha sở mới.

Ngày 30.3.1937, Đức Cha Jannin Phước, Giám mục Địa phận Kontum, tuyên bố nâng Giáo họ Banmêthuột lên hàng Giáo xứ và chủ tọa lễ tựu chức của Cha sở tiên khởi Phêrô Nguyễn Đắc Cẩn.

Nhà xứ được Đức Cha chỉ dẫn làm theo kiểu nhà sàn dân tộc, và nó đã tồn tại suốt từ năm 1937 đến tháng 8 năm1994 thì được tháo dỡ để xây cất trường học mới.

Về phần Cha Cẩn, sau vài tháng phục vụ, do không hợp thủy thổ, Ngài bị bệnh sốt rét và thương hàn. Ngày 12.01.1938, Cha trở về Tòa Giám mục để chữa bệnh. (Ngài mất năm 1982 sau 60 năm làm linh mục). Trong thời gian này, Giáo xứ Banmêthuột không có linh mục suốt 4 năm rưỡi vì thời cuộc lúc ấy và cũng vì Đức Cha Jannin Phước qua đời (ngày 14.7.1940 tại Kontum, hưởng thọ 73 tuổi với 42 năm linh mục và 7 năm Giám mục).

Gần hai năm sau, ngày 22.4.1942, Tòa Thánh mới bổ nhiệm Đức Cha Sion Khâm làm Giám mục Kontum. Ngài nhậm chức tháng 5.1942 và hai tháng sau Giáo xứ Banmêthuột có Cha sở mới: Đó là Cha Romeuf Phương, Ngài được bổ nhiệm ngày 26.7.1942.

Số Giáo dân tại Banmêthuột tăng lên hằng năm

Năm 1934: - 50 người Kinh - 28 ngoại kiều

Năm 1942: - khoảng 100 đến 180 người Kinh - 150 đến 200 ngoại kiều (kể cả công chức, quân nhân và thường dân)

Năm 1945: - Quân Nhật cướp chính quyền, giáo dân người Kinh đi di tản. Trong khi đó người Ngoại kiều (trong đó có các tín hữu) bị quản thúc ở Nha Trang.

Năm 1946: - Cha Romeuf từ Nha Trang về lại BMT, chỉ còn thấy có 8 giáo hữu Kinh. - Lính viễn chinh bắt đầu lên đóng quân.

Năm 1950: - 150 người trở về Banmêthuột. - 20 giáo dân trở về đồn điền.

Năm 1953: - thêm 500 giáo dân mới và 100 giáo dân trở về định cư. - Ngoại kiều trở về đông hơn.

Năm 1954: - Đồng bào Bắc Việt di cư bắt đầu tới.

Có một điều may mắn là: trong những năm chiến tranh sôi động (1945-1946), Nhà thờ và nhà xứ BMT vẫn còn nguyên vẹn, không bị đốt phá như các nhà trên các khu phố.

Số giáo dân tại Banmêthuột thời ấy tăng nhanh do hai yếu tố: Chế độ “Hoàng triều cương thổ” và làn sóng di cư của đồng bào Bắc Việt vào Nam.

Chế độ “Hoàng triều cương thổ”: Đầu năm 1946, quân đội viễn chinh Pháp trở lại Việt Nam. Năm 1948, Vua Bảo Đại về nước, ông thường qua Pháp để bàn việc quốc sự nhưng khi về Việt Nam thì hay ở Banmêthuột hơn là kinh đô Huế. Cho nên Cao nguyên Trung phần, đặc biệt là Đăklăk được chọn làm “Đất của Hoàng đế” hay “Hoàng triều cương thổ”. Banmêthuột do đó tăng triển nhanh về nhiều mặt, công chức và quân đội được đưa lên cùng với gia đình, sau đó kéo theo cả họ hàng đến định cư.

“Đồng bào Bắc Việt di cư”: Sau Hiệp đinh Genève 21.7.1954, tỉnh Đăklăk có thêm rất nhiều đồng bào Miền Bắc di cư vào mà đa số là giáo dân. Từ năm 1955, các trại định cư được thành lập như Kim Châu, Kim Phát, Giang Sơn, Đức Minh, Cung Kiệm, Hà Lan, Thọ Thành, Chi Lăng, Châu Sơn, Hưng Đạo, Trung Hòa, Gia Nghĩa,... Trong vòng hai năm số tín hữu từ 700-800 tăng lên 20.000. Các trại đinh cư đều có linh mục coi sóc.

Một yếu tố khác nữa làm tăng số giáo dân ở Đăklăk là “Quốc sách Dinh Điền” thời chế độ Ngô Đình Diệm: di dân lập ấp tân sinh (năm 1957). Các địa điểm Quảng Nhiêu, Đạt Lý, Đạo Tế, Khuê Ngọc Điền, Từ Cung, Đạt Hiếu, Quảng Trạch cũng đã làm tăng thêm khoảng 700-800 người (đạo dòng). Hai năm sau, số tân tòng lên đến 3.000 người.

Tính đến năm 1960, số giáo dân trong tỉnh Đăklăk đã lên đến 25.000 người. Các trại định cư và dinh điền hàng năm đều có thêm người đến lập nghiệp.

Nguồn : GP Ban Mê Thuột

Lên đầu trang